<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Thái Bình An, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/author/an-nguyen/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/an-nguyen/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 13 Apr 2026 05:39:16 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Nguyễn Thái Bình An, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/an-nguyen/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 13 Apr 2026 05:39:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3043</guid>

					<description><![CDATA[<p>Giáo dục đại học tại Úc vốn là niềm tự hào của quốc gia, nhưng giờ đây nó không còn là lĩnh vực duy nhất phải nếm trải nỗi cay đắng từ cuộc khủng hoảng niềm tin đang lan rộng. Một thực trạng đáng báo động đang hiện hữu: người dân xứ sở chuột túi [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/">Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Giáo dục đại học tại Úc vốn là niềm tự hào của quốc gia, nhưng giờ đây nó không còn là lĩnh vực duy nhất phải nếm trải nỗi cay đắng từ cuộc khủng hoảng niềm tin đang lan rộng. Một thực trạng đáng báo động đang hiện hữu: người dân xứ sở chuột túi đang dần quay lưng với các giảng đường, và cái sự nhạt tình này lại diễn ra mạnh mẽ nhất ở nhóm những người chưa từng cầm trên tay tấm bằng cử nhân.</p>



<figure class="wp-block-image size-full"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="958" height="690" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17.png" alt="" class="wp-image-3044" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17.png 958w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17-300x216.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17-768x553.png 768w" sizes="(max-width: 958px) 100vw, 958px" /></figure>



<p>Sự rạn nứt này không diễn ra trong ngày một ngày hai mà là kết quả của một quá trình tụt dốc kéo dài. Theo những con số biết nói từ cuộc khảo sát ANUPoll, nếu như trước khi đại dịch COVID-19 ập đến, có tới gần 80% người dân vẫn dành trọn niềm tin cho các trường đại học, thì đến cuối năm 2025, con số này đã rơi tự do xuống chỉ còn khoảng 62%. Tuy nhiên, nếu nhìn sang các trụ cột khác của xã hội, chúng ta mới thấy giáo dục đại học thực tế vẫn còn&#8230; khá khẩm. Bởi lẽ, niềm tin vào các trường phổ thông cũng đã sụt giảm nghiêm trọng, trong khi sự tín nhiệm dành cho chính phủ liên bang thậm chí còn thê thảm hơn khi hiếm khi vượt qua được ngưỡng 40%. Rõ ràng, sự disenchantment (sự vỡ mộng) này là một căn bệnh chung của cả hệ thống thiết chế công tại Úc.</p>



<p>Nguyên nhân dẫn đến cái nhìn khắt khe của công chúng bắt nguồn từ hàng loạt lùm xùm bủa vây các ngôi trường danh tiếng. Từ những hoài nghi về tính minh bạch trong quản trị, các thỏa thuận thương mại đầy mùi tiền, cho đến những báo cáo gây sốc về tình trạng lạm dụng và phân biệt đối xử ngay trong khuôn viên trường học. Đáng nói hơn, những vấn đề này đôi khi còn bị giới chính trị gia thổi phồng nhằm hướng mũi dùi dư luận đi nơi khác, biến đại học thành bia đỡ đạn cho những yếu kém của chính hệ thống chính trị. Dù thực tế cho thấy môi trường học thuật vẫn là nơi ít xảy ra tệ nạn hơn so với xã hội bên ngoài, nhưng dưới sức ép của truyền thông và những narratives (kịch bản) được dàn dựng sẵn, hình ảnh về một tháp ngà thanh cao đã bị hoen ố đáng kể.</p>



<p>Một điểm mấu chốt khác làm trầm trọng thêm hố sâu ngăn cách này chính là sự phân hóa dựa trên trình độ học vấn. Trình độ học vấn giờ đây đã trở thành thước đo chính yếu để dự báo quan điểm của một cá nhân đối với các thiết chế xã hội. Những người đã từng trải qua đời sinh viên với những kỷ niệm đẹp thường có xu hướng bảo vệ nhà trường trước các cáo buộc về nhồi sọ hay lý thuyết suông. Ngược lại, những người không có bằng cấp lại ngày càng cảm thấy xa lạ và hoài nghi về giá trị thực sự của đại học. Thậm chí, ngay cả với những người khao khát cái chữ, cửa vào đại học cũng đang hẹp lại một cách tàn nhẫn khi chi phí và rào cản kinh tế khiến phần lớn sinh viên nghèo cảm thấy bị bỏ lại phía sau, bất chấp những lời hứa hẹn hoa mỹ về sự công bằng.</p>



<p>Cuối cùng, tư duy thực dụng đã hoàn toàn lấn lướt những mục tiêu cao cả của giáo dục. Thay vì coi đại học là nơi nuôi dưỡng trí tuệ hay giám sát quyền lực chính phủ, phần lớn người dân Úc giờ đây chỉ xem đó là một lò luyện nghề không hơn không kém. Khi mà chỉ có 30% công chúng coi trọng vai trò dân sự của đại học, trong khi một nửa dân số chỉ quan tâm đến việc ra trường có làm được việc hay không, thì việc họ ưu tiên đổ tiền vào các trường nghề hay trường phổ thông là điều hoàn toàn dễ hiểu. Có lẽ, đã đến lúc các nhà quản lý giáo dục phải tỉnh mộng: đại học không còn là một vùng đặc quyền mặc định được tin tưởng, mà phải tự thân vận động để chứng minh giá trị của mình trong một xã hội ngày càng thực tế và đầy rẫy sự hoài nghi.</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://www.timeshighereducation.com/news/universities-trusted-more-governments-and-schools">Times Higher Education</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="thi-truong-giao-duc" data-modified="-132" data-title="Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/">Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 06 Apr 2026 04:10:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3034</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trong thế giới học thuật, việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín (như được chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Sciences &#8211; WOS) không chỉ là minh chứng cho giá trị khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển danh tiếng cá [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/">“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Trong thế giới học thuật, việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín (như được chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Sciences &#8211; WOS) không chỉ là minh chứng cho giá trị khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển danh tiếng cá nhân cho tác giả. Tuy nhiên, đối với nhiều nhà khoa học, nhất là nhà khoa học trẻ/mới vào nghề, toàn bộ quá trình từ lúc gửi bản thảo đến khi nhận quyết định cuối cùng vẫn thường bị coi là một &#8220;chiếc hộp đen&#8221; đầy mơ hồ. Việc vén màn những gì diễn ra trong “chiếc hộp đen” (black box) – nơi biên tập viên (editor) và người phản biện (reviewer) phối hợp đánh giá sẽ giúp tác giả chủ động hơn và chỉnh sửa, nâng cấp bản thảo để vượt qua các vòng sàng lọc khắt khe. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải mã quy trình biên tập và phản biện kể trên, làm rõ các tiêu chí sàng lọc của biên tập viên và phản biện; đồng thời cung cấp những chiến lược, khuyến nghị giúp các nhà nghiên cứu tăng khả năng vượt qua &#8220;chiếc hộp đen&#8221; để công bố thành công trên các tạp chí quốc tế.</em></p>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Từ bản thảo đến phán quyết</strong></h2>



<p>Quy trình phản biện đồng cấp (peer review) là nền tảng của việc kiểm soát chất lượng trong xuất bản học thuật. Nó được xây dựng như một hệ thống nhiều lớp nhằm sàng lọc và chỉ cho phép những nghiên cứu thực sự có giá trị được công bố (Ware, 2008). Khi bản thảo được gửi đi, bước đầu tiên là khâu kiểm tra hành chính bởi trợ lý biên tập (assistant editor): định dạng, số chữ, cấu trúc bài, trích dẫn, cũng như các yêu cầu kỹ thuật khác. Đây là lớp sàng lọc cơ bản nhưng nghiêm túc, vì biên tập viên không muốn lãng phí thời gian vào những bản thảo không đáp ứng tiêu chuẩn hình thức tối thiểu.</p>



<p>Sau khi vượt qua lớp kiểm tra hành chính, bản thảo được chuyển đến tổng biên tập (chief editor hoặc editor-in-chief); từ đó, tổng biên tập sẽ chuyển đến biên tập viên phụ trách (editor, associate editor hoặc member of editorial board &#8211; tên gọi tùy theo từng tạp chí). Ở giai đoạn này, biên tập viên thực hiện đánh giá như:</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Mức độ phù hợp</em>: Đánh giá tính mới của bản thảo và sự tương thích với mục tiêu, phạm vi (Aims and Scope) cũng như đối tượng độc giả của tạp chí.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Loại bản thảo và dữ liệu</em>: Xác định bản thảo có thuộc loại hình nghiên cứu (ví dụ: thực nghiệm, bán thực nghiệm) hoặc sử dụng loại dữ liệu/phương pháp mà tạp chí chấp nhận hay không.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Tiêu chuẩn chất lượng</em>: Xét duyệt tính thuyết phục của dữ liệu, sự chặt chẽ của phương pháp luận, nền tảng lý thuyết và văn phong học thuật chuyên nghiệp.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Đạo đức nghiên cứu</em>: Rà soát các khai báo bắt buộc về phê duyệt đạo đức (Institutional Review Board &#8211; IRB) và tính minh bạch trong việc sử dụng công cụ AI.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Định hướng nội bộ</em>: Cân nhắc dựa trên tỷ lệ chấp nhận (acceptance rate) của tạp chí hoặc các yếu tố “ngầm” nhằm đảm bảo tính đa dạng, như việc tránh đăng quá nhiều bài cùng chủ đề, phương pháp nghiên cứu hoặc quá nhiều tác giả đến từ cùng một quốc gia trong cùng một năm xuất bản.</p>



<p>Vòng này cũng chính là vòng quyết định liệu bản thảo có đáng để đầu tư thời gian của các phản biện hay không (Nicholas et al., 2014). Nếu được đánh giá là có tiềm năng, bản thảo sẽ được gửi đến hai hoặc ba nhà khoa học có chuyên môn phù hợp trong lĩnh vực liên quan. Các phản biện sẽ đánh giá độc lập, khuyết danh và từ đó đưa ra khuyến nghị: chấp nhận (rất hiếm ở ngay vòng đầu tiên), chấp nhận với chỉnh sửa nhỏ (minor revision), yêu cầu chỉnh sửa lớn (major revision), hoặc từ chối (rejection). Cuối cùng, biên tập viên tổng hợp, cân nhắc nội dung, chất lượng, độ nhất quán giữa các phản biện và đưa ra quyết định cuối cùng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Vòng sát hạch ban đầu: Vì sao bản thảo bị từ chối ngay lập tức?</strong></h2>



<p>Để hiểu rõ hơn về cách thức vận hành của các nhóm tiêu chí vừa nêu, chúng ta cần đi sâu vào thực tế khắt khe tại các tòa soạn quốc tế thông qua các chỉ số cụ thể.</p>



<p>Một thực tế mà mọi tác giả cần chấp nhận là các tạp chí quốc tế đều duy trì chỉ số kết quả (KPI &#8211; Key Performance Indicators) nội bộ khắt khe về tỷ lệ chấp nhận bài, thường chỉ ở mức 15-20%, thậm chí thấp hơn. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu: khoảng 60-70% bản thảo sẽ bị từ chối ngay từ vòng sơ loại (desk reject) trước khi có cơ hội được chuyển đến các chuyên gia phản biện.</p>



<p>Ở giai đoạn trên, biên tập viên chỉ mất vài phút để sàng lọc nhanh. Bên cạnh những yếu tố về định dạng hay sự phù hợp với tôn chỉ mục tiêu của tạp chí, chất lượng nội dung chưa đạt chuẩn chính là rào cản lớn nhất khiến bài viết bị loại sớm.</p>



<p>Chất lượng này được soi chiếu qua tính thuyết phục của dữ liệu và sự chặt chẽ của phương pháp luận. Những bản thảo thiếu nhóm đối chứng khi thiết kế thực nghiệm, phân bổ mẫu ngẫu nhiên không rõ ràng hoặc có phân tích thống kê yếu thường bị đánh giá là không đủ độ tin cậy. Thêm vào đó, sự thiếu liên kết logic giữa các phần và kỹ năng viết chưa đạt chuẩn học thuật, như cách đặt vấn đề vòng vo, câu văn dài dòng, sẽ dễ khiến thông điệp cốt lõi của nghiên cứu bị mờ nhạt. Đáng chú ý, mỗi tạp chí đều có &#8220;khẩu vị&#8221; riêng về phương pháp ưu tiên và phong cách hành văn. Do đó, việc nghiên cứu kỹ các bài viết gần đây để điều chỉnh bản thảo cho phù hợp là một bước đi chiến lược không thể bỏ qua.</p>



<p>Thực tế, tỷ lệ &#8220;desk reject&#8221; ở nhiều tạp chí uy tín hiện nay thường duy trì ở mức cao, dao động từ 30% đến hơn 70% (Chen, 2025). Trong đó, sự không phù hợp với mục tiêu, phạm vi của tạp chí (chiếm 55-72%) và sự thiếu hụt tính mới trong đóng góp khoa học (khoảng 52%) chính là hai rào cản phổ biến nhất khiến bản thảo bị loại sớm (Menon và cộng sự, 2020; Wu và cộng sự, 2024). Đáng chú ý, sự sàng lọc này càng trở nên quyết liệt hơn trong bối cảnh học thuật hiện đại, khi các vấn đề về đạo đức nghiên cứu và tính minh bạch của AI đang trở thành tâm điểm của quan ngại. Việc thiếu khai báo phê duyệt đạo đức (IRB), không công bố việc sử dụng công cụ AI, hay bất kỳ nghi vấn nào về tính chính danh của ý tưởng đều có thể dẫn đến quyết định từ chối gần như ngay lập tức ở các tạp chí uy tín (COPE, 2019).</p>



<p>Biên tập viên thường chỉ cần một lý do hợp lệ và rõ ràng để bấm nút từ chối. Vì vậy, nguyên tắc cốt lõi là hãy dành thời gian loại bỏ mọi điểm yếu nhỏ nhất có thể, từ định dạng, trích dẫn, framing vấn đề, đến việc làm rõ đóng góp, để không vô tình trao cho họ một cái cớ dễ dàng để loại bài.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chọn người phản biện: Họ là ai và họ tìm gì?</strong></h2>



<p>Khi bản thảo vượt qua vòng sơ loại, biên tập viên sẽ bắt đầu tìm kiếm và mời người phản biện. Quy trình này không có một công thức duy nhất mà phụ thuộc vào phong cách cá nhân và định hướng của từng tạp chí. Trong khi một số tạp chí thường ưu tiên nguồn phản biện từ cơ sở dữ liệu chuyên gia nội bộ (Hình 1) hoặc mạng lưới đồng nghiệp uy tín, các tạp chí mới hoặc các số chuyên đề (Special Issue) có xu hướng linh hoạt hơn khi tìm kiếm từ danh sách tác giả vừa công bố, thậm chí là các nghiên cứu sinh xuất sắc để đảm bảo tính cập nhật và tốc độ xử lý.</p>



<p>Về chiến lược mời phản biện, biên tập viên thường cân nhắc giữa hai phương án:</p>



<p><em>&#8211; Mời đúng số lượng cần thiết (thường là 2-3 người)</em>: Cách tiếp cận này giúp biên tập viên dễ dàng kiểm soát nội dung phản hồi, tránh tình trạng nhận được quá nhiều ý kiến mâu thuẫn. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là rủi ro kéo dài thời gian nếu một trong số họ từ chối hoặc không nộp báo cáo đúng hạn.</p>



<p><em>&#8211; Mời dư số lượng (có thể gửi thư mời từ 5-7 người cùng lúc)</em>: Đây là chiến lược thường thấy để đẩy nhanh tiến độ, phòng trường hợp nhiều người từ chối lời mời. Ưu điểm là rút ngắn thời gian chờ đợi để có đủ số lượng báo cáo tối thiểu. Tuy nhiên, chiến lược này sẽ đặt ra thách thức cho biên tập viên trong việc tổng hợp các ý kiến phản biện (nếu các ý kiến đối lập nhau) và đưa ra quyết định cuối cùng một cách công bằng và nhất quán.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/798128596_screenshot-2026-04-03-at-07.06.14.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1. Ảnh chụp từ một cơ sở dữ liệu các chuyên gia từ một tạp chí khoa học</em></figcaption></figure>



<p>Người phản biện, phần lớn là các học giả bận rộn và làm việc hoàn toàn tình nguyện, sẽ đọc và đánh giá toàn diện bản thảo. Dưới đây là bảng tổng hợp các tiêu chuẩn mà người phản biện thường tập trung khi đọc bản thảo:</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/168545578_screenshot-2026-04-03-at-07.14.19.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Bảng 1. Danh mục kiểm tra (checklist) dành cho tác giả</em></figcaption></figure>



<p>Người phản biện thường hình thành đánh giá ban đầu chỉ trong khoảng 15-30 phút đầu tiên và chỉ tập trung vào các vấn đề nền tảng trước khi xét đến chi tiết. Một bản thảo mắc phải các lỗi kể trên sẽ khiến họ dễ dàng đưa ra đề xuất từ chối ngay ở vòng đầu tiên nếu các vấn đề đó mang tính cốt lõi và khó khắc phục.</p>



<p>Ngoài ra, người phản biện kỳ vọng các vấn đề lớn phải được giải quyết triệt để ngay ở vòng phản biện thứ hai, vì họ thường không phản biện một bài viết quá 2–3 vòng. Do đó, việc sử dụng checklist này không chỉ giúp bạn xoa dịu áp lực cho người phản biện mà còn trực tiếp gia tăng cơ hội được chấp nhận cho bản thảo.</p>



<p><strong>Quyền quyết định cuối và thời gian</strong></p>



<p>Dù người phản biện cung cấp các nhận xét chuyên môn quan trọng, nhưng biên tập viên mới là người giữ quyền quyết định cuối cùng. Trong những trường hợp ý kiến phản biện mâu thuẫn nhau, biên tập viên có thể tự đưa ra đánh giá dựa trên kinh nghiệm cá nhân hoặc mời thêm người phản biện khác để đảm bảo tính khách quan. Quyền lực này giúp duy trì sự cân bằng và đảm bảo rằng tạp chí không bỏ lỡ những nghiên cứu có giá trị chỉ vì một đánh giá khắt khe quá mức hoặc thiếu công bằng. Bảng 2 minh hoạ cách biên tập viên xử lý các kịch bản phản biện khác nhau để đảm bảo tính khách quan và chất lượng học thuật.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/986621263_screenshot-2026-04-03-at-07.20.36.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Bảng 2. Ma trận quyết định của biên tập viên trước các &#8220;kịch bản&#8221; phản biện</em></figcaption></figure>



<p>Về mặt thời gian, quy trình phản biện quốc tế thường là một hành trình dài hơi và thực tế thường chậm hơn nhiều so với các thông số lý tưởng trên website của tạp chí. Trong khi quyết định sơ bộ có thể đến trong vòng vài tuần, lộ trình để đi đến quyết định sau phản biện thường kéo dài nhiều tháng, thậm chí có thể lên tới nhiều năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào lĩnh vực. Sự chậm trễ này phần lớn xuất phát từ đặc thù công việc của các biên tập viên và phản biện viên, khi họ thường chỉ có thể xử lý bản thảo trong những khoảng thời gian rảnh rỗi giữa các nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu chính. Do đó, việc quá trình phản biện kéo dài vượt quá thời hạn dự kiến (thông báo trên website tạp chí) là điều không hiếm gặp, thậm chí thường xuyên trong giới học thuật.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<h2 class="wp-block-heading"><em>&#8220;Sự khác biệt giữa một bản thảo bị loại sớm và một bản thảo được chấp nhận thường không nằm ở chất lượng tuyệt đối, mà nằm ở mức độ hiểu biết về &#8220;luật chơi&#8221; và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của tác giả.&#8221;</em></h2>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chiến lược cho tác giả: Chủ động và biết “kết nối đúng cách”</strong></h2>



<p>Để tăng cơ hội thành công, thay vì gửi bài một cách thụ động, tác giả cần chủ động hơn trong việc kết nối với cộng đồng học thuật. Việc tham dự các hội thảo để gặp gỡ trực tiếp biên tập viên hoặc gửi email thăm dò (pre-submission) kèm tiêu đề và tóm tắt nghiên cứu có thể giúp tác giả nhận được những phản hồi sớm về mức độ quan tâm của tạp chí. Ngoài ra, việc nộp bài cho các số đặc biệt (Special Issue) thường mang lại cơ hội tốt hơn do có trọng tâm nghiên cứu cụ thể. Khi nộp bài ở số đặc biệt, bản thảo sẽ tránh được rủi ro bị từ chối do lệch phạm vi, mà còn giúp nghiên cứu dễ dàng tiếp cận đúng người phản biện lẫn độc giả mục tiêu, và tăng mức độ nhận diện trong các cộng đồng nghiên cứu chuyên môn hẹp.</p>



<p>Cuối cùng, một trong những cách hiệu quả nhất để hiểu rõ &#8220;luật chơi&#8221; là tình nguyện tham gia làm người phản biện và hơn nữa làm biên tập viên cho các tạp chí trong ngành. Trải nghiệm này giúp các nhà nghiên cứu nhìn nhận bản thảo từ phía đối diện, từ đó nhận ra những sai sót phổ biến và học cách trình bày nghiên cứu của mình một cách thuyết phục nhất trước những đồng nghiệp khắt khe. Việc tập trung vào một chủ đề nhất định trong các số này giúp bản thảo tránh được rủi ro bị từ chối vì sai lệch về phạm vi, đồng thời gia tăng đáng kể khả năng hiển thị trong các cộng đồng nghiên cứu chuyên biệt.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Thay lời kết &#8211; Hiểu hệ thống để đi đường dà</strong></h2>



<p>Quy trình phản biện không phải là hoàn hảo, nhưng nó vẫn là bộ lọc cần thiết và hiệu quả nhất để bảo vệ chất lượng và uy tín của tri thức học thuật. Biên tập viên phải đối mặt với áp lực về tốc độ xử lý và tỷ lệ chấp nhận; người phản biện làm việc tình nguyện trong những khoảng thời gian vụn vặt. Khi nhìn nhận hệ thống theo cách thực tế và nhân văn như vậy, chúng ta sẽ bớt cá nhân hóa mỗi lần bị từ chối và bắt đầu coi phản hồi, dù tích cực hay tiêu cực, như dữ liệu quý giá để cải thiện bản thân và năng lực nghiên cứu. Sự khác biệt giữa một bản thảo bị loại sớm và một bản thảo đi đến vòng cuối, thậm chí được chấp nhận, thường không nằm ở chất lượng tuyệt đối, mà nằm ở mức độ hiểu biết về cuộc chơi và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của tác giả. Hành trình xuất bản học thuật không chỉ dừng lại ở việc đăng bài mà còn là quá trình rèn luyện tư duy phê phán, khả năng lập luận chặt chẽ và thái độ kiên trì để đóng góp giá trị thực sự cho cộng đồng tri thức. Hiểu rõ những gì diễn ra phía sau cánh gà chính là bước đầu tiên và quan trọng nhất để biến những thách thức thành nền tảng vững chắc cho những thành công bền vững sau này.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p>Committee on Publication Ethics. (2019).&nbsp;<em>COPE ethical guidelines for peer reviewers</em>.</p>



<p>Menon, V., Varadharajan, N., Praharaj, S. K., &amp; Ameen, S. (2020). Why Do Manuscripts Get Rejected? A Content Analysis of Rejection Reports from the Indian Journal of Psychological Medicine. I<em>ndian Journal ofPsychological Medicine</em>,&nbsp;<em>44(</em>1), 59–65.&nbsp;<a href="https://doi.org/10.1177/0253717620965845">https://doi.org/10.1177/0253717620965845</a></p>



<p>Nicholas, D., Watkinson, A., Jamali, H. R., Herman, E., Tenopir, C., Volentine, R., Allard, S., &amp; Levine, K. (2014).&nbsp;<em>Peer review: still king in the digital age. Learned Publishing</em>,&nbsp;<em>28</em>(1), 15–21.&nbsp;<a href="https://doi.org/10.1087/20150104">https://doi.org/10.1087/20150104</a></p>



<p>Ware, M. (2008).&nbsp;<em>Peer review: Benefits, Perceptions and Alternatives</em>.</p>



<p>Wu, J., Sanchez-Diaz, I., Yang, Y., &amp; Qu, X. (2024). Why is your paper rejected? Lessons learned from over 5000 rejected transportation papers.&nbsp;<em>Communications in Transportation Research</em>,&nbsp;<em>4</em>, 100129. https://doi.org/10.1016/j.commtr.2024.100129</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Đăng lại từ <a href="https://tapchigiaoduc.com.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te-4122.htm">Tạp chí Giáo dục</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/">“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Apr 2026 02:33:18 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3030</guid>

					<description><![CDATA[<p>Kết quả từ một đại dự án kéo dài nhiều năm đã phơi bày một sự thật trần trụi về độ tin cậy của các công trình khoa học, nhưng đồng thời cũng mở ra một tia hy vọng mới cho tương lai. Hàng trăm nhà khoa học đã rà soát kỹ lưỡng hàng nghìn [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/">Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Kết quả từ một đại dự án kéo dài nhiều năm đã phơi bày một sự thật trần trụi về độ tin cậy của các công trình khoa học, nhưng đồng thời cũng mở ra một tia hy vọng mới cho tương lai.</em></p>
</blockquote>



<p>Hàng trăm nhà khoa học đã rà soát kỹ lưỡng hàng nghìn bài báo nghiên cứu trong khuôn khổ một dự án trọng điểm nhằm xác định liệu các thí nghiệm và phân tích dữ liệu có thể lặp lại được hay không.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large is-resized"><img decoding="async" width="682" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-682x1024.png" alt="" class="wp-image-3031" style="width:687px;height:auto" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-682x1024.png 682w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-200x300.png 200w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image.png 687w" sizes="(max-width: 682px) 100vw, 682px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: chụp bởi <a href="https://unsplash.com/@kellysikkema?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Kelly Sikkema</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/person-holding-white-printer-paper-0iKjge_aOVo?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>Một đại dự án kéo dài bảy năm, khảo sát 3.900 bài báo khoa học xã hội, đã khép lại với một phát hiện đáng suy ngẫm: các nhà nghiên cứu chỉ có thể tái lập kết quả của một nửa số nghiên cứu mà họ đã thử nghiệm.</p>



<p>John Ioannidis, một nhà khoa học tại Đại học Stanford (California), người không trực tiếp tham gia chương trình này, nhận định rằng các kết luận từ sáng kiến mang tên Dự án Hệ thống hóa Niềm tin vào Nghiên cứu và Bằng chứng Mở (SCORE) là điều đã được “nhiều người dự đoán”. Ông cho rằng dù quy mô và phạm vi của dự án rất ấn tượng, nhưng kết quả lại “không gây ngạc nhiên”, bởi chúng tương đồng với những phát hiện từ các nghiên cứu nhỏ hơn trước đó.</p>



<p>Văn hóa &#8220;xuất bản hay là chết&#8221; (publish or perish) được xem là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng về khả năng tái lập kết quả nghiên cứu.</p>



<p>Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu &#8220;cuộc khủng hoảng&#8221; về độ tin cậy của các kết quả khoa học trong hơn một thập kỷ qua. Họ nhận thấy rằng nhiều thí nghiệm khoa học không thể lặp lại &#8211; không chỉ trong lĩnh vực khoa học xã hội mà còn lan sang cả y sinh học.</p>



<p>Những phát hiện của SCORE &#8211; được đúc kết từ công trình của 865 nhà khoa học khi rà soát các bài báo công bố trên 62 tạp chí thuộc các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, tâm lý học và xã hội học &#8211; không nhất thiết đồng nghĩa với việc nền khoa học đang vận hành kém hiệu quả. Theo Tim Errington, trưởng bộ phận nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Mở (đơn vị điều phối một phần dự án), một số kết quả không thể lặp lại có thể do sai sót khách quan hoặc số ít trường hợp hành vi sai trái. Tuy nhiên, SCORE nhận thấy rằng trong nhiều trường hợp, các bài báo đơn giản là không cung cấp đủ dữ liệu hoặc chi tiết kỹ thuật để người sau có thể tái lập thí nghiệm một cách chính xác. Các phương pháp hoặc mô hình phân tích mới cũng có thể dẫn đến những kết quả khác biệt một cách hợp lệ. Điều này có nghĩa là, thay vì tiếp nhận các bài báo một cách hời hợt, giới nghiên cứu nên xem mỗi công trình là “một mảnh ghép trong bức tranh tổng thể”, Errington nhấn mạnh.</p>



<p>Kết quả nghiên cứu của dự án đã được công bố hôm nay qua ba bài báo trên tạp chí Nature. Nhóm SCORE đã kiểm chứng xem các kết quả công bố trước đó có còn đứng vững hay không dựa trên ba tiêu chí: khả năng tái lập phân tích, tính bền vững và khả năng sao chép thí nghiệm. Dự án được Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến Quốc phòng Hoa Kỳ tài trợ, với mục tiêu cuối cùng là xây dựng các công cụ tự động nhằm định chuẩn điểm tin cậy cho các phát hiện khoa học xã hội.</p>



<p>Ông Ioannidis nhận định dự án SCORE “mang lại hy vọng rằng cộng đồng khoa học hiện đang nhìn nhận những vấn đề then chốt này một cách cực kỳ nghiêm túc”.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Kiểm tra, kiểm tra lại và lặp lại.</strong></h2>



<p>Một trong những thước đo độ tin cậy của một bài báo là khả năng tái lập (reproducibility) &#8211; nghĩa là khi phân tích chính xác cùng một bộ dữ liệu phải cho ra cùng một kết quả. Khi các thành viên nhóm SCORE nỗ lực tái lập phân tích dữ liệu của 600 bài báo, họ nhận thấy chỉ có 145 bài cung cấp đủ chi tiết để thực hiện. Và trong số này, chỉ 53% có thể tái lập sao cho kết quả khớp chính xác. Tuy nhiên, Errington lý giải rằng nhiều thất bại có thể bắt nguồn từ việc các nhà nghiên cứu của dự án phải tự phỏng đoán quy trình hoặc khôi phục dữ liệu thô. Việc chia sẻ dữ liệu mở và minh bạch hóa phương pháp luận sẽ là chìa khóa để giải quyết vấn đề này.</p>



<p>Dự án nghiên cứu quy mô lớn về khả năng tái lập kết quả đã thất bại trong việc xác thực hàng chục nghiên cứu y sinh học.</p>



<p>Nhóm SCORE cũng kiểm tra tính vững chắc của các nghiên cứu: liệu một phương án phân tích thay thế hợp lý trên cùng dữ liệu gốc có cho ra kết luận tương đương hay không. Trong số 100 bài báo được soi xét, khoảng ba phần tư đã vượt qua bài kiểm tra. Tuy nhiên, có 2% trường hợp phân tích mới lại đưa ra kết luận trái ngược hoàn toàn với bản gốc. “Điều đó thật đáng lo ngại,” Errington nói. Ông cho biết thêm, các công cụ tự động mới nổi chạy nhiều kịch bản phân tích khả thi trên cùng một dữ liệu &#8211; một kỹ thuật gọi là phân tích đa vũ trụ &#8211; có thể cải thiện tính bền vững của các nghiên cứu trong tương lai bằng cách cho phép các nhà nghiên cứu đối soát các phương pháp khác nhau trước khi công bố.</p>



<p>Cuối cùng, SCORE thử nghiệm khả năng sao chép (replicability) của các bài báo &#8211; nhiệm vụ thách thức nhất trong cả ba. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng lặp lại toàn bộ thí nghiệm bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu mới từ đầu. Trong số 164 nghiên cứu mục tiêu, họ chỉ có thể sao chép thành công 49% với ý nghĩa thống kê rõ ràng. Con số này gần như tương đồng với kết quả từ các nỗ lực tái lập khoa học trước đây.</p>



<p>Các nghiên cứu tiền nhiệm từng cố gắng nâng cao tỷ lệ tái lập bằng cách áp dụng các quy trình thí nghiệm chi tiết và tối ưu nhất. Một nghiên cứu đáng chú ý năm 2023, do một trong những lãnh đạo của SCORE đồng tác giả, đã cho thấy kết quả ấn tượng khi tuân thủ các quy trình như vậy, nhưng sau đó đã bị rút lại vào năm 2024 do những lo ngại về thủ tục thực hiện.</p>



<p>Dựa trên kết quả của SCORE và các dự án tương tự, nhà kinh tế học Abel Brodeur, người sáng lập Viện Nghiên cứu Sao chép tại Đại học Ottawa, cho biết ông luôn giữ thái độ hoài nghi trước các bài báo mới công bố. Ông chia sẻ: “Tôi sẽ chờ đợi nhiều năm để xem có thêm các nghiên cứu khác thực hiện phân tích tương đương và tìm ra kết quả tương tự hay không” trước khi thực sự tin tưởng vào bất kỳ phát hiện nào.</p>



<p>Độc lập với SCORE, Brodeur đã công bố một bài báo trên tạp chí Nature tuần này về khả năng tái lập và tính ổn định của các nghiên cứu kinh tế và chính trị. Sử dụng hai chiến lược &#8211; đánh giá bởi các chuyên gia độc lập và tổ chức các sự kiện kiểm chứng nhóm trong một ngày &#8211; ông và các đồng nghiệp đã thu được kết quả khả quan hơn so với SCORE. Trong số 110 bài báo, 85% có thể tái lập bằng phương pháp tính toán. Một lý do khả thi là nhóm nghiên cứu chỉ xem xét các công trình công bố trong giai đoạn 2022–2023, thời điểm mà theo Brodeur, các chuẩn mực về công khai dữ liệu và mã nguồn đã tốt hơn nhiều so với trước đây. Trong khi đó, các bài báo của SCORE trải dài từ năm 2009 đến 2018. “Mọi thứ đang chuyển biến tốt hơn”, Brodeur khẳng định.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Kiểm tra khả năng dự đoán</strong></h2>



<p>Theo Errington, vì các nỗ lực tái lập thủ công rất tốn kém và mất thời gian, việc ứng dụng các công cụ tự động &#8211; bao gồm cả trí tuệ nhân tạo &#8211; để dự đoán tính hợp lý của một bài báo sẽ mang lại lợi ích to lớn cho ngành khoa học.</p>



<p>Liệu trí tuệ nhân tạo có đang dẫn đến cuộc khủng hoảng về khả năng tái lập kết quả trong khoa học?</p>



<p>Giá trị của các công cụ này thường được định chuẩn dựa trên khả năng của con người, vì vậy nhóm SCORE đã bắt đầu bằng việc kiểm tra xem con người có thể dự đoán chính xác khả năng tái lập của các bài báo hay không. Hai chiến lược đã được thử nghiệm: một qua thị trường dự đoán trực tuyến và một qua thảo luận nhóm có cấu trúc. Theo bản thảo đăng tải trên máy chủ lưu trữ bản thảo MetaArXiv hôm nay, các chiến lược này đạt độ chính xác từ 76% đến 78%.</p>



<p>Những nỗ lực ban đầu của nhóm SCORE nhằm thực hiện điều tương tự với các công cụ tự động đời cũ đã không mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, chưa có nhóm nào trong số đó sử dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện đại như các mô hình ngôn ngữ lớn.</p>



<p>Andrew Tyner tại Trung tâm Khoa học Mở đang dẫn đầu một Thử thách Dự đoán Khả năng Tái tạo độc lập với SCORE, hiện đang thử nghiệm các công cụ tính toán tiên tiến hơn, bao gồm cả các mô hình ngôn ngữ lớn. Cuộc thi này sẽ trao giải thưởng tiền mặt cho những giải pháp xuất sắc nhất.</p>



<p>Trong vòng đầu tiên vào tháng 10 năm ngoái, mười đội sử dụng trí tuệ nhân tạo đã đạt điểm số thấp hơn cả mức độ ngẫu nhiên. Nhưng đến vòng thứ hai vừa kết thúc tháng trước, mô hình trí tuệ nhân tạo tốt nhất đã đạt độ chính xác 68,5%. Vòng thứ ba hiện vẫn đang tiếp diễn.</p>



<p>Errington nhận định những kết quả này rất đáng khích lệ, cho thấy trí tuệ nhân tạo một ngày nào đó sẽ hữu ích trong việc thẩm định khoa học. Dù vậy, ông cũng lưu ý rằng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phía trước: &#8220;Chúng ta thậm chí còn chưa tiến đến gần đích.&#8221;</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://www-nature-com.aalto-libproxy.idm.oclc.org/articles/d41586-026-00955-5">Nature</a></em></p>



<p></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/">Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2026 02:24:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3020</guid>

					<description><![CDATA[<p>Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu hay ra quyết định; sâu xa hơn, nó đặt lại một câu hỏi nền tảng của văn minh: điều gì làm nên phẩm giá của tư duy con người, khi ngày càng nhiều thao tác trí tuệ có thể được máy móc mô phỏng với tốc độ vượt trội?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img decoding="async" width="600" height="617" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png" alt="" class="wp-image-3021" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png 600w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11-292x300.png 292w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/10610019/Robotic-Humanity/modules/77370321">Robotic Humanity</a> | CC BY-NC 4.0</em></figcaption></figure>



<p>Nhiều người nhìn vào câu hỏi ấy với tâm thế lo âu, thậm chí bi quan. Họ cho rằng khi máy có thể viết, tóm tắt, biện luận, sáng tác, đối thoại và hỗ trợ phân tích, thì các ngành Nhân văn sớm muộn cũng sẽ bị đẩy ra ngoài lề. Tôi không nghĩ như vậy. Trái lại, tôi cho rằng chính trong thời đại trí tuệ nhân tạo, Nhân văn đang đứng trước cơ hội phục hưng mạnh mẽ nhất của mình. Không phải như một phần trang trí tinh thần cho xã hội hiện đại, mà như một nền tảng sống còn để bảo vệ năng lực làm người.</p>



<p>Sở dĩ có thể nói như vậy là bởi công nghệ càng phát triển, con người càng buộc phải phân biệt rõ hơn giữa cái có thể được tự động hóa và cái không thể bị thay thế. Máy móc có thể xử lý hàng nghìn ngôn ngữ, nhưng không thể phát ngôn thay cho con người. Máy móc có thể lưu trữ ngàn năm tri thức, nhưng không bao giờ có nổi một mảnh ký ức. Máy móc có thể trau chuốt câu từ, nhưng không kinh qua mất mát, day dứt, lưỡng lự, ân hận, yêu thương hay sự trưởng thành nhọc nhằn mà một con người phải đi qua để thật sự hiểu ý nghĩa của những câu từ ấy. Nói cách khác, trí tuệ nhân tạo có thể mô phỏng biểu hiện của tư duy, nhưng không thể là bản thể của tư duy.</p>



<p>Chính ở điểm này, tôi càng muốn chỉ rõ vai trò của Nhân văn. Bởi rốt cuộc, Nhân văn không chỉ là tập hợp của một số môn học như văn học, lịch sử, triết học, nghệ thuật hay ngôn ngữ. Nhân văn, theo nghĩa sâu xa hơn, là không gian nơi con người học cách tự ý thức về chính mình; học cách nhận biết điều thiện và điều ác, cái cao cả và cái tầm thường, cái bền vững và cái nhất thời; học cách sống có phán đoán, có ký ức, có chiều sâu nội tâm và có trách nhiệm với lời mình nói. Nếu một nền giáo dục chỉ còn đào tạo năng lực thao tác mà không bồi dưỡng năng lực phán đoán, thì đó không còn là giáo dục theo nghĩa đầy đủ. Nó chỉ còn là một quy trình huấn luyện.</p>



<p>Trong nhiều thập niên, sinh viên các ngành Nhân văn liên tục bị chất vấn: Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe có vẻ thực tế, nhưng thật ra phản ánh một sự thu hẹp nghiêm trọng trong cách xã hội hiểu về tri thức. Khi giá trị của giáo dục bị quy về công dụng tức thời, về mức lương sau tốt nghiệp, về năng suất đo đếm được, thì những lĩnh vực nuôi dưỡng chiều sâu tinh thần tất nhiên sẽ bị coi là mơ hồ, kém thiết thực, thậm chí thừa thãi. Chính trong bối cảnh ấy, trí tuệ nhân tạo xuất hiện như một tấm gương phơi bày sự ngộ nhận của thời đại. Nó buộc chúng ta phải đối diện với một sự thật không dễ chấp nhận: Nếu giáo dục chỉ nhằm tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ chỉn chu, những bản tổng hợp gọn ghẽ và những câu trả lời trôi chảy, thì máy móc hoàn toàn có thể làm điều đó nhanh hơn con người. Nhưng nếu giáo dục nhằm hình thành một chủ thể biết suy nghĩ, biết nghi ngờ, biết cảm nhận, biết tự sửa mình và biết sống có trách nhiệm, thì vai trò của Nhân văn không những không lu mờ, mà thậm chí còn rõ ràng hơn.</p>



<p>Đây chính là nghịch lý của thời đại này: càng nhiều chức năng trí tuệ được máy đảm nhiệm, xã hội càng cần khẩn thiết hơn những năng lực mà chỉ con người mới có thể gầy dựng nơi nhau. Trong một thế giới ngập tràn thông tin, điều quý nhất không còn là có thêm dữ liệu, mà là biết phân biệt điều gì đáng tin, điều gì đáng ngờ, điều gì quan trọng, điều gì chỉ là nhiễu loạn. Trong một thế giới mà ngôn ngữ có thể được sản xuất hàng loạt, điều quý nhất không còn là khả năng viết trôi chảy, mà là khả năng nói điều có thật, điều đã được nghiền ngẫm, điều có căn cốt từ trải nghiệm và suy tư. Trong một thế giới mà tốc độ được tôn sùng, điều quý nhất lại là năng lực dừng lại đủ lâu để hiểu một sự việc cho đến cùng.</p>



<p>Tôi cho rằng đây là lúc phải trả Nhân văn về đúng vị trí của nó: không phải ở bên lề của nền giáo dục, mà ở trung tâm của việc hình thành con người. Một xã hội có thể rất giàu công nghệ mà vẫn nghèo nàn về tinh thần. Một nền kinh tế có thể rất hiệu quả mà vẫn tạo ra những con người rỗng bên trong, dễ bị dẫn dắt, dễ bị kích động, dễ chấp nhận những điều tiện lợi thay cho những điều đúng đắn. Khi ấy, khủng hoảng không còn là khủng hoảng kỹ thuật. Đó là khủng hoảng của phán đoán, của đạo đức, của năng lực sống chung và của ý thức về giới hạn. Đây đều là những lĩnh vực mà Nhân văn từ lâu đã âm thầm đảm nhiệm.</p>



<p>Điều đáng bàn hơn nữa là trí tuệ nhân tạo không chỉ đặt ra thách thức đối với tri thức, mà còn đối với kinh nghiệm. Nếu con người ngày càng quen sống qua trung gian của thuật toán, quen đọc bản tóm tắt thay vì văn bản trọn vẹn, quen tiếp nhận câu trả lời thay vì lao động để tự tìm ra câu hỏi, thì một tổn thất âm thầm sẽ diễn ra: năng lực sống trực tiếp với thế giới dần bị bào mòn. Người ta có thể vẫn nói rất đúng, viết rất gọn, phản hồi rất nhanh, nhưng bên dưới đó là một đời sống tinh thần ngày càng nghèo đi. Đây là dạng nghèo khó nguy hiểm nhất, bởi nó không biểu hiện bằng sự thiếu thốn bề ngoài, mà bằng sự teo tóp bên trong.</p>



<p>Chính vì thế, phục hưng Nhân văn hôm nay không thể chỉ dừng ở việc bảo vệ một vài ngành học. Nó đòi hỏi một thay đổi căn bản trong triết lý giáo dục. Trước hết, phải chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một bài viết không còn có thể được đánh giá chỉ bằng độ mượt mà của câu chữ hay độ hợp lý bề mặt của lập luận. Điều quan trọng hơn là hành trình nhận thức đứng sau văn bản ấy: người viết đã đọc như thế nào, đã hiểu sai ở đâu, đã đổi ý ra sao, đã vật lộn với vấn đề thế nào, và đã đi đến nhận định cuối cùng bằng lao động trí tuệ thực sự hay chỉ bằng thao tác lắp ghép. Nếu bỏ qua quá trình ấy, nền giáo dục sẽ sớm bị nhấn chìm bởi những kết quả hoàn chỉnh nhưng vô hồn.</p>



<p>Tiếp đó, phải khôi phục giá trị của trải nghiệm trực tiếp. Con người không thể trưởng thành chỉ bằng việc tiêu thụ thông tin. Họ trưởng thành bằng va chạm với thực tại, bằng đối thoại, bằng đọc chậm, viết chậm, suy nghĩ chậm, bằng việc đứng trước một tác phẩm nghệ thuật, một trang sử, một biến cố xã hội hay một câu hỏi đạo đức đủ lâu để bản thân thật sự bị lay động. Không có sự hiện diện ấy, tri thức dễ trở thành thứ vay mượn. Mà đã là thứ vay mượn, thì sớm muộn cũng sẽ bị thay thế bằng một công cụ hiệu quả hơn.</p>



<p>Nhìn từ góc độ ấy, điều mà thời đại trí tuệ nhân tạo đòi hỏi không phải là bớt Nhân văn đi, mà là Nhân văn phải mạnh hơn, nghiêm hơn và sáng rõ hơn. Không thể tiếp tục dạy các ngành Nhân văn theo lối minh họa, trang trí hay cảm tính. Cũng không thể biện hộ cho Nhân văn chỉ bằng những khẩu hiệu mơ hồ về “tâm hồn” hay “giá trị tinh thần”. Điều cần thiết là khẳng định một cách rành mạch rằng Nhân văn đào luyện những năng lực nền tảng cho mọi xã hội tự do: năng lực đọc sâu, năng lực phân tích ngôn ngữ, năng lực nhận diện quyền lực, năng lực hiểu bối cảnh lịch sử, năng lực phân biệt giữa sự thật và thao túng, giữa lý lẽ và ngụy biện, giữa đồng thuận dễ dãi và phán đoán có trách nhiệm. Không có những năng lực ấy, xã hội càng hiện đại càng dễ rơi vào hỗn loạn tinh thần.</p>



<p>Tôi cũng cho rằng một nguy cơ rất lớn của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo là sự phân tầng trong giáo dục. Rất có thể, một bộ phận nhỏ sẽ tiếp tục được hưởng một nền giáo dục giàu đối thoại, giàu chiều sâu, coi trọng đọc nguyên bản, tranh luận trực tiếp và viết lách như một quá trình tự rèn luyện. Trong khi đó, số đông có nguy cơ bị đẩy vào một mô hình giáo dục rẻ hơn, nhanh hơn, tiện hơn, nơi mọi thứ được cá nhân hóa bằng thuật toán, chấm điểm bằng hệ thống, tối ưu hóa theo mục tiêu ngắn hạn và loại bỏ dần những gì đòi hỏi kiên nhẫn, lắng đọng, suy tư. Nếu viễn cảnh ấy xảy ra, thì vấn đề không chỉ là chất lượng giáo dục suy giảm. Điều nghiêm trọng hơn là quyền được trở thành một con người có chiều sâu sẽ dần trở thành đặc quyền của thiểu số.</p>



<p>Bởi vậy, bảo vệ và phục hưng Nhân văn không còn là một lựa chọn xa xỉ. Đó là một đòi hỏi mang tính văn minh. Một xã hội muốn tồn tại lành mạnh trong thời đại máy móc không thể chỉ đầu tư vào hạ tầng công nghệ mà xem nhẹ hạ tầng tinh thần. Càng có nhiều công cụ mạnh, con người càng cần những tiêu chuẩn nội tâm vững vàng để không bị công cụ dẫn dắt ngược lại. Càng sống trong môi trường bị chi phối bởi các hệ thống tự động, con người càng cần được rèn luyện khả năng tự xét đoán. Càng quen với câu trả lời tức thì, con người càng cần học lại nghệ thuật của sự chậm rãi, của hoài nghi và của chiều sâu.</p>



<p>Nói cho cùng, câu hỏi lớn nhất của thời đại trí tuệ nhân tạo không phải là máy sẽ còn tiến xa đến đâu. Câu hỏi thực sự là: con người có còn tha thiết với việc làm người theo nghĩa đầy đủ nữa hay không? Có còn muốn sống bằng kinh nghiệm thật, suy nghĩ thật, đau đớn thật, lựa chọn thật và chịu trách nhiệm thật hay không? Nếu câu trả lời là có, thì Nhân văn sẽ không suy tàn. Nó sẽ trở lại như một nhu cầu thiết yếu.</p>



<p>Và rất có thể, chính trong kỷ nguyên mà máy móc có thể làm thay nhiều nhất, con người mới nhận ra rõ nhất rằng có những điều không thể giao phó. Không thể giao phó lương tri. Không thể giao phó phán đoán. Không thể giao phó ký ức lịch sử. Không thể giao phó năng lực yêu thương, tiếc thương, tha thứ, dấn thân và tự vấn. Những điều ấy làm nên phẩm chất người. Và đó cũng chính là miền đất lâu đời của Nhân văn.</p>



<p>Bởi vậy, nếu phải gọi tên cơ hội lớn nhất của thời đại này, tôi sẽ không gọi đó là cuộc cách mạng công nghệ. Tôi sẽ gọi đó là cơ hội để con người nghiêm túc quay về với câu hỏi cổ điển nhất mà cũng cấp bách nhất: sống thế nào cho xứng đáng với năng lực làm người của mình. Một khi câu hỏi ấy trở lại trung tâm, Nhân văn sẽ không còn là tiếng nói bên lề. Nó sẽ bước vào đúng vai trò của nó: nền tảng tinh thần của một thời đại đang rất cần được soi sáng.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="edtech,thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 19 Mar 2026 02:50:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3017</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ai cũng biết một câu đùa đúng lúc có thể là chiếc phao cứu sinh cho một bài thuyết trình. Một khán phòng đang gà gật bỗng bừng tỉnh vì một nhận xét hóm hỉnh. Người nghe thả lỏng, người nói trở nên gần gũi, và bài nói thực sự được cứu. Thế nhưng, những [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/">Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Ai cũng biết một câu đùa đúng lúc có thể là chiếc phao cứu sinh cho một bài thuyết trình. Một khán phòng đang gà gật bỗng bừng tỉnh vì một nhận xét hóm hỉnh. Người nghe thả lỏng, người nói trở nên gần gũi, và bài nói thực sự được cứu. Thế nhưng, những khoảnh khắc xuất thần ấy hiếm hoi hơn ta tưởng.</p>



<p>Một nghiên cứu quan sát 531 bài thuyết trình tại 14 hội nghị cho thấy: phần lớn nỗ lực pha trò trong khoa học thường&#8230; rơi vào thinh lặng. Nhiều câu đùa chỉ nhận lại vài tiếng cười xã giao hoặc sự im lặng đến ngột ngạt (Mammola et al., 2026). Tuy vậy, chính con số thống kê về những lần thất bại đó lại gợi ra một câu hỏi thú vị: Nếu dễ &#8220;hớ&#8221; như vậy mà người ta vẫn cứ thử, thì hẳn hài hước không chỉ là cho vui.</p>



<p>Trong một môi trường đề cao sự nghiêm cẩn đến khắc nghiệt, vì sao chúng ta vẫn khao khát tiếng cười?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" width="790" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-790x1024.png" alt="" class="wp-image-3018" style="aspect-ratio:0.7714858496706501;width:306px;height:auto" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-790x1024.png 790w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-231x300.png 231w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-768x995.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27.png 952w" sizes="(max-width: 790px) 100vw, 790px" /></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khi hài hước &#8220;mở đường&#8221; cho tri thức</strong></h2>



<p>Trong học thuật, ta thường quá chú trọng vào nội dung mà quên mất điều kiện để tiếp nhận nội dung đó. Chúng ta chuẩn bị dữ liệu, lập luận, phương pháp kỹ lưỡng, rồi mặc định người nghe là những cỗ máy có thể tập trung vô hạn. Thực tế phũ phàng hơn nhiều: Một bài giảng dù đúng đến đâu vẫn có thể trôi tuột qua đầu người học như nước đổ lá khoai nếu họ đã quá mệt mỏi.</p>



<p>Tri thức muốn đi từ bộ não này sang bộ não khác phải đi qua một cánh cửa rất hẹp: Sự chú ý.</p>



<p>Chính lúc này, pha trò trở thành một kỹ thuật tổ chức sự chú ý. Tiếng cười kéo người nghe quay lại, làm nội dung mềm đi và xóa nhòa khoảng cách giữa bục giảng với hàng ghế khán giả. Hài hước không đối lập với học thuật; nó giúp học thuật được tiếp nhận như một <em>kinh nghiệm sống</em>, chứ không chỉ là một khối thông tin khô khan. Không ai tiếp nhận tri thức bằng lý trí thuần túy; chúng ta nghe bằng cảm giác gần gũi và mức độ tin cậy đối với người đang đứng trước mặt mình.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nhịp thở của một bài </strong>thuyết trình</h2>



<p>Nghiên cứu chỉ ra rằng các câu đùa thường tập trung ở đầu và cuối bài nói – những điểm &#8220;phá băng&#8221; và &#8220;kết nối&#8221;. Những bài nói thành công nhất còn có thêm một điểm nhô hài hước ở quãng giữa. Điều này cho thấy diễn giả đang dùng tiếng cười để điều tiết cái nhiệt của khán phòng.</p>



<p>Nói một cách đời thường, pha trò là cách người nói hé cửa sổ cho căn phòng đỡ ngột. Học thuật vốn đã nặng, nếu cách truyền tải cũng nặng như đang xối hàng tá kiến thức thì quả là quá sức cho cả đôi bên. Đó là lý do những câu đùa nảy sinh từ sự cố thực tế như slide lỗi hay một khoảnh khắc lúng túng lại hiệu quả đến vậy. Chúng nhắc nhở khán giả rằng: Người đang đứng kia không phải một robot đọc dữ liệu, mà là một con người bằng xương bằng thịt.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Mục tiêu thực chất là không khí rộn ràng</h2>



<p>Nếu đo lường bằng âm lượng tiếng cười, hài hước trong học thuật có vẻ là một canh bạc rủi ro khi chỉ 9% câu đùa tạo được hiệu ứng mạnh. Nhưng thước đo ấy có lẽ đã nhầm. Khán giả hội nghị không đi xem hài, họ không ngồi chờ để cười nghiêng ngả.</p>



<p>Giá trị của một câu đùa đôi khi chỉ nằm ở một cái mỉm cười nhẹ. Nó đủ để báo hiệu rằng: &#8220;Tôi hiểu các bạn đang nghe gì.&#8221; Nó làm mềm đi sự nhạt nhẽo của kiến thức chuyên môn. Đừng nhầm tưởng rằng cứ nghiêm túc là phải giữ gương mặt không cảm xúc. Thực tế, tác phong &#8220;thanh niên nghiêm túc&#8221; chỉ hợp trong khán phòng&#8230; nhạc kịch. Một câu nói đủ duyên dáng không làm tri thức kém giá trị đi, nó đang hâm nóng bầu không khí lạnh lẽo vốn có của cả khán phòng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Hài hước là một cách &#8220;tạo cảm giác cùng phe&#8221;</strong></h2>



<p>Điều thú vị nhất là: tiếng cười trong học thuật thường đến từ cảm giác &#8220;À, mình cũng thế!&#8221;. Người ta cười khi diễn giả tự trào về một biểu đồ khó đọc hay những nỗi khổ không tên của đời nghiên cứu sinh. Tiếng cười lúc đó là dấu hiệu của sự đồng cảm. Nó xác nhận rằng chúng ta thuộc về cùng một cộng đồng, cùng chia sẻ những áp lực giống nhau.</p>



<p>Điều này giải thích vì sao meme về đời sống nghiên cứu sinh lại có sức sống mãnh liệt đến vậy. Đằng sau những tấm ảnh chế về việc bị từ chối bài báo hay sự bế tắc với quy trình phản biện là những căng thẳng đã bị dồn nén từ lâu. Chúng ta cười không chỉ vì vui, mà vì thấy mình không đơn độc trong một hành trình vốn dĩ rất lẻ loi (Nguyen et al., 2025).</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Không phải ai cũng được phép pha trò</strong></h2>



<p>Tuy nhiên, có một sự thật khá đắng chát: Không phải ai cũng có cùng &#8220;quyền&#8221; được hài hước. Dữ liệu cho thấy nam giới và những người bản ngữ thường dễ làm khán giả cười hơn. Trong môi trường chuyên môn, không phải ai cũng có đủ &#8220;khoảng an toàn&#8221; để lệch khỏi chuẩn mực.</p>



<p>Với nhiều nhà khoa học nữ hoặc những người ở vị thế thấp hơn, pha trò là một rủi ro nghề nghiệp. Họ sợ bị đánh giá là thiếu chuyên nghiệp hoặc không đủ năng lực. Vì vậy, hài hước không chỉ là kỹ năng, nó còn là vấn đề vị thế. Khi bàn về điều này, ta cần thấy cả những bất bình đẳng ngầm định: Ai được phép xuất hiện như một con người trọn vẹn, và ai phải luôn &#8220;gồng mình&#8221; để giữ hình ảnh an toàn?</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p>Mammola, S., Fontaneto, D., Santangeli, A., Oswald, K. N., Correia, R., Meierhofer, M. B., De Santis, V., &amp; Stout, V. (2026). <a href="https://doi.org/10.1098/rspb.2025.3000">Statistically significant chuckles: who is using humour at scientific conferences?</a> <em>Proceedings of the Royal Society B Biological Sciences</em>, <em>293</em>(2067). </p>



<p>Nguyen, T. B. A., Dinh, V., Phan, T. T. T., &amp; Pham, H. (2025). <a href="https://doi.org/10.1108/sgpe-09-2024-0096">Pile humor and distress: can we detect what doctoral students experience through memes they laugh at?</a> <em>Studies in Graduate and Postdoctoral Education</em>. </p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="chuyen-nghe" data-modified="120" data-title="Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/">Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 18 Mar 2026 00:21:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tin khác]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3002</guid>

					<description><![CDATA[<p>Một tối giữa tuần, sau khi đóng nốt vài tab công việc còn dang dở, Bình An vẫn chưa rời khỏi bàn. Máy tính đã im, nhưng đầu óc thì chưa. Cảm giác này không hẳn là khủng hoảng, cũng chưa đến mức kiệt sức hoàn toàn, nhưng đủ để anh nhận ra rằng mình [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/">Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Một cuộc đối thoại giữa Bình An và Bình AI về sức khỏe tinh thần, công việc và những khoảng nghỉ có ý nghĩa</em></p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1024x683.png" alt="" class="wp-image-3003" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@eysteve?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Steven Aguilar</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/man-holding-microphone-YC5R__f90SQ?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a></em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p>Một tối giữa tuần, sau khi đóng nốt vài tab công việc còn dang dở, Bình An vẫn chưa rời khỏi bàn. Máy tính đã im, nhưng đầu óc thì chưa. Cảm giác này không hẳn là khủng hoảng, cũng chưa đến mức kiệt sức hoàn toàn, nhưng đủ để anh nhận ra rằng mình đang ở trong trạng thái mệt mỏi kéo dài &#8211; một dạng quá tải khá phổ biến trong đời sống lao động hiện nay, đặc biệt với những người làm việc nhiều qua màn hình, thường xuyên online và khó tách bạch giữa giờ làm với giờ nghỉ.</p>



<p>Anh mở cuộc trò chuyện với Bình AI.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Dạo này mình có cảm giác là công việc không còn kết thúc ở giờ làm nữa. Máy có thể tắt, nhưng đầu óc thì không. Mình vẫn nghĩ đến việc đang dang dở, việc chưa trả lời, việc ngày mai phải xử lý. Làm ở nhà hay làm linh hoạt tưởng là dễ thở hơn, nhưng thực tế nhiều khi lại làm ranh giới biến mất.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một hiện tượng khá điển hình. Trong nghiên cứu về lao động số và sức khỏe tinh thần, người ta nói nhiều đến hiện tượng “sự hiện diện kéo dài của công việc” &#8211; tức là công việc không còn bị giới hạn trong không gian văn phòng hay trong một khung giờ cố định, mà bám theo người lao động qua điện thoại, laptop, email, nhóm chat, và cả thói quen tự giám sát chính mình.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe đúng thật. Có lúc mình không bị ai ép trực tiếp, nhưng vẫn tự cảm thấy phải phản hồi nhanh, phải làm thêm, phải sẵn sàng. Nó giống như áp lực đã nằm sẵn trong đầu mình rồi.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Vì trong nhiều môi trường làm việc hiện nay, đặc biệt ở các ngành dựa trên tri thức, người ta không chỉ lao động bằng thời gian mà còn bằng sự chú ý, khả năng suy nghĩ, và năng lực tự quản trị bản thân. Vấn đề là những nguồn lực đó không vô hạn. Khi không có ranh giới rõ ràng, con người rất dễ rơi vào trạng thái mệt kéo dài mà không nhận ra ngay.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ở Việt Nam còn có thêm một chuyện là người ta không quen gọi tên những trạng thái như vậy. Mệt thì nói là ráng. Quá tải thì nói là chắc ai cũng thế. Nhiều khi chưa đến mức phải đi gặp chuyên gia thì bản thân cũng không biết nên xử lý thế nào.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một điểm quan trọng. Trong bối cảnh Việt Nam, nhận thức về sức khỏe tinh thần đã cởi mở hơn trước, nhưng vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa việc “biết khái niệm” và việc thực sự xem nó là một phần của đời sống thường nhật. Nhiều người chỉ coi sức khỏe tinh thần là vấn đề khi mọi thứ đã trở nên nghiêm trọng. Trong khi trên thực tế, nó còn liên quan đến những câu hỏi rất cơ bản: mình có đang ngủ được không, có tập trung được không, có thấy mình luôn trong trạng thái cảnh giác hoặc cạn năng lượng không, có còn cảm giác kiểm soát được nhịp sống của mình không.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Tức là không nhất thiết phải “có bệnh” mới được quan tâm đến chuyện này.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Chính xác. Từ góc độ tâm lý học ứng dụng, sức khỏe tinh thần không phải là trạng thái hoặc hoàn toàn ổn, hoặc hoàn toàn bất ổn. Nó là một phổ liên tục. Ở đó, nhiều người vẫn đi làm, vẫn hoàn thành trách nhiệm, vẫn vận hành bình thường về bề ngoài, nhưng thực ra đang tiêu hao tâm lý ở mức đáng kể.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Mình thấy mấy năm nay người ta hay nói nhiều về “chăm sóc bản thân”, nhưng nhiều lúc nghe rất hình thức. Nó giống như thêm một danh sách việc phải hoàn thành hơn là thật sự giúp người ta hồi phục.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Phê bình đó có cơ sở. Trong nhiều trường hợp, “self-care” bị thương mại hóa thành một tập hợp sản phẩm, dịch vụ hay thói quen mang tính tiêu dùng. Nhưng nếu nhìn từ góc độ học thuật, điều quan trọng hơn là xem cá nhân có những điều kiện nào để phục hồi: thời gian nghỉ thực sự, quyền được ngắt kết nối, nhịp sống ít bị xâm lấn, quan hệ xã hội đủ an toàn, và những hoạt động giúp tái tạo năng lượng nhận thức. Nếu thiếu các điều kiện đó, thì việc “chăm sóc bản thân” rất dễ biến thành một nhiệm vụ áp lực khác.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Vậy nếu không nói theo kiểu khẩu hiệu, thì có cách nào thực tế hơn để giữ cân bằng không?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Có, và thường bắt đầu từ những cấu trúc rất nhỏ. Một trong những điều quan trọng nhất là thiết lập <strong>ranh giới mang tính nghi thức</strong> giữa công việc và đời sống riêng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>“Nghi thức” nghe hơi to tát.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Thật ra không cần phức tạp. Nghi thức ở đây chỉ là một hành động lặp lại, đủ rõ để bộ não hiểu rằng mình đang chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Với người làm việc từ xa, điều này đặc biệt quan trọng. Không gian sống ở Việt Nam nhiều khi không rộng, không phải ai cũng có phòng làm việc riêng. Có người làm ở bàn ăn, có người làm ở góc phòng ngủ, có người dùng chung không gian với cả gia đình. Trong điều kiện đó, mình khó phân tách bằng không gian, thì phải phân tách bằng thời gian và hành động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ví dụ?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Ví dụ hết giờ thì gập máy lại, cất sổ tay và dây sạc vào một chỗ cố định, thay áo, ra khỏi bàn làm việc, rồi làm một việc hoàn toàn không liên quan đến công việc như rửa chén, đi bộ, mua đồ ăn, tưới cây. Những hành động này tuy nhỏ nhưng có chức năng tâm lý rõ ràng: nó đánh dấu sự kết thúc. Nếu không có dấu mốc đó, công việc rất dễ kéo dài thành một trạng thái lưng chừng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe hợp lý. Mình nghĩ trước giờ mình xem nhẹ mấy việc đó vì nghĩ nó không trực tiếp giải quyết vấn đề.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Nó không giải quyết toàn bộ, nhưng nó tạo điều kiện để hệ thần kinh giảm cảnh giác. Và đó là nền tảng của phục hồi. Trong nghiên cứu về căng thẳng và hồi phục, người ta chỉ ra rằng khả năng chuyển ra khỏi trạng thái bị công việc chiếm lĩnh là một yếu tố quan trọng để ngăn mệt mỏi tích lũy.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nhưng ngoài chuyện nghỉ ngơi, mình nghĩ còn một vấn đề khác: nhiều lúc đầu óc cứ bị kẹt trong một guồng suy nghĩ lặp đi lặp lại. Lúc đó nghỉ kiểu ngồi yên không chắc đã hiệu quả.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Không phải mọi hình thức nghỉ đều giống nhau. Có một nhóm hoạt động đặc biệt hữu ích, đó là những hoạt động vừa đủ cuốn mình vào, vừa có tính xã hội, vừa không bị đánh giá bằng năng suất. Trong bối cảnh Việt Nam, một ví dụ rất thú vị là <strong>hát karaoke</strong>.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Karaoke? Nghe hơi bất ngờ đấy.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Nhưng hợp lý. Nếu nhìn karaoke chỉ như một hình thức giải trí bình dân thì hơi thiếu. Xét từ góc độ xã hội học văn hóa, karaoke ở Việt Nam là một thực hành cộng đồng rất đặc trưng. Nó cho phép người tham gia tạm rời khỏi vai trò nghề nghiệp, vai trò gia đình, áp lực hiệu suất, để bước vào một không gian tương tác khác nơi cảm xúc, ký ức, sự hài hước, và tính tập thể được kích hoạt.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nói cách khác là nó không chỉ là hát.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Nó còn là một cơ chế xả áp. Khi hát karaoke, người ta phải dùng hơi thở, phải chú ý đến giai điệu, lời bài hát, nhịp vào, và phản ứng của người xung quanh. Tức là trong một khoảng thời gian ngắn, sự chú ý được kéo ra khỏi luồng suy nghĩ căng thẳng thường ngày. Đồng thời, karaoke còn tạo ra một dạng kết nối xã hội tương đối dễ tiếp cận: không cần quá thân, không cần quá giỏi, không cần thành tích.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe vậy thì đúng là khác với công việc. Ở công việc mình luôn bị đo bằng hiệu quả, còn karaoke thì không ai cần mình hoàn hảo cả.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Chính điều đó làm nó có giá trị. Nhiều hoạt động phục hồi tâm lý hiệu quả không nằm ở thành tích, mà ở trải nghiệm được tham gia, được giải phóng chú ý, và được tồn tại trong một cộng đồng mà mình không phải tối ưu hóa liên tục. Với nhiều người Việt, karaoke có thêm một yếu tố nữa: nó gắn với ký ức tập thể. Từ những buổi liên hoan cơ quan, sinh nhật bạn bè, họp lớp, đến những quán nhỏ trong ngõ &#8211; karaoke là một phần của đời sống xã hội thường nhật, chứ không phải một hoạt động xa lạ hay đòi hỏi chuẩn bị đặc biệt.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Mình công nhận. Có những hôm đi hát với đám bạn, hát chẳng hay gì, nhưng xong thấy đầu nhẹ hơn thật. Không phải vì vấn đề biến mất, mà vì mình tạm thời thoát khỏi nó.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là điểm mấu chốt. Không phải hoạt động nào hỗ trợ sức khỏe tinh thần cũng phải “giải quyết vấn đề tận gốc”. Có những hoạt động giúp con người phục hồi bằng cách tạo ra khoảng cách tạm thời với áp lực, rồi từ đó quay lại đời sống với trạng thái dễ chịu và tỉnh táo hơn.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Vậy nghĩa là việc duy trì những mối kết nối ngoài công việc cũng quan trọng?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Rất quan trọng. Một trong những yếu tố bảo vệ sức khỏe tinh thần mạnh nhất, theo nhiều nghiên cứu, là cảm giác mình có liên hệ xã hội có ý nghĩa. Điều này không nhất thiết phải là những mạng lưới lớn hay những quan hệ quá sâu. Nó có thể là một nhóm bạn vẫn hẹn nhau mỗi tháng một lần, một cuộc gọi cố định với người thân, một buổi đá bóng, một nhóm chạy bộ, hoặc một nhóm karaoke cuối tuần. Điều quan trọng là con người có một nơi nào đó mà ở đó họ không chỉ được nhìn nhận như một người lao động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ở chỗ làm, nhiều khi người ta vẫn vô thức chia mức độ chính đáng của thời gian riêng. Ví dụ ai có con nhỏ thì dễ được thông cảm hơn. Còn người độc thân, hoặc chưa có gia đình riêng, thì mặc định là rảnh hơn.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một thiên kiến phổ biến. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, con người ai cũng có những nhu cầu và trách nhiệm ngoài công việc: chăm sóc cha mẹ lớn tuổi, thú cưng, bạn đời, bạn bè, đời sống cộng đồng, sinh hoạt tôn giáo, hoặc đơn giản là nhu cầu hồi phục cá nhân. Một môi trường làm việc lành mạnh không nên chỉ công nhận một vài loại trách nhiệm được xem là chuẩn, mà cần hiểu rằng thời gian và năng lượng của mỗi người đều có giới hạn và đều cần được tôn trọng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe như vậy thì giữ sức khỏe tinh thần không phải là chuyện cảm xúc đơn lẻ, mà còn là chuyện cấu trúc sống và văn hóa làm việc.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Nếu nói một cách học thuật hơn, sức khỏe tinh thần vừa là vấn đề cá nhân, vừa là vấn đề xã hội. Nó liên quan đến thói quen cá nhân, nhưng cũng gắn với tổ chức lao động, chuẩn mực văn hóa, điều kiện sống, khả năng tiếp cận hỗ trợ, và chất lượng các mối quan hệ. Vì vậy, giải pháp cũng không nên bị giản lược thành “cố tích cực lên” hay “quản lý cảm xúc tốt hơn”.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nếu phải kết lại thành mấy ý rõ ràng, cậu sẽ nói sao?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Có thể tóm gọn thế này:</p>



<p>Thứ nhất, mệt mỏi tinh thần không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng khủng hoảng rõ rệt; nhiều khi nó xuất hiện dưới dạng khó nghỉ, khó tập trung, và cảm giác công việc luôn bám theo mình.</p>



<p>Thứ hai, với người lao động hiện nay, việc dựng ranh giới giữa giờ làm và giờ nghỉ là một kỹ năng thiết yếu, không phải một sự xa xỉ.</p>



<p>Thứ ba, các hoạt động phục hồi hiệu quả thường không cần cầu kỳ; điều quan trọng là chúng giúp cơ thể và đầu óc chuyển trạng thái, giảm áp lực hiệu suất, và tạo lại cảm giác kết nối. Trong bối cảnh Việt Nam, karaoke là một ví dụ đáng chú ý vì nó vừa phổ biến, vừa mang tính cộng đồng, vừa có khả năng giải tỏa tâm lý tương đối tự nhiên.</p>



<p>Cuối cùng, sức khỏe tinh thần không nên bị xem là chuyện riêng mà cá nhân phải tự xoay xở hoàn toàn. Nó cần được nhìn nhận như một phần của chất lượng sống và chất lượng lao động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe ổn hơn nhiều so với mấy lời khuyên kiểu “yêu bản thân đi” mà mình hay thấy trên mạng.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Vì vấn đề này không cần khẩu hiệu. Nó cần những cách nhìn thực tế hơn, và những thói quen có thể duy trì được trong đời sống thật.</p>



<p>Bình An nhìn lại màn hình máy tính đã tối. Lần này anh không mở lại nữa. Anh đứng dậy, lấy điện thoại, nhắn vào nhóm bạn cũ một câu ngắn: “Cuối tuần đi karaoke không?”</p>



<p>Có thể công việc vẫn còn đó. Áp lực cũng chưa biến mất. Nhưng đôi khi, điều giúp một người quay lại trạng thái cân bằng không phải là một thay đổi lớn, mà là biết cách tạo ra những khoảng ngắt đúng lúc &#8211; đủ để đầu óc được nghỉ, đủ để cơ thể thở lại bình thường, và đủ để nhớ rằng cuộc sống không chỉ được đo bằng năng suất.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="tin-khac" data-modified="120" data-title="Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/">Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gen Z và thư viện đại học: Vẫn đọc sách, nhưng đọc theo cách khác</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/gen-z-va-thu-vien-dai-hoc-van-doc-sach-nhung-doc-theo-cach-khac/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/gen-z-va-thu-vien-dai-hoc-van-doc-sach-nhung-doc-theo-cach-khac/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 16 Mar 2026 00:18:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đổi mới]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2999</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nhiều thư viện đại học thường tổ chức các hoạt động như giới thiệu “sách hay nên đọc”, câu lạc bộ đọc sách, hoặc các chương trình khuyến đọc tương tự. Mục đích của những hoạt động này là giới thiệu các đầu sách đáng chú ý, khuyến khích sinh viên đọc ngoài giáo trình, [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/gen-z-va-thu-vien-dai-hoc-van-doc-sach-nhung-doc-theo-cach-khac/">Gen Z và thư viện đại học: Vẫn đọc sách, nhưng đọc theo cách khác</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Nhiều thư viện đại học thường tổ chức các hoạt động như giới thiệu “sách hay nên đọc”, câu lạc bộ đọc sách, hoặc các chương trình khuyến đọc tương tự. Mục đích của những hoạt động này là giới thiệu các đầu sách đáng chú ý, khuyến khích sinh viên đọc ngoài giáo trình, đồng thời hỗ trợ thư viện trong việc phát triển nguồn tài liệu. Trong một thời gian dài, đây cũng được xem như một dấu hiệu cho thấy văn hóa đọc trong môi trường đại học phát triển đến đâu.</p>



<p>Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mức độ tham gia vào các chương trình này ở nhiều trường có xu hướng giảm. Điều đó đặt ra một câu hỏi đáng chú ý: sinh viên ngày nay còn đọc sách không, và nếu có, họ đang đọc theo cách nào?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-1024x683.png" alt="" class="wp-image-3000" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-7-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@ccgabon?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Gabriel Sollmann</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/people-walking-inside-library-Y7d265_7i08?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading">Không phải ngừng đọc, mà là đọc theo cách mới</h2>



<p>Sự thay đổi này không hẳn cho thấy người trẻ quay lưng với việc đọc. Đúng hơn, nó phản ánh những biến chuyển lớn hơn trong thói quen đọc, cách sinh viên sử dụng thư viện, cũng như cách họ tìm đến sách và tài liệu. Những thay đổi này chịu tác động mạnh từ môi trường số, mạng xã hội, và các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo tạo sinh (generative AI).</p>



<p>Khi con người ngày càng phải chia nhỏ sự chú ý cho nhiều nền tảng và loại nội dung khác nhau, các hình thức khuyến đọc truyền thống cũng gặp không ít hạn chế. Dù vậy, các dữ liệu khảo sát vẫn cho thấy việc đọc chưa biến mất — nó chỉ đang diễn ra theo những hình thức khác, định dạng khác và trong những bối cảnh khác trước.</p>



<p>Để hiểu rõ hơn xu hướng này, cần nhìn vào các số liệu gần đây về hành vi đọc, đặc biệt là ở nhóm độc giả trẻ.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Ngày nay chúng ta đọc bao nhiêu?</h2>



<p>Các khảo sát trong khoảng mười năm trở lại đây cho thấy số lượng sách mà người trưởng thành ở Mỹ đọc đang giảm dần. Theo Gallup, năm 2021, một người trưởng thành ở Mỹ đọc trung bình 12,6 cuốn sách/năm, giảm so với 15,6 cuốn vào năm 2016. Dù khoảng ba phần tư người trưởng thành vẫn cho biết họ đọc ít nhất một cuốn sách mỗi năm, cường độ đọc nhìn chung đã giảm xuống.</p>



<p>Việc mở rộng định dạng đọc cũng chưa đủ để đảo ngược xu hướng này. Theo Pew Research Center, 65% người trưởng thành ở Mỹ đọc sách in, còn 30% đọc sách điện tử. Điều đó cho thấy việc tiếp cận sách dễ hơn chưa đồng nghĩa với việc con người sẽ đọc nhiều hơn.</p>



<p>Đọc vì sở thích cá nhân cũng giảm theo thời gian. Một phân tích từ American Time Use Survey, công bố trên tạp chí <em>iScience</em>, cho thấy vào năm 2023, chỉ khoảng 16% người trưởng thành ở Mỹ đọc để giải trí trong một ngày bình thường. Con số này tiếp tục nối dài xu hướng suy giảm của hoạt động đọc trong thời gian rảnh. Nói cách khác, điều đang giảm không hẳn là việc đọc nói chung, mà là thời gian và mức độ tập trung con người dành cho việc đọc.</p>



<p>Tuy vậy, một số định dạng mới lại đang phát triển, đặc biệt là sách nói. Đây đang trở thành một cách tiếp cận sách khá phù hợp với người trẻ. Theo Hiệp hội Các nhà xuất bản sách nói (Audio Publishers Association), hơn một nửa người trưởng thành ở Mỹ từng nghe ít nhất một cuốn sách nói, và doanh thu sách nói tại Mỹ đạt khoảng 2,22 tỷ USD trong năm 2024. Với sinh viên phải cân bằng giữa học tập, làm thêm và sinh hoạt cá nhân, sách nói mở ra cơ hội tiếp cận sách trong lúc di chuyển, tập thể dục hoặc làm những công việc thường ngày.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Gen Z vẫn đọc, nhưng đọc khác đi</h2>



<p>Trái với nỗi lo rằng người trẻ bị màn hình làm cho mất hẳn thói quen đọc, thực tế cho thấy <strong>Gen Z không ngừng đọc, mà đang thay đổi cách đọc</strong>.</p>



<p>Ngày nay, các nền tảng như TikTok, Instagram hay YouTube đóng vai trò rất lớn trong việc giúp người trẻ biết đến sách. Theo khảo sát với hơn 2.000 người đọc trong độ tuổi 16-25 do Hiệp hội Các nhà xuất bản Vương quốc Anh thực hiện, gần <strong>60%</strong> cho biết BookTok hoặc các nhà sáng tạo nội dung về sách đã giúp họ tìm ra sách mới hoặc khiến họ hứng thú hơn với việc đọc. Điều này cho thấy việc khám phá sách giờ đây không còn chỉ diễn ra qua nhà trường, thư viện hay hiệu sách, mà còn thông qua mạng xã hội và các cộng đồng trực tuyến.</p>



<p>Bên cạnh đó, AI và các nền tảng đọc số cũng đang làm thay đổi cách sinh viên đọc tài liệu học thuật. Những công cụ như ChatGPT có thể hỗ trợ tóm tắt nội dung, ghi chú hoặc giải thích văn bản; trong khi các nền tảng như Perusall hỗ trợ chú thích chung, thảo luận nhóm và tăng tương tác với tài liệu học. Nhiều cơ sở dữ liệu học thuật lớn như Elsevier hay Gale cũng đang dần tích hợp các tính năng AI để hỗ trợ tìm kiếm và phân tích tài liệu.</p>



<p>Những công cụ này giúp việc đọc trở nên nhanh và thuận tiện hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra những câu hỏi mới: liệu người học có còn đọc sâu hay không, ranh giới nào cần được đặt ra để bảo đảm tính trung thực học thuật, và AI nên được sử dụng như thế nào một cách có đạo đức? Đây là những vấn đề mà thư viện và giảng viên mới chỉ bắt đầu tìm hiểu nghiêm túc.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Cách sử dụng thư viện đại học đang thay đổi</h2>



<p>Những xu hướng trên cũng thể hiện khá rõ trong dữ liệu luân chuyển tài liệu của thư viện đại học. Ở nhiều ngành như Ngữ văn, Lịch sử và một số lĩnh vực khoa học xã hội, sinh viên đại học hiện nay thường chỉ mượn dưới hai cuốn sách in mỗi học kỳ, trong khi khoảng mười năm trước con số này phổ biến ở mức ba đến bốn cuốn.</p>



<p>Trong khi đó, việc sử dụng tài liệu số lại tăng lên. Sinh viên ngày càng kết hợp giữa sách in, sách điện tử và tạp chí trực tuyến để phù hợp với môi trường học tập kết hợp trực tiếp – trực tuyến.</p>



<p>Nhu cầu đọc cũng ngày càng tập trung hơn vào những tài liệu phục vụ trực tiếp cho việc học và nghề nghiệp. Trong một ví dụ gần đây, 30 tài liệu được mượn nhiều nhất trong năm 2025 tại một thư viện đại học chủ yếu là sách ôn thi điều dưỡng và tài liệu tham khảo theo chuyên ngành; chỉ có một đầu sách văn học xuất hiện trong danh sách này. Điều đó phản ánh một xu hướng rõ rệt: sinh viên ưu tiên các tài liệu phục vụ mục tiêu nghề nghiệp, thi cử và học tập thực dụng hơn là đọc văn học hay đọc giải trí.</p>



<p>Sự thay đổi này diễn ra trong bối cảnh số lượng sách xuất bản vẫn tiếp tục tăng. Theo dữ liệu ISBN của Bowker, số đầu sách tự xuất bản tại Mỹ vượt 2,3 triệu trong năm 2021. Điều này cho thấy nguồn cung sách ngày càng dồi dào, nhưng trong thực tế, chỉ một phần rất nhỏ có thể thực sự nổi bật hoặc tiếp cận được đến người đọc.</p>



<p>Trong bối cảnh đó, tại nhiều thư viện đại học, các bộ sưu tập kiểu “sách hay nên đọc” hoặc những đầu sách dựa trên danh sách bán chạy dường như không còn thu hút sự quan tâm mạnh như trước.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Hàm ý cho nhà xuất bản và thư viện</h2>



<p>Đối với nhà xuất bản, những thay đổi trong hành vi đọc cho thấy điều cần thiết không phải là thay đổi hoàn toàn cách làm sách, mà là điều chỉnh cách để sách được người đọc tìm thấy. Ngày nay, việc khám phá sách thường bắt đầu từ những nơi nằm ngoài các kênh truyền thống, chẳng hạn như mạng xã hội, đề cương môn học, hay các nền tảng học tập số. Vì thế, những yếu tố như trích đoạn ngắn, chương đọc thử, hoặc thông tin giới thiệu trực quan, dễ tiếp cận có thể giúp nối liền khoảng cách giữa việc “biết đến một cuốn sách” và việc thực sự ngồi xuống để đọc nó.</p>



<p>Trong xuất bản học thuật và chuyên ngành, những định dạng hỗ trợ ghi chú, truy cập theo từng phần nội dung, hoặc dễ tích hợp vào hoạt động giảng dạy cũng ngày càng phù hợp hơn với cách Gen Z tiếp cận văn bản.</p>



<p>Về phía thư viện đại học, thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động khuyến đọc độc lập, có thể cần gắn việc đọc chặt hơn với quá trình học tập. Điều này có thể thực hiện qua học liệu dự trữ theo môn học, cung cấp tài liệu ở nhiều định dạng khác nhau, và phối hợp với giảng viên để đưa tài liệu thư viện vào hoạt động trên lớp. Dữ liệu mượn trả cho thấy sinh viên có xu hướng phản hồi tích cực hơn với những tài liệu mà họ thấy rõ giá trị học tập, dễ tiếp cận, và có nhiều lựa chọn về hình thức sử dụng.</p>



<p>Thư viện cũng có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn sinh viên sử dụng các công cụ AI một cách hiệu quả và có trách nhiệm, sao cho công nghệ không thay thế năng lực đọc hiểu, mà hỗ trợ tốt hơn cho việc đọc phản biện và diễn giải nội dung.</p>



<p>Nhìn chung, để hỗ trợ thói quen đọc của Gen Z, có lẽ điều quan trọng không phải là cố gắng khôi phục nguyên trạng các mô hình cũ, mà là thích ứng với cách người trẻ hiện đang học, chọn tài liệu và tiếp cận văn bản. Việc đọc vẫn giữ vai trò trung tâm trong môi trường học thuật. Nhưng ngày nay, hoạt động đó diễn ra trong một hệ sinh thái mới &#8211; nơi có khám phá số, gợi ý từ mạng xã hội, công cụ AI, và áp lực tối ưu hóa thời gian. Với cả nhà xuất bản lẫn thư viện, câu hỏi không còn là “người trẻ còn đọc hay không”, mà là “làm thế nào để hỗ trợ họ đọc theo đúng cách họ đang sống và học hôm nay.”</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2026/03/12/guest-post-gen-z-and-academic-libraries-reading-but-differently/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="doi-moi" data-modified="120" data-title="Gen Z và thư viện đại học: Vẫn đọc sách, nhưng đọc theo cách khác" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/gen-z-va-thu-vien-dai-hoc-van-doc-sach-nhung-doc-theo-cach-khac/">Gen Z và thư viện đại học: Vẫn đọc sách, nhưng đọc theo cách khác</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/gen-z-va-thu-vien-dai-hoc-van-doc-sach-nhung-doc-theo-cach-khac/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Căng thẳng đang nổ ra ở bên kia bán cầu, nhưng những rung chấn đang lan vào đời sống học thuật</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/cang-thang-dang-no-ra-o-ben-kia-ban-cau-nhung-nhung-rung-chan-dang-lan-vao-doi-song-hoc-thuat/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/cang-thang-dang-no-ra-o-ben-kia-ban-cau-nhung-nhung-rung-chan-dang-lan-vao-doi-song-hoc-thuat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Mar 2026 00:38:54 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3005</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trong vài năm qua, thế giới chứng kiến nhiều cuộc xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều nơi. Với nhiều người sống ở những khu vực không trực tiếp bị chiến tranh tàn phá, các cuộc xung đột đó thường được theo dõi qua tin tức, qua mạng xã hội, hoặc qua những bản [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cang-thang-dang-no-ra-o-ben-kia-ban-cau-nhung-nhung-rung-chan-dang-lan-vao-doi-song-hoc-thuat/">Căng thẳng đang nổ ra ở bên kia bán cầu, nhưng những rung chấn đang lan vào đời sống học thuật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Trong vài năm qua, thế giới chứng kiến nhiều cuộc xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều nơi. Với nhiều người sống ở những khu vực không trực tiếp bị chiến tranh tàn phá, các cuộc xung đột đó thường được theo dõi qua tin tức, qua mạng xã hội, hoặc qua những bản phân tích chính trị quốc tế. Cảm giác phổ biến là chiến tranh diễn ra ở một nơi xa xôi, còn đời sống thường nhật ở nơi mình sống vẫn tiếp tục tương đối bình thường. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hơn vào các mạng lưới toàn cầu kết nối khoa học, giáo dục và xuất bản học thuật, có thể thấy rằng chiến tranh và căng thẳng địa chính trị không dừng lại ở chiến trường. Chúng lan dần vào những lĩnh vực tưởng như trung lập nhất, trong đó có cộng đồng học thuật.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="689" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9-689x1024.png" alt="" class="wp-image-3006" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9-689x1024.png 689w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9-202x300.png 202w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9-768x1142.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9-1033x1536.png 1033w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-9.png 1291w" sizes="(max-width: 689px) 100vw, 689px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@bostonpubliclibrary?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Boston Public Library</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/a-book-cover-with-a-man-putting-books-on-top-of-a-pile-of-books-ocuPkd0LCVQ?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>Học thuật từ lâu vẫn tự hình dung như một không gian xuyên biên giới, nơi tri thức được trao đổi tương đối tự do giữa các quốc gia. Những nhà nghiên cứu ở các châu lục khác nhau có thể hợp tác trong cùng một dự án, gửi bài cho cùng một tạp chí, tham gia cùng một hội thảo khoa học. Mạng lưới đó được xây dựng trên giả định rằng tri thức khoa học có giá trị phổ quát và có thể vượt qua các khác biệt chính trị. Tuy nhiên, khi căng thẳng địa chính trị gia tăng, giả định này ngày càng trở nên mong manh. Các lệnh trừng phạt kinh tế, những hạn chế về công nghệ, các quy định kiểm soát tài chính và cả các cuộc tấn công mạng đã bắt đầu tác động trực tiếp đến các hoạt động nghiên cứu và xuất bản.</p>



<p>Một trải nghiệm rất gần đây của đồng nghiệp khiến tôi nhận ra rõ hơn mức độ mong manh đó. Một người trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi vừa nộp bài cho một tạp chí có nhà xuất bản đặt tại Iran. Việc nộp bài diễn ra bình thường và không ai nghĩ rằng nó sẽ liên quan đến bất kỳ vấn đề nào ngoài quy trình phản biện khoa học. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, trang web của tạp chí đó dường như không thể truy cập được nữa. Ban đầu chúng tôi nghĩ đây chỉ là một sự cố kỹ thuật. Nhưng khi kiểm tra lại nhiều lần và đọc thêm các thông tin từ những nguồn khác, khả năng cao là hệ thống của nhà xuất bản đã bị tấn công hoặc bị gián đoạn trong bối cảnh căng thẳng khu vực leo thang.</p>



<p>Sự cố đó không gây ra hậu quả trực tiếp nghiêm trọng cho chúng tôi. Bài báo có thể sẽ được nộp lại ở nơi khác, và công việc nghiên cứu vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, trải nghiệm này làm lộ ra một thực tế ít khi được nhắc đến trong các cuộc thảo luận về chiến tranh. Khi cơ sở hạ tầng số của một nhà xuất bản bị gián đoạn, những người bị ảnh hưởng đầu tiên không phải là các tổ chức lớn ở trung tâm của hệ thống học thuật toàn cầu. Những người bị ảnh hưởng nhiều hơn thường là các nhà nghiên cứu, biên tập viên và nhân viên xuất bản ở những nơi đang ở gần vùng căng thẳng hoặc chịu tác động trực tiếp của các xung đột địa chính trị.</p>



<p>Trong nhiều thập niên, hệ thống xuất bản học thuật quốc tế đã phát triển theo hướng tập trung hóa. Một số nhà xuất bản lớn ở Bắc Mỹ và châu Âu kiểm soát phần lớn các tạp chí có ảnh hưởng cao. Tuy nhiên, bên cạnh các trung tâm đó vẫn tồn tại một mạng lưới rộng lớn gồm các tạp chí khu vực, các nhà xuất bản nhỏ, và các cộng đồng học thuật địa phương. Những hệ sinh thái này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng tri thức, tạo cơ hội công bố cho các nhà nghiên cứu ở nhiều khu vực khác nhau và phản ánh các vấn đề học thuật mang tính địa phương. Khi chiến tranh hoặc căng thẳng chính trị làm gián đoạn hạ tầng công nghệ, tài chính hoặc mạng lưới quốc tế của các nhà xuất bản ở những khu vực này, sự gián đoạn đó thường ít được chú ý hơn, nhưng tác động lâu dài của nó có thể rất lớn.</p>



<p>Trải nghiệm với trang web tạp chí nói trên khiến tôi nghĩ nhiều hơn về những đồng nghiệp ở những nơi mà chúng ta chỉ đọc thấy trên bản tin thời sự. Đối với họ, chiến tranh không chỉ là một sự kiện chính trị mà còn là một chuỗi các gián đoạn rất cụ thể trong đời sống nghề nghiệp. Mạng internet có thể bị hạn chế. Các dịch vụ thanh toán quốc tế có thể ngừng hoạt động. Các hội thảo khoa học bị hủy bỏ. Các hệ thống quản lý tạp chí có thể bị tấn công mạng hoặc ngừng vận hành vì thiếu nguồn lực kỹ thuật. Trong những điều kiện như vậy, việc duy trì một tạp chí khoa học, tổ chức phản biện bài báo hay thậm chí chỉ là giữ cho một trang web hoạt động ổn định đã trở thành một thách thức.</p>



<p>Điều đáng chú ý là cộng đồng học thuật thường nói rất nhiều về tính toàn cầu của khoa học, nhưng lại ít khi suy nghĩ về mức độ phụ thuộc của khoa học vào những hạ tầng vật chất và chính trị cụ thể. Một bài báo khoa học có thể được viết với tham vọng đóng góp cho tri thức nhân loại, nhưng để bài báo đó được xuất bản, nó phải đi qua một chuỗi hạ tầng bao gồm máy chủ, hệ thống quản lý bản thảo, mạng internet ổn định, dịch vụ thanh toán quốc tế, và các quy định pháp lý cho phép trao đổi dữ liệu xuyên biên giới. Khi chiến tranh hoặc căng thẳng địa chính trị làm gián đoạn một mắt xích trong chuỗi đó, toàn bộ hệ thống trao đổi tri thức có thể bị ảnh hưởng.</p>



<p>Từ góc độ này, những sự cố tưởng chừng nhỏ như một trang web tạp chí không truy cập được lại có thể được xem như một dấu hiệu của những thay đổi sâu hơn trong hệ sinh thái học thuật toàn cầu. Chúng nhắc chúng ta rằng học thuật không tồn tại trong một không gian tách biệt khỏi thế giới chính trị. Ngược lại, nó được gắn chặt với các cấu trúc kinh tế, công nghệ và quyền lực đang định hình thế giới hiện đại.</p>



<p>Đối với những người làm nghiên cứu ở những nơi không trực tiếp bị chiến tranh ảnh hưởng, những gián đoạn này đôi khi chỉ là một bất tiện tạm thời. Nhưng đối với các đồng nghiệp ở những khu vực chịu sức ép địa chính trị lớn hơn, chúng có thể là một phần của một thực tế nghề nghiệp ngày càng bấp bênh. Điều đó đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ cho cộng đồng học thuật quốc tế. Nếu khoa học thực sự là một nỗ lực mang tính toàn cầu, thì việc duy trì các điều kiện để tri thức có thể được trao đổi tự do và bền vững không chỉ là một vấn đề kỹ thuật. Nó cũng là một vấn đề về trách nhiệm và về sự đoàn kết giữa những người làm khoa học ở các bối cảnh rất khác nhau.</p>



<p>Chiến tranh có thể diễn ra ở bên kia bán cầu. Nhưng những rung chấn của nó, đôi khi rất âm thầm, vẫn đang lan dần vào các không gian mà chúng ta thường nghĩ là ổn định nhất, bao gồm cả thế giới học thuật. Khi một trang web tạp chí đột nhiên biến mất khỏi mạng internet, đó không chỉ là một sự cố kỹ thuật. Trong nhiều trường hợp, nó là một dấu hiệu nhỏ cho thấy những căng thẳng của thế giới đang len vào những mạng lưới tri thức mà chúng ta vẫn thường coi là vượt lên trên biên giới.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Căng thẳng đang nổ ra ở bên kia bán cầu, nhưng những rung chấn đang lan vào đời sống học thuật" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cang-thang-dang-no-ra-o-ben-kia-ban-cau-nhung-nhung-rung-chan-dang-lan-vao-doi-song-hoc-thuat/">Căng thẳng đang nổ ra ở bên kia bán cầu, nhưng những rung chấn đang lan vào đời sống học thuật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/cang-thang-dang-no-ra-o-ben-kia-ban-cau-nhung-nhung-rung-chan-dang-lan-vao-doi-song-hoc-thuat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tôn vinh một nửa của giới học thuật</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/ton-vinh-mot-nua-cua-gioi-hoc-thuat/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/ton-vinh-mot-nua-cua-gioi-hoc-thuat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 09 Mar 2026 01:45:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2988</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vào Ngày Quốc tế Phụ nữ, chúng ta tôn vinh những người tiên phong trong công nghệ đã và đang khơi dậy cảm hứng cho thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai. Ngày Quốc tế Phụ nữ Tất cả phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu đều xứng đáng được công [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ton-vinh-mot-nua-cua-gioi-hoc-thuat/">Tôn vinh một nửa của giới học thuật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Vào Ngày Quốc tế Phụ nữ, chúng ta tôn vinh những người tiên phong trong công nghệ đã và đang khơi dậy cảm hứng cho thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-5-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2990" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-5-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-5-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-5-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-5.png 1170w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@nci?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">National Cancer Institute</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/grayscale-photography-of-woman-standing-infront-of-table-roZ52cNNQuo?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a></em> | Unsplash License</figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Ngày Quốc tế Phụ nữ</strong></h2>



<p>Tất cả phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu đều xứng đáng được công nhận vì những đóng góp quý giá và đa dạng mà họ mang lại &#8211; không chỉ vào Ngày Quốc tế Phụ nữ. Trong bài viết này, các tác giả làm nổi bật ba nhà nghiên cứu xuất sắc. Họ là những người nhận Giải thưởng Phụ nữ trong Công nghệ Sony cùng với Nature năm 2026, được công bố hồi tháng trước tại một buổi lễ ở Tokyo. Ba giải thưởng này công nhận những nghiên cứu xuất sắc mang lại lợi ích cho xã hội và hành tinh.</p>



<p>Xiwen Gong, một kỹ sư hóa học tại Đại học Michigan ở Ann Arbor, đã nhận giải thưởng dành cho nhà nghiên cứu giai đoạn đầu sự nghiệp nhờ nghiên cứu về vật liệu có ứng dụng từ năng lượng tái tạo đến chăm sóc sức khỏe. Một trong những mối quan tâm của Gong là pin mặt trời làm từ một loại vật liệu tinh thể gọi là perovskite. Những pin mặt trời này hoạt động tương tự như pin dựa trên silicon: chúng tạo ra electron sau khi hấp thụ ánh sáng. Tuy nhiên, điểm khác biệt chính là lớp hấp thụ ánh sáng chủ đạo là perovskite hữu cơ–vô cơ lai, thay vì silicon.</p>



<p>Những perovskite này có tiềm năng ưu việt hơn silicon, vì chúng tạo ra electron hiệu quả hơn và lớp vật liệu hấp thụ ánh sáng có thể mỏng hơn. Điều này có nghĩa là chúng cần ít năng lượng hơn để sản xuất và cuối cùng sẽ rẻ hơn. Nhưng chúng kém ổn định hơn: cấu trúc có thể thay đổi sau khi tiếp xúc với các yếu tố như ánh sáng, nhiệt và độ ẩm, khiến chúng kém đáng tin cậy hơn so với pin mặt trời silicon.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Giới tính chưa bao giờ định nghĩa được năng lực</strong></h2>



<p>Gong và các đồng nghiệp của cô đã nỗ lực cải thiện độ ổn định của pin perovskite trong điều kiện thực tế, chẳng hạn bằng cách thêm các chất phụ gia có hình dạng và kích cỡ khác nhau rồi đo lường tác động của chúng. Vào năm 2024, họ phát hiện rằng các chất phụ gia cồng kềnh dẫn đến ít khuyết tật cấu trúc hơn so với những chất ít cồng kềnh¹.</p>



<p>Trong hạng mục giai đoạn giữa sự nghiệp, ban giám khảo công nhận kỹ sư y sinh Ellen Roche tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge nhờ các nghiên cứu thúc đẩy thiết bị y tế cấy ghép và đeo được. Một thiết bị như vậy được thiết kế để hỗ trợ cơ tim ở những người suy tim bằng cách mô phỏng các cơn co sinh lý của cơ quan². Thiết bị khác là bằng chứng khái niệm cho một thiết bị dự định thay thế hoặc bổ sung cho thông khí cơ học ở những người mất chức năng cơ hoành do các bệnh thần kinh cơ tiến triển³.</p>



<p>Người chiến thắng thứ hai ở hạng mục giữa sự nghiệp là Zhen Xu, kỹ sư y sinh kiêm bác sĩ phẫu thuật tại Đại học Michigan. Cô được công nhận vì đồng phát minh công nghệ gọi là histotripsy. Công nghệ này sử dụng siêu âm để thực hiện phẫu thuật không xâm lấn nhắm vào mô khối u ở các cơ quan như gan. Công nghệ hoạt động bằng cách tạo ra các đám mây vi bọt dao động có kiểm soát thông qua quá trình gọi là cavitation. Những vi bọt này nghiền nát tế bào một cách có mục tiêu, mà không tạo nhiệt hoặc bức xạ ion hóa. Vào năm 2023, hơn mười năm sau phát hiện của Xu⁴, histotripsy đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt để điều trị khối u gan.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Đứng trên vai những người khổng lồ</strong></h2>



<p>Mặc dù đang làm việc trên những vấn đề đa dạng, ba nhà khoa học này đều chia sẻ cam kết hợp tác và làm việc liên ngành. Sự thật rằng những người tiên phong ngày nay đang đứng trên vai những người khổng lồ cũng được nhấn mạnh trong một bài viết Đặc trưng Nghề nghiệp Nature. Trong đó, chúng tôi đã hỏi các nhà nghiên cứu nữ từng đoạt giải Sony hoặc các giải thưởng khác của Nature để đề cử đồng nghiệp mang lại điều tốt nhất cho họ.</p>



<p>“Không ai giống như cô ấy”: gặp gỡ những đồng nghiệp nữ truyền cảm hứng cho các nhà khoa học nữ đoạt giải</p>



<p>Nhà dịch tễ học Chelsea Polis tại Viện Guttmacher ở Thành phố New York, người đoạt Giải John Maddox năm 2023, công nhận khoa học đối mặt với nghịch cảnh, viết về người hướng dẫn Onikepe Owolabi, phó chủ tịch nghiên cứu của viện: “Điều thực sự khiến Oni nổi bật là cách cô ấy nâng đỡ người khác. Cô ấy là một người lắng nghe sâu sắc, ủng hộ ý tưởng của người khác, khuyến khích đồng nghiệp tin vào bản thân và truyền cảm hứng bằng những ý tưởng táo bạo cùng kiến thức bách khoa của mình. Oni đã thay đổi hướng đi của cuộc đời và sự nghiệp tôi theo nhiều cách.”</p>



<p>Yating Wan, kỹ sư điện và máy tính tại Đại học Khoa học và Công nghệ King Abdullah ở Thuwal, Ả Rập Xê Út, và là một trong những người đoạt giải Sony năm ngoái, viết về người hướng dẫn tiến sĩ của mình, Kei May Lau tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông: “Cô ấy thực sự quan tâm đến sự phát triển của sinh viên. Cô ấy thường nói rằng thành tựu tự hào nhất của mình là các sinh viên và nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, và cô ấy luôn thúc đẩy chúng tôi nhắm đến cao hơn những gì chúng tôi nghĩ mình có thể đạt được.”</p>



<p>Tất cả những người đoạt giải của chúng tôi, cùng với những người đã hướng dẫn và hỗ trợ họ, đã thúc đẩy khoa học tiên tiến và đang nỗ lực cải thiện cuộc sống của người khác. Vào Ngày Quốc tế Phụ nữ này, chúng tôi tôn vinh họ và công nhận rằng khoa học tốt đẹp đến từ sự hướng dẫn hào phóng, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Nếu không có sự công nhận đó, chúng ta có nguy cơ không chỉ thất bại với những nhà nghiên cứu truyền cảm hứng này, mà còn với chính khoa học.</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-026-00761-z">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Tôn vinh một nửa của giới học thuật" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ton-vinh-mot-nua-cua-gioi-hoc-thuat/">Tôn vinh một nửa của giới học thuật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/ton-vinh-mot-nua-cua-gioi-hoc-thuat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đừng xem nhẹ các nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/dung-xem-nhe-cac-nghien-cuu-xuat-phat-tu-su-to-mo/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/dung-xem-nhe-cac-nghien-cuu-xuat-phat-tu-su-to-mo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 02 Mar 2026 03:25:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2977</guid>

					<description><![CDATA[<p>Khắp nơi trên thế giới, các chính phủ đang yêu cầu kinh phí nghiên cứu phải bám sát các ưu tiên chính trị rộng lớn hơn. Họ nên thận trọng với những gì mình đang kỳ vọng. Tháng trước, cộng đồng nghiên cứu tại Vương quốc Anh phát hiện ra rằng những thay đổi lớn [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/dung-xem-nhe-cac-nghien-cuu-xuat-phat-tu-su-to-mo/">Đừng xem nhẹ các nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Khắp nơi trên thế giới, các chính phủ đang yêu cầu kinh phí nghiên cứu phải bám sát các ưu tiên chính trị rộng lớn hơn. Họ nên thận trọng với những gì mình đang kỳ vọng.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2979" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-1-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@garybpt?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Gary Butterfield</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/white-printer-paper-on-glass-wall-YG8rZ323UsU?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>Tháng trước, cộng đồng nghiên cứu tại Vương quốc Anh phát hiện ra rằng những thay đổi lớn đối với các khoản tài trợ nghiên cứu khoa học đang được thực hiện. Cơ quan tài trợ khoa học quốc gia của nước này, Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Vương quốc Anh (UKRI), đã tạm dừng các chương trình cấp vốn hiện có cho nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học y khoa, sinh học và vật lý. Trong khi đó, ban lãnh đạo cơ quan này đang tính toán cách để các quyết định tài trợ trong tương lai có thể liên kết chặt chẽ hơn với các mục tiêu của chính phủ.</p>



<p>Đây là một đòn giáng nặng nề, có thể chấm dứt sự nghiệp của những người sắp kết thúc hợp đồng ngắn hạn và những người đang chờ được cấp hoặc gia hạn kinh phí, John Tregoning – nhà miễn dịch học tại Đại học Hoàng gia London – viết trong một bài báo trên chuyên mục <em>World View</em>. Ông nói: “Việc khiến nghiên cứu bị dừng lại đột ngột không phải là cách để cải thiện nó.”</p>



<h2 class="wp-block-heading">Tài trợ khoa học cần được sửa đổi &#8211; nhưng không phải thông qua các cuộc cải cách hỗn loạn</h2>



<p>Diễn biến tại Anh chỉ là ví dụ mới nhất trong một xu hướng đang nổi lên ở nhiều nơi trên thế giới: các chính phủ yêu cầu được can thiệp nhiều hơn vào việc loại nghiên cứu nào được cấp vốn. Ảnh hưởng chính trị đối với tài trợ nghiên cứu công luôn tồn tại, và một mức độ liên kết nhất định giữa tài trợ với các ưu tiên quốc gia rộng lớn là cần thiết.</p>



<p>Dù vậy, các chính phủ nên hiểu rõ rủi ro khi can thiệp vào tài trợ nghiên cứu ở mức độ lớn hơn so với những năm trước. Đặc biệt, họ nên cẩn thận để không xem nhẹ loại <strong>nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò (curiosity-driven research)</strong> do nhà khoa học dẫn dắt — loại hình nghiên cứu vốn có bề dày thành tích trong việc thúc đẩy tri thức nhân loại và tạo ra những đổi mới mà sự thịnh vượng cũng như phúc lợi xã hội đang phụ thuộc vào.</p>



<p>Chính phủ Anh hứa hẹn ngân sách của UKRI sẽ tăng từ khoảng 9,2 tỷ bảng Anh (12,5 tỷ USD) trong năm tài chính 2026–27 lên 9,8 tỷ bảng vào năm 2029–30. Đồng thời, các nhà tài trợ nghiên cứu đã nhận được “chỉ thị rõ ràng từ chính phủ” về việc điều chỉnh chi tiêu sao cho phù hợp hơn với “các ưu tiên của quốc gia và xã hội”, Ian Chapman, người đứng đầu UKRI, viết trong một bức thư ngỏ. Động thái này đang gây ra nhiều câu hỏi từ các nhà nghiên cứu. Ví dụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là ưu tiên cốt lõi của chính phủ Anh. Vậy liệu các nhà nghiên cứu trong mọi lĩnh vực có bị kỳ vọng phải đóng góp vào sự tăng trưởng đó không?</p>



<p>Vương quốc Anh không phải là quốc gia duy nhất yêu cầu các nhà nghiên cứu phải làm việc theo ưu tiên của chính phủ. Tại Hoa Kỳ, chính phủ liên bang đã cố gắng cắt giảm mạnh ngân sách, đồng thời nêu rõ rằng các quyết định tài trợ cần phản ánh các ưu tiên của mình. Điều này dẫn đến việc cắt vốn cho các nghiên cứu về biến đổi khí hậu, sức khỏe phụ nữ, cũng như các nghiên cứu về đa dạng, công bằng và hòa nhập; đồng thời quốc gia này cũng đã thu hẹp quy mô hợp tác quốc tế.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Quỹ nghiên cứu Horizon của EU cần duy trì là khu vực phi quân sự</h2>



<p>Liên minh Châu Âu cũng không ngoại lệ. Với việc nhiều nước EU đang trong tình trạng chuẩn bị cho chiến tranh, Ủy ban Châu Âu đang có kế hoạch phá bỏ một quy ước lâu đời để đưa nghiên cứu quốc phòng thành một chủ đề cho giai đoạn tiếp theo của <em>Horizon Europe</em> &#8211; chương trình tài trợ khoa học lớn nhất thế giới. Tháng 10 năm ngoái, chính phủ Ý thông báo kế hoạch tái cấu trúc hệ thống tài trợ khoa học của đất nước. Các bộ trưởng cần cưỡng lại sự cám dỗ của việc tập trung hóa hệ thống, và các chính phủ EU nên tránh tăng cường can thiệp vào các quyết định tài trợ.</p>



<p>Cách tiếp cận như vậy thể hiện tầm nhìn ngắn hạn về việc khoa học đóng góp cho sự thịnh vượng kinh tế lâu dài như thế nào. Nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò có thể dẫn đến những đổi mới nằm ngoài dự tính ban đầu của các nhà khoa học.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Kỹ thuật PCR:</strong> Một phương pháp tạo ra hàng nghìn bản sao các đoạn DNA một cách nhanh chóng, xuất phát từ nghiên cứu về vi khuẩn tìm thấy trong suối nước nóng. Công cụ này hiện nay là thiết yếu cho nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực, bao gồm di truyền và y học.</li>



<li><strong>Chụp cộng hưởng từ (MRI):</strong> Một trụ cột của y học hiện đại, là kết quả của các nghiên cứu về tính chất vật lý cơ bản của hạt nhân nguyên tử.</li>
</ul>



<p>Con đường dẫn đến những khám phá như vậy thường không thể dự đoán trước, cũng không tuân theo thời hạn của một chu kỳ cấp vốn thông thường. Điều thú vị là Trung Quốc, nơi vai trò của nhà nước trong khoa học lịch sử vốn mạnh hơn Mỹ và phần lớn châu Âu, lại đang áp dụng một cách tiếp cận khác: họ đang tăng cường tài trợ cho nghiên cứu cơ bản.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Từ MRI đến Ozempic: Những đột phá cho thấy tại sao nghiên cứu cơ bản phải được bảo vệ</h2>



<p>Việc cắt giảm ngân sách khoa học không phải là hiếm gặp. Tuy nhiên, trong vài năm qua, ngân sách của một số quốc gia đã được bảo vệ khỏi sự cắt giảm nhờ sự đồng thuận ngày càng tăng rằng chi tiêu cho nghiên cứu sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng lúc đó, không phải ngẫu nhiên mà các chính phủ lại quan tâm sâu sát hơn đến việc nghiên cứu nào đang được tài trợ.</p>



<p>Họ có mọi quyền để quyết định cách chi tiêu ngân sách công, đặc biệt là trong thời kỳ khan hiếm. Không có lĩnh vực nào được mặc định có quyền tiêu tiền thuế từ thu nhập khó nhọc của người dân. Khi hoàn cảnh thay đổi, và vào những thời điểm khủng hoảng hoặc khẩn cấp quốc gia, các ưu tiên cần phải được đánh giá lại.</p>



<p>Tuy nhiên, phần lớn các chính phủ không can thiệp vào quá trình các nhà nghiên cứu quyết định cách sử dụng các khoản kinh phí cụ thể đã gặt hái được những phần thưởng phong phú về phát kiến, phát minh và đổi mới. Không bao giờ là quá muộn để thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và sự khôn ngoan bằng cách để lại nhiều không gian cho các nghiên cứu không trực tiếp phục vụ các ưu tiên chính trị.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Đừng xem nhẹ các nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/dung-xem-nhe-cac-nghien-cuu-xuat-phat-tu-su-to-mo/">Đừng xem nhẹ các nghiên cứu xuất phát từ sự tò mò</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/dung-xem-nhe-cac-nghien-cuu-xuat-phat-tu-su-to-mo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
