<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lê Hiếu An Hà, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/author/anha/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/anha/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 03 Aug 2026 05:00:35 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.0.3</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Lê Hiếu An Hà, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/anha/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Cách các trường đại học “thắt lưng buộc bụng”</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/cach-cac-truong-dai-hoc-that-lung-buoc-bung/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/cach-cac-truong-dai-hoc-that-lung-buoc-bung/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lê Hiếu An Hà]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Aug 2026 05:00:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3252</guid>

					<description><![CDATA[<p>Giáo dục đại học Mỹ đang đối mặt với những cơn gió ngược về tài chính. Trong năm tài khoá 2024, gần một phần năm cơ sở công lập và một phần ba cơ sở tư thục ghi nhận thâm hụt ngân sách , đó là còn trước khi nguồn tài trợ từ các bang [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cach-cac-truong-dai-hoc-that-lung-buoc-bung/">Cách các trường đại học “thắt lưng buộc bụng”</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="732" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-732x1024.jpeg" alt="" class="wp-image-3253" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-732x1024.jpeg 732w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-214x300.jpeg 214w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-768x1075.jpeg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1097x1536.jpeg 1097w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image.jpeg 1463w" sizes="(max-width: 732px) 100vw, 732px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh bởi </em><a href="https://unsplash.com/@omilaev"><em>Igor Omilaev</em></a><em> via </em><a href="https://unsplash.com/photos/a-stack-of-money-sitting-next-to-a-pair-of-scissors-AeMzmxBwS70"><em>Unsplash</em></a><em> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Giáo dục đại học Mỹ đang đối mặt với những cơn gió ngược về tài chính. Trong năm tài khoá 2024, gần một phần năm cơ sở công lập và một phần ba cơ sở tư thục ghi nhận thâm hụt ngân sách , đó là còn trước khi nguồn tài trợ từ các bang bị thắt chặt, lạm phát gia tăng, và chính quyền Tổng thống Trump thực hiện hàng loạt các biện pháp mang tính trừng phạt đối với lĩnh vực này. Gần đây, toàn bộ thành viên của Hội đồng Khoa học Quốc gia, cơ quan chịu trách nhiệm xác định các ưu tiên của Quỹ Khoa học Quốc gia, đã bị miễn nhiệm, trong khi mức tài trợ hiện tại thấp hơn rất nhiều so với năm trước.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước đây, khi gặp khó khăn, các trường thường tập trung tăng thu. Một lựa chọn phổ biến là mở nhanh các chương trình thạc sĩ. Nghiên cứu của Robert Kelchen ghi nhận 14.000 chương trình như vậy đã ra đời trong hai thập niên qua. Nhiều chương trình mới mang lại kết quả về thu nhập và nợ của người học tương đương hoặc tốt hơn các chương trình lâu năm. Tuy nhiên, giới hạn liên bang sắp áp dụng đối với khoản vay của học viên cao học và các chương trình nghề nghiệp có thể làm suy giảm nguồn thu này. Những chiến lược khác như tăng học phí, hợp tác với doanh nghiệp quản lý chương trình trực tuyến hoặc trông cậy vào thể thao cũng khó thành công trong môi trường cạnh tranh hiện nay.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi các chiến lược tăng thu suy yếu và đại dịch cho thấy nhu cầu phải có dư địa tài chính, các trường ngày càng sẵn sàng cắt giảm. Danh sách những cơ sở đóng chương trình, cho nhân viên nghỉ luân phiên không lương hoặc sa thải lao động đang dài thêm. Các quyết định này có thể chia rẽ cộng đồng học thuật và dẫn đến bỏ phiếu bất tín nhiệm, nhưng đôi khi vẫn là cách khả thi nhất để bảo đảm sự tồn tại lâu dài của tổ chức.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vấn đề là cộng đồng giáo dục đại học biết khá ít về bộ phận nào thực sự chịu tác động nặng nhất. Việc đóng chương trình học thường được chú ý, còn các trường thường khẳng định họ bảo vệ học thuật bằng cách cắt nhân viên, quản lý và nhà thầu trước. Chẳng hạn, Northwestern từng giảm 10% chi phí ngoài nhân sự, đóng băng tuyển dụng và xóa 425 vị trí nhân viên mà không chấm dứt hợp đồng với giảng viên toàn thời gian.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một dự án nghiên cứu gần đây, Robert sử dụng dữ liệu HelioCampus của hơn 100 cơ sở và hệ thống giáo dục , chủ yếu là đại học công lập, để làm rõ những lĩnh vực thường bị cắt giảm ngân sách trong cả giai đoạn khó khăn lẫn khi điều kiện tài chính thuận lợi. Bộ dữ liệu này bao quát 370 tỷ USD tiền lương trong suốt một thập niên và cho phép xem chi tiết hơn dữ liệu của Bộ Giáo dục</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả đầu tiên là khoảng một nửa chi phí nhân sự nằm ngoài lớp học. Từ sau đại dịch, chỉ hơn một nửa tổng tiền lương được chi cho người làm công việc giảng dạy. Nhóm quản trị chung, gồm phó trưởng khoa, lãnh đạo học thuật và hiệu trưởng, chiếm khoảng 5% chi phí lương. Chi cho công nghệ thông tin và nhân sự thấp một cách đáng ngạc nhiên, dù đây là các chức năng thiết yếu và ngày càng phức tạp.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chi phí nhân sự</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Khi ngân sách giảm, một số bộ phận được bảo vệ hơn các bộ phận khác. Ngay trong mẫu gồm nhiều đại học nghiên cứu công lập có tiềm lực tương đối tốt, khoảng một phần tư vẫn phải giảm ngân sách trong một năm điển hình. Khi tổng chi tiêu của cơ sở giảm, 60% trường hợp có cắt chi cho nhân sự ngoài học thuật, với mức cắt trung vị 2,4%. Mức giảm tương đối nhỏ cho thấy trước khi sa thải, nhiều trường cắt công tác phí, xây dựng mới và bồi dưỡng chuyên môn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngược với nhận định phổ biến, học thuật lại là lĩnh vực dễ bị cắt nhất. Trong khối ngoài học thuật, nhân viên sinh viên làm công việc hành chính chịu rủi ro cao nhất, tiếp đến là cơ sở vật chất và quản trị chung. Các nhóm này, cùng với phát triển nguồn lực, đôi khi còn bị giảm chi ngay cả khi ngân sách tổng thể tăng. Điều đó cho thấy bộ máy trung tâm thường tự thắt lưng buộc bụng và trì hoãn bảo trì trước. Đây có thể là lựa chọn ít đau đớn trong ngắn hạn nhưng bất lợi về dài hạn khi cơ sở vật chất xuống cấp và năng lực quản trị suy yếu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thể thao, quản trị nghiên cứu và phát triển nguồn lực là những lĩnh vực ít bị cắt hơn vì được xem là có khả năng tạo doanh thu. Khi tổng chi tiêu tăng, ngân sách thể thao tăng mạnh nhất, với mức trung vị 8,6%, sau đó là dịch vụ sinh viên 7,4% và nhân sự 7,3%.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Những lĩnh vực bị cắt giảm</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Dữ liệu của Bộ Giáo dục cho thấy xu hướng tương tự. Khi tổng ngân sách bị thu hẹp, giảng dạy là hạng mục bị cắt thường xuyên nhất, xuất hiện ở 65,6% trường hợp; tiếp theo là hỗ trợ học thuật 59,1% và hỗ trợ thể chế 56,8%. Nghiên cứu 45,9% và dịch vụ công 49,5% là hai nhóm ít bị cắt nhất; dịch vụ sinh viên bị giảm ở 55,9% trường hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Robert đã thử tìm mối liên hệ giữa quyết định cắt giảm và mô hình ngân sách, mức độ phân quyền, quy mô tuyển sinh, mức phụ thuộc vào học phí, chi nghiên cứu hay năng lực gây quỹ, nhưng phần lớn quyết định mang tính đặc thù của từng trường. Đại học có hoạt động nghiên cứu lớn thường giảm chi quản trị nghiên cứu; trường phụ thuộc nhiều vào học phí có xu hướng giảm mạnh chi ngoài học thuật để bảo vệ trải nghiệm trong lớp. Nhìn chung, lãnh đạo phải cân nhắc bối cảnh địa phương trong một môi trường nhiều xung đột nên khó hình thành một công thức chung.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phân tích sơ bộ ở cấp khoa cho thấy trưởng khoa và trưởng bộ môn thường giảm chi cho nhân viên hỗ trợ và quản trị chung, đồng thời cố bảo vệ giảng viên, quản trị nghiên cứu và dịch vụ sinh viên. Khi ngày càng nhiều trường áp dụng mô hình ngân sách theo trung tâm trách nhiệm, quyết định của cấp quản lý trung gian sẽ càng quan trọng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, việc bảo vệ giảng viên và chương trình học có thể sắp thay đổi. Dưới sức ép của cơ quan lập pháp bang ở Indiana, Ohio và Utah, các trường ngày càng đóng những chương trình có ít người tốt nghiệp. Cách làm này thường cho phép chấm dứt cả vị trí có biên chế dài hạn và tạo mức tiết kiệm lớn hơn. Năm 2023, Đại học West Virginia cắt 28 chương trình và 143 giảng viên; quyết định gây tranh cãi nhưng giúp trường cân bằng ngân sách trong vòng hai năm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi cắt giảm trở nên không thể tránh khỏi, lãnh đạo phải làm cho quá trình ấy nhân văn nhất có thể. Cần giải thích rõ vì sao phải cắt và chiến lược sau cắt giảm là gì. Nếu có thể, việc sa thải hoặc đóng chương trình phải được thông báo đủ sớm để sinh viên hoàn tất việc học và người lao động tìm việc mới. Chần chừ quá lâu chỉ làm ngắn thêm thời gian chuẩn bị của tất cả các bên. Ngân sách phản ánh các giá trị của một tổ chức, và điều đó bộc lộ rõ nhất khi phải đưa ra những quyết định khó khăn.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://drive.google.com/file/d/1_poysj4M4K1pEc4mPf4TbwbCNLT00Zir/view?usp=sharing"><em>Chronicle</em></a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1785758434"
	            data-title="Cách các trường đại học “thắt lưng buộc bụng”" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cach-cac-truong-dai-hoc-that-lung-buoc-bung/">Cách các trường đại học “thắt lưng buộc bụng”</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/cach-cac-truong-dai-hoc-that-lung-buoc-bung/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đằng sau số lượng tác giả liên hệ cao kỷ lục của Trung Quốc là gì?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/dang-sau-so-luong-tac-gia-lien-he-cao-ky-luc-cua-trung-quoc-la-gi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/dang-sau-so-luong-tac-gia-lien-he-cao-ky-luc-cua-trung-quoc-la-gi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lê Hiếu An Hà]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2026 07:51:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3247</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trong một báo cáo theo dõi xu hướng về quyền tác giả từ năm 2016 đến năm 2020, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có khả năng ghi tên nhiều tác giả liên hệ trong một bài báo nhiều gấp chín lần so với các học giả ở những quốc gia khác. Phân tích này, [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/dang-sau-so-luong-tac-gia-lien-he-cao-ky-luc-cua-trung-quoc-la-gi/">Đằng sau số lượng tác giả liên hệ cao kỷ lục của Trung Quốc là gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="617" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-1024x617.png" alt="" class="wp-image-3248" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-1024x617.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-300x181.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-768x463.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-1536x926.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-17-2048x1235.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/80747629/Firmado-Por/modules/468116293">Firmado Por</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một báo cáo theo dõi xu hướng về quyền tác giả từ năm 2016 đến năm 2020, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có khả năng ghi tên nhiều tác giả liên hệ trong một bài báo nhiều gấp chín lần so với các học giả ở những quốc gia khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phân tích này, được công bố trong tạp chí Scientometrics, thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc, đã xem xét gần 1,75 triệu bài báo được lập chỉ mục trong cơ sở dữ liệu Web of Science của Clarivate trong giai đoạn năm năm để đánh giá mức độ phổ biến của các bài báo có nhiều tác giả liên hệ trên thế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả cho thấy rằng trong năm 2020, khoảng 30% các bài báo bởi các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc có nhiều hơn một tác giả liên hệ – gần gấp ba lần mức trung bình toàn cầu. Con số này đã tăng từ 21,6% vào năm 2016. Trong khi đó, tỷ lệ trung bình toàn cầu gần như ổn định trong suốt giai đoạn này, chỉ tăng từ 7,1% lên đến 8,8%.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong xuất bản học thuật, vị trí tác giả liên hệ thường được giao cho người chịu trách nhiệm trao đổi với ban biên tập của tạp chí và xử lý mọi công việc liên quan đến bản thảo sau khi bài báo được xuất bản. Người này cũng có thể đảm nhận các thủ tục hành chính, chẳng hạn như thanh toán chi phí xuất bản. Một tác giả liên hệ có thể đồng thời là tác giả thứ nhất, tác giả cuối hoặc bất kỳ đồng tác giả nào khác, tuỳ theo cách phân công vai trò trong nhóm nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các nhà nghiên cứu tại Singapore và Hàn Quốc có tỷ lệ các bài báo với nhiều tác giả liên hệ khá cao, đều ở mức dưới 20% trong giai đoạn 2016 – 2020. Khi loại các bài báo từ Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc khỏi bộ dữ liệu, tỷ lệ trung bình giảm xuống chỉ còn 7,5%.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mức chênh lệch giữa Trung Quốc và các quốc gia khác thay đổi tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu. Chẳng hạn, trong lĩnh vực y học và dược học, các nhà nghiên cứu từ Trung Quốc có tỷ lệ bài báo có nhiều hơn một tác giả liên hệ cao gấp chín lần mức trung bình toàn cầu (ngoại trừ Hàn Quốc và Singapore), trong khi ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, tỷ lệ này cao khoảng gấp năm lần.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Ghi nhận đóng góp</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Wencan Tian, nhà khoa học xã hội tại Đại học Sư Phạm Bắc Kinh (Chu Hải) và là đồng tác giả của nghiên cứu trên, trong những dự án nghiên cứu quy mô lớn với sự tham gia của nhiều nhóm nghiên cứu, việc có nhiều tác giả liên hệ có thể phản ánh đúng thực tế về sự chia sẻ vai trò lãnh đạo và trách nhiệm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, việc hệ thống đánh giá nghiên cứu ở một số quốc gia đặc biệt coi trọng một số vị trí tác giả nhất định có thể khiến vai trò tác giả liên hệ dễ bị lạm dụng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông Tian, hệ thống đánh giá được áp dụng tại Trung Quốc vào thời điểm nghiên cứu này được thực hiện đặc biệt coi trọng vị trí tác giả thứ nhất và tác giả liên hệ khi quyết định ai sẽ được thăng chức, nhận các khoản thưởng tài chính và tiếp cận các nguồn kinh phí nghiên cứu. Điều này có thể lý giải được kết quả của phân tích.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông, kể từ đó, Trung Quốc đã cải cách hệ thống này và hiện nay hệ thống đã gần hơn với “các nguyên tắc được công nhận toàn cầu, trong đó nhấn mạnh đóng góp thực chất, đánh giá đồng cấp và cách tiếp cận đánh giá phù hợp với từng trường hợp.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông nói thêm rằng những thay đổi này làm giảm khả năng các nhà nghiên cứu sử dụng các vị trí tác giả “chỉ như một công cụ để phân chia địa vị.”</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Thay đổi cơ chế đánh giá</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Đầu năm 2020, Bộ Giáo dục và Bộ Khoa học và Công nghệ&nbsp; Trung Quốc đã ban hành một tuyên bố chung yêu cầu các cơ sở giáo dục chấm dứt việc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm các nhà nghiên cứu chỉ dựa trên số lượng bài báo hoặc số lượng trích dẫn. Động thái này đã thúc đẩy một sự chuyển hướng lớn trong hệ thống đánh giá của Trung Quốc, giảm sự phụ thuộc vào thành tích công bố trong Danh mục Trích dẫn Khoa học (SCI), cơ sở dữ liệu quốc tế về các bài báo và trích dẫn do công ty phân tích (có trụ sở tại London) quản lý, như một tiêu chí để đánh giá và xếp hạng các nhà nghiên cứu cũng như các cơ sở nghiên cứu trong nước.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau đó, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc (NSFC), cơ quan chính phủ tài trợ cho nghiên cứu cơ bản, đã chấm dứt chính sách thưởng tiền mặt cho các nhà nghiên cứu có bài báo được công bố. Cơ quan này cũng áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt hơn nhằm ngăn chặn tình trạng “tác giả danh dự” (gift authorship), tức việc đưa một người vào danh sách đồng tác giả dù họ hầu như không hoặc hoàn toàn không đóng góp gì cho bài báo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông Tian, hiện nay NFSC yêu cầu các nhà nghiên cứu phải công khai nêu rõ đóng góp của mình đối với mỗi bài báo, đồng thời nghiêm cấm các tác giả khai báo sai hoặc phóng đại vai trò của mình trong bài nghiên cứu. Ông nói: “Những quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế các hành vi ghi nhận quyền tác giả không đúng chuẩn mực, đồng thời đưa việc ghi nhận quyền tác giả trở lại đúng với chức năng cốt lõi của nó: phản ánh trách nhiệm học thuật và những đóng góp thực chất.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Caroline Wagner, học giả về chính sách công đã nghỉ hưu tại Đại học Bang Ohio (Columbus), tỷ lệ các bài báo của Trung Quốc có nhiều tác giả liên hệ mà nghiên cứu của ông Tian và các cộng sự ghi nhận rất có thể đã giảm sau năm 2020 nhờ những cải cách này. Bà cho biết, trong hệ thống cũ, vị trí tác giả liên hệ thường được đánh giá ngang bằng – hoặc cao hơn – so với vị trí tác giả thứ nhất trong các đợt đánh giá của cơ sở nghiên cứu, “qua đó tạo ra động lực gia tăng số lượng những ‘vị trí được đánh giá cao’ trong cùng một bài báo.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lokman Meho, nhà khoa học thông tin ở Đại học Mỹ tại Beirut (Lebanon), cho biết ông không ngạc nhiên khi phân tích cho thấy tỷ lệ các bài báo có tác giả liên hệ ở Trung Quốc cao hơn mức trung bình toàn cầu, xét đến sự khác biệt trong hệ thống đánh giá nghiên cứu giữa các quốc gia trong khoảng thời gian nghiên cứu này được thực hiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, ông Meho đặc biệt chú ý đến kết quả của Singapore và Hàn Quốc. Ông cho rằng kết quả này có thể phản ánh “các hệ thống nghiên cứu có tính cạnh tranh cao và định hướng mạnh vào thành tích” ở hai quốc gia này, cũng như những áp lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo và giành sự ghi nhận cho những đóng góp của mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông Tian, tỷ lệ các bài báo có nhiều tác giả liên hệ ở Singapore phản ánh những đặc trưng của một hệ thống nghiên cứu được vận hành trong bối cảnh một quốc gia có quy mô nhỏ nhưng hội nhập sâu rộng với quốc tế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông cho biết: “Trong những mô hình hợp tác như vậy, nhiều nghiên cứu viên chính hoặc lãnh đạo cơ sở nghiên cứu có thể cùng chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo dự án và trao đổi học thuật, khiến việc cùng đứng tên là đồng tác giả liên hệ trở nên phổ biến hơn.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông Tian, để đảm bảo các vị trí tác giả không bị sử dụng sai mục đích, yếu tố then chốt chính là tính minh bạch. Ông cho rằng việc khích lệ hoặc yêu cầu các tác giả công khai phần đóng góp thực tế của mình trong nghiên cứu, đồng thời bắt buộc tâtc cả tác giả phải kê khai tuyên bố về đóng góp của mình, là những chính sách hiệu quả.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo ông Tian, hệ thống hiện nay của Trung Quốc “yêu các ứng viên phải phân biệt rõ giữa quyền tác giả độc lập và quyền tác giả được chia sẻ, đồng thời nêu rõ phần đóng góp của mình trong từng trường hợp. ” Ông bổ sung: “Qua đó, hệ thống khuyến khích việc ghi nhận dựa trên những đóng góp học thuật và trách nhiệm thực chất, góp phần hạn chế tình trạng lạm pháp quyền tác giả và tăng cường quản trị liêm chính nghiên cứu.”</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://www.nature.com/articles/d41586-026-01623-4"><em>Nature</em></a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1785163897"
	            data-title="Đằng sau số lượng tác giả liên hệ cao kỷ lục của Trung Quốc là gì?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/dang-sau-so-luong-tac-gia-lien-he-cao-ky-luc-cua-trung-quoc-la-gi/">Đằng sau số lượng tác giả liên hệ cao kỷ lục của Trung Quốc là gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/dang-sau-so-luong-tac-gia-lien-he-cao-ky-luc-cua-trung-quoc-la-gi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lê Hiếu An Hà]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2026 07:06:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3197</guid>

					<description><![CDATA[<p>Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Vương quốc Anh (thường được gọi là UKRI) là đơn vị phân bổ nguồn tài trợ nghiên cứu và đổi mới của chính phủ Anh trên tất cả các lĩnh vực, với tổng số tiền lên tới 8 tỷ bảng Anh mỗi năm, cơ quan này thực sự [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/">Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="723" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1024x723.png" alt="" class="wp-image-3200" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1024x723.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-300x212.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-768x542.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1536x1084.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10.png 2034w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.flickr.com/photos/biblioteekje/6325328112">Open Access cookie</a> via Flickr | CC BY-NC-SA 2.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Vương quốc Anh (thường được gọi là UKRI) là đơn vị phân bổ nguồn tài trợ nghiên cứu và đổi mới của chính phủ Anh trên tất cả các lĩnh vực, với tổng số tiền lên tới 8 tỷ bảng Anh mỗi năm, cơ quan này thực sự là một thế lực đáng gờm ở Anh và trên toàn thế giới. Chính sách truy cập mở (OA) của UKRI được thiết kế theo định hướng của cOAlition S nhằm tăng tính đồng bộ, đồng thời giảm bớt gánh nặng tuân thủ khi các nhà hoa học phải đối mặt với con số choáng váng: 1.155 chính sách và quy định OA hiện hành trên toàn thế giới (theo ROARMAP). Chính sách này áp dụng cho các bài báo nghiên cứu được bình duyệt do UKRI tài trợ (bao gồm cả bài tổng quan và bài báo hội nghị), cũng như các sách chuyên khảo, chương sách và tuyển tập có biên tập. Để tuân thủ quy định về truy cập mở, các tác giả có hai lộ trình: Mở truy cập ngay lập tức đối với một phiên bản đầy đủ (Version of Record) (áp dụng ngay với tạp chí và trong vòng 12 tháng đối với sách); hoặc, nếu xuất bản trên tạp chí có phí, tác giả phải nộp ngay bản thảo được chấp nhận (hoặc một phiên bản được nhà xuất bản cho phép) vào một kho lưu trữ của trường/viện hoặc kho dữ liệu chuyên ngành ngay khi bài báo lên sóng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều yêu cầu kỹ thuật trong chính sách chỉ có thể được đáp ứng hoặc được chứng minh thông qua các trường siêu dữ liệu như thông tin bản quyền, mã định danh thường trực (PIDs) cho các bài viết và tác giả, liên kết dẫn đến các khoản tài trợ hay mối quan hệ giữa các phiên bản khác nhau của bài báo. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, thực trạng quản lý siêu dữ liệu hiện nay vẫn chưa đồng bộ với các yêu cầu kỹ thuật được đặt ra trong chính sách truy cập mở của UKRI, khiến cho những cá nhân và tổ chức rất khó tuân thủ đầy đủ (và càng khó để chứng minh mình đã thực hiện theo đúng quy định). Tình trạng này thấy rõ nhất ở các đơn vị hạn chế về nguồn lực, chẳng hạn như các nhà xuất bản nhỏ và các trường đại học ít tập trung vào nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để có thể bóc tách những vướng mắc và tìm được ra hướng giải quyết, UKRI đã mời MoreBrains&nbsp; phân tích văn bản chính sách (đặc biệt là các yêu cầu kỹ thuật). Nhiệm vụ của MoreBrains là xác định các trường siêu dữ liệu cần có cho cả hai lộ trình OA, đối chiếu với các tiêu chuẩn đang dùng trong cộng đồng xuất bản (cho lộ trình 1) và cộng đồng lưu trữ (cho lộ trình 2) để xem mỗi bên đang có hay thiếu những gì. Đối với các dữ liệu hiện có, tổ chức này đánh giá chất lượng thông tin và đo lường mức độ thiếu hụt từ phía các nhà xuất bản và kho lưu trữ. Minh chứng cụ thể được lấy từ tần suất xuất hiện của các siêu dữ liệu liên quan trong các nghiên cứu thuộc Vương quốc Anh trên hệ thống Crossref (đối với tạp chí) và CORE (đối với các kho lưu trữ)..</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong số 16 yêu cầu về siêu dữ liệu của UKRI – từ các tuyên bố truy cập dữ liệu (DAS) và thông tin bản quyền cho đến các mã định danh thường trực cho vô số đối tượng – MoreBrains chỉ tìm thấy hai trường siêu dữ liệu được cung cấp và mô tả rõ ràng với mức độ áp dụng rộng rãi. Trong đại đa số các trường hợp còn lại, các trường siêu dữ liệu một là có sẵn nhưng bị dùng sai cách, hai là hoàn toàn trống trơn và không hề có cơ chế nào để giám sát mức độ tuân thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước thực trạng này, một chuỗi các buổi tham vấn cộng đồng đã được tổ chức. Diễn ra trong vài tháng cuối năm 2023, hoạt động này đã thu hút 145 đại diện đến từ hơn 40 tổ chức nghiên cứu trên toàn cầu, bao gồm các nhà xuất bản, đơn vị quản lý kho dữ liệu, nhà cung cấp hạ tầng/dịch vụ, v.v. Thông qua các buổi thảo luận bàn tròn, thảo luận nhóm và hội thảo, tổ chức MoreBrains đã mổ xẻ các thách thức, tìm kiếm giải pháp và xây dựng một lộ trình thực tế. Mục tiêu là giúp các tác giả nhận tài trợ của UKRI vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, vừa có thể chứng minh việc tuân thủ một cách dễ dàng nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cụ thể hơn, họ đề xuất rằng:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>UKRI cần đi đầu làm gương bằng cách đăng ký Mã số Tài trợ (Grant IDs) cho các khoản tài trợ nghiên cứu của riêng mình</li>



<li>Các bên liên quan nên hợp tác để thực hiện các chương trình tiếp cận và truyền thông có mục tiêu cụ thể</li>



<li>Các nguồn tài nguyên kỹ thuật hiện có nên được sử dụng bởi các nhà xuất bản, các nhà cung cấp công nghệ xuất bản, và cộng đồng lưu trữ dữ liệu.</li>



<li>Cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn về những rào cản trong việc tuân thủ quy định mà cộng đồng xuất bản và lưu trữ dữ liệu đang phải đối mặt</li>



<li>Cần phát triển các tiện ích mở rộng (plugins) dành cho các kho lưu trữ, chẳng hạn như để hỗ trợ việc tích hợp mã định danh thường trực</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Hầu hết những quá trình này sẽ cần sự đóng góp từ nhiều nhóm bên liên quan khác nhau, trong đó UKRI phải đóng vai trò của mình, ví dụ như tạo những can thiệp trực tiếp, tổ chức và vận hành các buổi trao đổi, thực hiện các nghiên cứu bổ sung, và đưa ra đề xuất để cập nhật những tiêu chuẩn và dịch vụ toàn cầu. Những đề xuất này sẽ mất nhiều thời gian để áp dụng, và đa số sẽ cần ý kiến, đóng góp, và nỗ lực của cộng đồng, nhưng chúng tôi đã xác nhận được một vài thành công nhỏ. Ví dụ như, ma trận PID này (được phát triển như một phần công việc chúng tôi thực hiện cho Ủy ban Cố vấn Định danh Bền vững Canada) cung cấp một hệ thống tiêu chí đánh giá mã định danh bền vững có thể được áp dụng bởi các quốc gia khác. Tương tự, một dự án ngắn hạn để xác định những đặc tính của một kho lưu trữ dữ liệu phù hợp sẽ là một bước tiến nhanh chóng và hiệu quả, và có thể được sử dụng bởi nhiều bên liên quan.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một buổi hội thảo trực tuyến vào tháng 9 về một bản báo cáo chúng tôi đã viết, các diễn giả Catriona McCallum (Wiley và OASPA), Melissa Harrison (Viện Tin sinh học Châu Âu), và Agustina Martinez-Garcia (Hội đồng Nghiên cứu và Lưu trữ Mở của Vương quốc Anh, hay được gọi là UKCORE) đã chia sẻ ý kiến của mình về những đề xuất này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bà Catriona bắt đầu bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng thiết yếu của tác động cộng đồng và việc chính sách của UKRI dựa vào từng cá nhân tham gia quá trình bàn luận nghiên cứu để tạo ra và chia sẻ siêu dữ liệu một cách nhất quán, đáng tin cậy, và được tiêu chuẩn hoá. Bà nhấn mạnh rằng không chỉ các nhà xuất bản và kho lưu trữ phải đóng vai trò của mình; các nhà tài trợ cũng có vị trí quan trọng cần thực hiện bằng cách thu thập siêu dữ liệu ngay từ lúc bắt đầu nghiên cứu. Và bà khen ngợi việc bản báo cáo tập trung vào cách tất cả các bên liên quan có thể hợp tác với nhau để đối mặt với những thách thức về siêu dữ liệu. Đồng thời, bà Catriona nhận thức rõ về việc các tổ chức nhỏ hơn và những tổ chức trong cộng đồng có nguồn lực hạn chế hơn sẽ khó khăn hơn để áp dụng những biện pháp thay đổi cần thiết. Cuối cùng, bà bày tỏ niềm hy vọng rằng UKRI sẽ dẫn đầu trong những nghiên cứu bổ sung cần thiết, cũng như thực hiện hai dự án tiếp theo được đề xuất về việc lựa chọn PID và các đặc điểm của một kho lưu trữ dữ liệu phù hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Diễn giả Melissa tập trung vào một số khía cạnh cụ thể của bản báo cáo. Đầu tiên, bà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng PIDs thay vì sử dụng Mã định danh tài liệu số (DOIs), vì hầu hết các cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực của bà đều sử dụng số hiệu truy cập thay vì DOI. Ví dụ, Cơ sở dữ liệu Nucleotide Châu Âu có hơn 3,8 tỷ số hiệu truy cập so với 164,24 triệu DOI đã đăng ký của Crossref (tại thời điểm đó). Vì vậy, mặc dù DOIs là giải pháp tốt nhất cho nhiều nhà xuất bản, nhưng, như bao điều khác, không có giải pháp nào phù hợp với tất cả. Tiếp đến, bà Melissa nêu lên vấn đề sử dụng giấy phép CC BY. Dù đã thừa nhận rằng việc tái sử dụng nghiên cứu có vô số vấn đề, nhưng bà nhấn mạnh rằng cơ sở hạ tầng mở và việc tái sử dụng nội dung mang lại lợi ích rõ ràng cho xã hội. Cuối cùng, bà Melissa nói về tầm quan trọng của các tiêu chuẩn trong việc đảm bảo một cách tiếp cận nhất quán toàn cầu. Bà tập trung cụ thể vào bộ thẻ đánh dấu dành cho bài báo tạp chí (Journal Article Tag Suite &#8211; JATS); các nhóm công tác tại đây, tập trung vào những yếu tố như DOI của các khoản tài trợ và chỉ số truy cập mở, giúp các nhà xuất bản gắn thẻ gắn thẻ ngữ nghĩa cho các ấn phẩm của mình theo cách thống nhất nhất có thể, từ đó một khối lượng nội dung lớn hơn có thể được tái sử dụng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bà Agustina phát biểu từ góc nhìn của UKCoRR, và bà chỉ ra rằng UKRI có thể dẫn đầu bằng một vài hoạt động liên quan trực tiếp đến quản lý kho lưu trữ dữ liệu. Tuy nhiên, giống như diễn giả Catriona, bà cũng lưu ý rằng nhiều tổ chức của họ đang phải đối mặt với tình hình tài chính eo hẹp, khiến cho việc thực hiện thêm công việc trở nên khó khăn. Bà Agustina nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận và giáo dục về PID và sự cần thiết của các hướng dẫn phù hợp về cách thức triển khai chúng, cũng như dự định tăng cường sự tham gia của lãnh đạo cấp cao tại các tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đầu tư vào PID. Bà đề xuất rằng mở rộng thông điệp này để nhấn mạnh sự cần thiết của việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho lưu trữ nói chung. Bà Agustina lưu ý rằng sự không đồng nhất trong các phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn siêu dữ liệu và việc tạo siêu dữ liệu trong các kho lưu trữ nói chung đang đặt ra nhiều thách thức. Bà cảm thấy UKRI có thể giúp đỡ bằng cách đề xuất và chứng thực việc áp dụng một khung tiêu chuẩn cụ thể, cũng như hỗ trợ kho lưu trữ của các tổ chức trong quá trình triển khai những tiêu chuẩn này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tất cả các diễn giả – cũng như chính UKRI – đều khẳng định rằng giá trị của công việc này không chỉ giới hạn trong phạm vi UKRI và các nhà xuất bản hay kho lưu trữ đang công bố các kết quả nghiên cứu do UKRI tài trợ. Một hệ sinh thái thông tin hoàn thiện hơn cũng sẽ mang lại lợi ích cho hoạt động nghiên cứu nói chung, chẳng hạn như tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu quả vận hành của các đơn vị xuất bản, và giảm gánh nặng hành chính cho các trường đại học. Quan trọng hơn, nhiều bài học rút ra từ quá trình phân tích chuyên sâu về những thách thức và cơ hội cải thiện liên quan đến việc triển khai kỹ thuật chính sách truy cập mở của UKRI cũng có thể được áp dụng cho các chính sách truy cập mở khác trên thế giới. Những bài học này sẽ góp phần mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu ở khắp mọi nơi.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2026/01/14/open-access-policies-the-devils-in-the-details/"><em>Scholarly Kitchen</em></a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1783087591"
	            data-title="Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/">Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
