<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Phương Thục, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/author/phuong-thuc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/phuong-thuc/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Wed, 31 Jan 2024 03:06:25 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.0.3</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Phương Thục, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/phuong-thuc/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>So sánh hai công cụ hỗ trợ viết tiếng Anh Grammarly và Writefull </title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/so-sanh-hai-cong-cu-ho-tro-viet-tieng-anh-grammarly-va-writefull/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/so-sanh-hai-cong-cu-ho-tro-viet-tieng-anh-grammarly-va-writefull/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 31 Jan 2024 03:06:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=1285</guid>

					<description><![CDATA[<p>Grammarly và Writefull là hai công cụ hỗ trợ viết&#160; rất phổ biến hiện nay. Cả 2 đều được thiết kế để nâng cao chất lượng giao tiếp bằng văn bản tiếng Anh. Tuy nhiên, hai công cụ phục vụ các mục đích và cung cấp các tính năng khác nhau.&#160; Về chức năng chính, [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/so-sanh-hai-cong-cu-ho-tro-viet-tieng-anh-grammarly-va-writefull/">So sánh hai công cụ hỗ trợ viết tiếng Anh Grammarly và Writefull </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Grammarly và Writefull là hai công cụ hỗ trợ viết&nbsp; rất phổ biến hiện nay. Cả 2 đều được thiết kế để nâng cao chất lượng giao tiếp bằng văn bản tiếng Anh. Tuy nhiên, hai công cụ phục vụ các mục đích và cung cấp các tính năng khác nhau.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Về chức năng chính,</em> Grammarly tập trung vào việc cải thiện bài viết tiếng Anh bằng cách xác định và sửa các lỗi ngữ pháp, lỗi chính tả và nâng cao phong cách viết tổng thể. Grammarly nổi tiếng với các thuật toán nhạy bén và phát hiện được nhiều loại lỗi, từ lỗi ngữ pháp cơ bản đến các vấn đề về cấu trúc câu phức tạp hơn nhiều công cụ khác. Grammarly cung cấp các đề xuất theo thời gian thực để đảm bảo bài viết của bạn rõ ràng và hiệu quả trong truyền tải ý tưởng. Grammarly cũng tập trung vào phong cách ngôn ngữ và giọng văn khi cung cấp các chế độ để bạn cá nhân hóa bài viết của mình như lựa chọn chủ đề bài viết (học thuật, công việc, email, thoải mái, sáng tạo, chung chung), đối tượng người đọc (đại chúng, chuyên gia&#8230;), giọng văn (thân mật, trang trọng…).&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong khi đó, Writefull không chỉ tập trung vào ngữ pháp mà còn cung cấp phản hồi có dựa trên ngữ cảnh để nâng cao sự logic và mạch lạc của ngôn ngữ. Writefull cung cấp các gợi ý để cải thiện cấu trúc câu, lựa chọn từ vựng và mạch văn tổng thể, nhằm nâng cao độ chính xác và tác động của ngôn ngữ. Writefull được thiết kế chuyên về văn phòng học thuật dành cho đối tượng nhà nghiên cứu và sinh viên và học viên cao học. Writefull phát triển AI được huấn luyện dựa trên các bài báo khoa học và tài liệu học thuật. Vì vậy, Writefull hỗ trợ đắc lực cho văn bản cần lối viết khoa học và nó cũng quen thuộc và có thể gợi ý các thuật ngữ chuyên ngành dựa trên bối cảnh của văn bản.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Về trải nghiệm người dùng,</em> cả hai công cụ đều được đánh giá cao về thiết kế giao diện thân thiện. Grammarly được yêu thích bởi nó cung cấp dịch vụ thông qua website, phần tiện ích mở rộng tích hợp trong các trình duyệt (extension) và dưới chương trình bổ trợ (add-in), ứng dụng điện thoại. Điểm nhấn khi sử dụng Grammarly đó là thanh công cụ nằm bên phải đưa ra các đề xuất chỉnh sửa và gợi ý từ và cấu trúc câu theo thời gian thực, ngay cả khi bạn viết trên các ứng dụng web trong trình duyệt (Google docs, Gmail, Canva&#8230;) hoặc các phần mềm soạn thảo như Microsoft Words&#8230;.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://lh7-us.googleusercontent.com/j6o9unhW85gminuYbfGBTYhMYaqHkCuG568BGV0wiikCD-joULAopE6WwipIDgYRyp-WO73PAKZ7ibQ2d_j_W5K4IDHLWOY9pGegAhEU-5P8JazwYHsx2BRYwbeRYIRt3GlAzWNYCFtAD_XEvmNNnm4" alt=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1. Giao diện của Grammarly </em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Bên cạnh đó, Writefull cung cấp phần mềm bổ trợ (add-in) cho Word và Overleaf, ngừi dùng sẽ phải tải phần add-in về và cài đặt trong Word và Overleaf. Writefull thường hiển thị hộp đề xuất gần khu vực nhập văn bản, đề xuất các cụm từ thay thế, từ đồng nghĩa và cách diễn đạt lại câu cho rõ ràng và mạch lạc. Bên cạnh đó, Writefull cung cấp các chế độ và cấp độ đề xuất và chỉnh sửa là Proofread (Đề xuất các chỉnh sửa nhỏ như là thêm trích dẫn, hoặc chèn thêm từ, dấu câu,&#8230;), Full edit (Đề xuất chỉnh sửa lớn như là chỉnh sửa lại toàn bộ câu để tăng tính dễ đọc). Ngoài ra, Writefull còn có tính năng Revise with Trackchange, trong đó các đề xuất hiển thị dưới dạng Trackchange của Word và người dùng có thể đơn giản lựa chọn đồng ý hoặc không. Tuy nhiên với tính năng này, người dùng sẽ phải có khoảng chờ khoảng 5 phút để Writefull quét tài liệu khoảng 10 trang A4.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://lh7-us.googleusercontent.com/UEO46bfaO-111nFvDDHVYuORQBaTzpJyq--w5XTgzhqaH92tFApZsg8SOfWnOcg6jri3PpiyowBl6XEXYIT8TNXo5_cpbKbhM1BdqcQPm6H8Lx7BUJTwe_LvRJzTQjJetnO8PvRF12InqlnDWdI3bBs" alt=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 2. Chế độ Proofread của Writefull </em></figcaption></figure>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://lh7-us.googleusercontent.com/lF47sB7HuVuaKF0QcNP4zVhCyz6IX0vYTFsiIwbdQ-CZgLvrbyjliogjih2Hx89xS0SjhN4O7Hpz8GsLI5dd_Q2DQWOGhL9bZUyKSPyxsUeD1MyH8SBBpFM8wzwfq5LBGiyHH-7yFJv1Yfe9OzOxj3I" alt=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em><em>Hình 3. Chế độ Full Edit của Writefull </em></em></figcaption></figure>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://lh7-us.googleusercontent.com/-Mew00P2lzG21fNkQxnggHHo2Uz5gl1I0cHhGvpZZioz9uCmcmS-_WHC2o5diMI-LDVxLTNpgcb8kQzu_lts8-jBiPlpgmHckHc1jmhsm9ba_mBc3VXTyMxS3XDyEiu_ujlkQoR2YaA35R4OC77dlAU" alt=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 4. Giao diện Revising with Track Changes của WriteFull</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Về mức chi phí, Grammarly và Writefull có sự chênh lệch đáng kể. Cả hai công cụ đều đưa ra các mức chi phí khác nhau tùy theo kế hoạch sử dụng của mọi người như là các gói 1 tháng, 1 quý và 1 năm. Grammarly hiện tại đang có mức chi phí là $144 (~3.500.000đ) cho một năm sử dụng. Mặt khác, Writefull cung cấp gói cá nhân với mức phí $22,68 (~550.000đ)/năm. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tóm lại, Grammarly và Writefull là hai trợ lý ảo hiệu quả cho công việc soạn thảo tiếng Anh, tuy nhiên chúng đặc biệt hữu ích cho những mục đích và đối tượng riêng. Grammarly được thiết kế linh hoạt cho các nhà văn, tác giả và doanh nghiệp, phù hợp với phong cách viết thông thường và đối tượng độc giả đại chúng. Tuy nhiên về văn phong khoa học, Writefull là công cụ nổi bật hơn khi được huấn luyện giọng văn chỉn chu, kho từ vựng hàn lâm dành riêng cho các cá nhân đang học tập và làm việc về học thuật.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="ky-nang-nghien-cuu" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1706695584"
	            data-title="So sánh hai công cụ hỗ trợ viết tiếng Anh Grammarly và Writefull " 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/so-sanh-hai-cong-cu-ho-tro-viet-tieng-anh-grammarly-va-writefull/">So sánh hai công cụ hỗ trợ viết tiếng Anh Grammarly và Writefull </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/so-sanh-hai-cong-cu-ho-tro-viet-tieng-anh-grammarly-va-writefull/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Học tập đàm phán trực tuyến: So sánh giữa giáo viên bản ngữ với giáo  không phải người bản ngữ</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/hoc-tap-dam-phan-truc-tuyen-so-sanh-giua-giao-vien-ban-ngu-voi-giao-khong-phai-nguoi-ban-ngu/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/hoc-tap-dam-phan-truc-tuyen-so-sanh-giua-giao-vien-ban-ngu-voi-giao-khong-phai-nguoi-ban-ngu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 02:19:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đổi mới]]></category>
		<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=1204</guid>

					<description><![CDATA[<p>Hai tác giả Phạm Kim Chi (Đại học FPT) và Nguyễn Văn Lợi (Đại học Cần Thơ) đã có nghiên cứu về đề tài Online learning negotiation: Native-speaker versus non-native speaker teachers and Vietnamese EFL learners công bố trên tạp chí Language Learning &#38; Technology. Đây là tạp chí được SSCI chỉ mục và thuộc [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-tap-dam-phan-truc-tuyen-so-sanh-giua-giao-vien-ban-ngu-voi-giao-khong-phai-nguoi-ban-ngu/">Học tập đàm phán trực tuyến: So sánh giữa giáo viên bản ngữ với giáo  không phải người bản ngữ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Hai tác giả Phạm Kim Chi (Đại học FPT) và Nguyễn Văn Lợi (Đại học Cần Thơ) đã có nghiên cứu về đề tài <strong>Online learning negotiation: Native-speaker versus non-native speaker teachers and Vietnamese EFL learners </strong>công bố trên tạp chí <strong>Language Learning &amp; Technology</strong>. Đây là tạp chí được SSCI chỉ mục và thuộc nhóm tạp chí Q1 Scopus với CiteScore là 5.3.</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="576" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04-1024x576.jpg" alt="" class="wp-image-1205" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04-1024x576.jpg 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04-300x169.jpg 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04-768x432.jpg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04-1536x864.jpg 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/2d457e83009277.5d2f129d77c04.jpg 1920w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption">Minh họa: Isaac Anthony/Behance | CC BY-NC-ND 4.0</figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Tương tác đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết Thụ Đắc Ngôn ngữ (SLA). Và trung tâm của sự tương tác là đàm phán. Đàm phán về ý nghĩa (Negotiation of meaning) diễn ra trong các lớp học là quá trình trong đó người học và người nói có năng lực (giáo viên) đưa ra và diễn giải các dấu hiệu về khả năng hiểu và lĩnh hội của họ. Từ đó giúp người học điều chỉnh hình thái ngôn ngữ, cấu trúc hội thoại và nội dung thông điệp hoặc cả ba cho đến khi mức độ hiểu ở mức chấp nhận được.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc giảng dạy tiếng Anh trực tuyến hiện nay có thể được tạo điều kiện thuận lợi bởi công nghệ giao tiếp, cho phép người học dễ dàng tiếp cận tương tác với người bản ngữ. Tuy nhiên, ngành này đang chạy theo giả định rằng giáo viên tiếng Anh người bản ngữ (NEST) là tiêu chuẩn vàng, trong khi giáo viên tiếng Anh không phải người bản ngữ (NNEST) là những nhà giáo dục thua kém.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tiến hành so sánh tác động khác biệt giữa giáo viên bản ngữ và giáo viên không phải bản ngữ qua các cuộc đàm phán ý nghĩa trực tuyến giữa giáo viên và người học EFL (English as foreign language &#8211; học tiếng Anh như một ngoại ngữ).&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu sử dụng phân tích diễn ngôn qua máy tính (computer-mediated discourse analysis) và cơ sở dữ liệu gồm 30 phiên tương tác kéo dài 5 phút giữa 30 giáo viên (15 NEST và 15 NNEST) và 30 học viên Việt Nam (VEFL) ở trình độ cơ bản.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả phân tích xác nhận rằng các giáo viên nói chung đều hiệu quả trong việc đàm phán với người học và những người học VEFL đều thu được lợi ích từ các cuộc trò chuyện trực tuyến với cả NEST hoặc NNEST.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, những người học VEFL đã hạn chế cơ hội nói chuyện khi họ tương tác với NEST do sự lạm dụng và phức tạp hóa ngôn ngữ của NEST. Mặt khác, NNEST sử dụng nhiều chức năng của việc đàm phán hơn để khuyến khích người học tương tác nhiều hơn. Sự khác biệt về số lượng từ mà người học VEFL nói và đàm phán làm nổi bật lên ý nghĩa quan trọng của phương pháp này trong công việc giảng dạy trực tuyến.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu nhấn mạnh thêm hiệu quả của các tương tác thoại đồng bộ trung gian qua máy tính (CMC) trong việc thúc đẩy sự tham gia của người học VEFL trong các cuộc hội thoại. Nó cũng giúp củng cố vị trí quan trọng của NNEST trong việc hỗ trợ người học EFL qua các tương tác CMC.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chi tiết nghiên cứu:</p>



<p class="wp-block-paragraph">Pham Kim Chi &amp; Nguyen Van Loi (2020). <a href="http://hdl.handle.net/10125/44743">Online Learning Negotiation: Native-Speaker Versus Nonnative Speaker Teachers &amp; Vietnamese EFL learners</a>.<em> Language Learning &amp; Technology</em>, 24(3), 120–135.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="doi-moi,edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1703582399"
	            data-title="Học tập đàm phán trực tuyến: So sánh giữa giáo viên bản ngữ với giáo  không phải người bản ngữ" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-tap-dam-phan-truc-tuyen-so-sanh-giua-giao-vien-ban-ngu-voi-giao-khong-phai-nguoi-ban-ngu/">Học tập đàm phán trực tuyến: So sánh giữa giáo viên bản ngữ với giáo  không phải người bản ngữ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/hoc-tap-dam-phan-truc-tuyen-so-sanh-giua-giao-vien-ban-ngu-voi-giao-khong-phai-nguoi-ban-ngu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thực trạng xuất bản phi lợi nhuận</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/thuc-trang-xuat-ban-phi-loi-nhuan/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/thuc-trang-xuat-ban-phi-loi-nhuan/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Dec 2023 16:54:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=1125</guid>

					<description><![CDATA[<p>Các tổ chức truyền thông học thuật đã phải chịu những áp lực rất nặng nề trong suốt năm khốc liệt vừa qua. Điển hình như những nỗ lực to lớn trong việc tăng tốc truyền thông khoa học lại làm lộ ra những điểm yếu của quy trình biên tập tạp chí và preprint. [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thuc-trang-xuat-ban-phi-loi-nhuan/">Thực trạng xuất bản phi lợi nhuận</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Các tổ chức truyền thông học thuật đã phải chịu những áp lực rất nặng nề trong suốt năm khốc liệt vừa qua. Điển hình như những nỗ lực to lớn trong việc tăng tốc truyền thông khoa học lại làm lộ ra những điểm yếu của quy trình biên tập tạp chí và preprint. Tuy vậy, trong thời kỳ bị gián đoạn này, các nhà xuất bản (NXB) thương mại vẫn tìm thấy các cơ hội đầu tư vốn để cuối cùng củng cố vị thế tương đối của họ trên thị trường – những cơ hội không có sẵn cho các đối tác phi lợi nhuận của họ. Bài viết này sẽ bàn về các NXB phi lợi nhuận, cụ thể hơn tập trung vào sự khác biệt lớn giữa các hiệp hội STEM và các hiệp hội khoa học nhân văn cùng các NXB trường đại học</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/image-2-1024x683.png" alt="" class="wp-image-1126" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/image-2-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/image-2-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/image-2-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/12/image-2.png 1200w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/21256733/Major-project-submissions">Major project submissions</a> via Behance | CC BY-NC-SA 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Phần đầu sẽ tập trung vào các tạp chí của các trường đại học, xem xét cách họ đối mặt với những thách thức hiện tại và cũng như cách họ đang hướng tới một viễn cảnh mới. Phần tiếp theo sẽ xem xét các hiệp hội học thuật ở nhiều mảng hoạt động, không chỉ ở việc xuất bản mà còn cả các vấn đề về chính sách hội viên và các sự kiện hội họp. Dưới đây là một số điểm chính thu được từ của các cuộc phỏng vấn thẳng thắn với một loạt các giám đốc điều hành.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Các vấn đề chung&nbsp;</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Có một số điểm tương đồng giữa các NXB đại học và các hiệp hội trong cách họ đối phó với đại dịch.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng ta chắc hẳn đã nghe nói về sự thành công trên diện rộng của cuộc xoay sở nhanh chóng của lực lượng lao động sang dạng trực tuyến. Một số hình thức công việc yêu cầu nhân viên phải vận chuyển hệ thống máy tính từ văn phòng về nhà và chuyển hóa quy trình xuất bản lên các nền tảng kỹ thuật số. Kết quả là, sau đại dịch, nhiều người tham gia phỏng vấn dự định sẽ chuyển sang hình thức làm việc từ xa nhiều hơn và một số nơi ghi nhận cơ hội giảm chi phí về không gian văn phòng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Về bối cảnh bên ngoài các tổ chức, sự đa dạng về doanh thu là đặc biệt quan trọng trong thời kỳ suy thoái. Nguồn thu của các hiệp hội có sự đan xen giữa thu nhập từ xuất bản, chính sách hội viên và các sự kiện hội họp. Trong khi đó, NXB của trường đại học phụ thuộc chủ yếu vào doanh thu từ việc xuất bản. Một số NXB của trường đại học có các tờ tạp chí vẫn phải phụ thuộc phần lớn vào hoạt động xuất bản sách vào doanh số bán hàng của đơn vị. Ngược lại, đối với các hiệp hội, tạp chí là trọng tâm xuất bản chính&nbsp; với, doanh thu chính đến từ các lượt đăng ký định kỳ. Các NXB của trường đại học quan tâm nhiều hơn đến việc các thư viện sẽ tiếp tục đầu tư vào sách chuyên khảo, và điều này khiến dự báo doanh thu của họ trở nên không chắc chắn.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn chung, năm 2020 được cho là một năm vẫn còn tốt đẹp hơn nhiều so với sự lo ngại của các NXB. Doanh thu từ tạp chí phần lớn đã được chốt trước khi đại dịch tấn công, và các khoản bảo hiểm đóng vai trò trấn an tinh thần cho các tổ chức đã ký hợp đồng cung cấp dịch vụ kinh doanh với các nhà cung cấp lớn hơn. Doanh thu bán sách mà nhiều người dự đoán sẽ giảm đáng kể lại phục hồi một phần nhờ doanh số bán hàng kỹ thuật số gia tăng mạnh mẽ và lĩnh vực bán lẻ được cải thiện. Một số hiệp hội cho biết doanh thu từ hội họp của họ giảm, nhưng lại cố gắng dàn xếp được các cam kết về không gian, giúp giảm thiểu tác động của việc chuyển các sự kiện thường niên từ hình thức trực tiếp sang phòng họp trực tuyến chỉ trong một thời gian ngắn.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hầu hết mọi nhà lãnh đạo đều lên kế hoạch cho một năm 2021 không chắc chắn về tài chính. Nhiều người đang trong quá trình lập kế hoạch theo kịch bản dự đoán một số hoặc tất cả các phần trong dự án của họ sẽ cho lợi nhuận giảm đáng kể.</p>



<h3 class="wp-block-heading">Hiệp hội STEM</h3>



<p class="wp-block-paragraph">Mặc dù năm nay đã mang lại một số thách thức đáng kể cho các hiệp hội STEM, nhưng nhìn chung, họ không phải đối mặt với nguy cơ gián đoạn kinh doanh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguồn thu quan trọng đối với nhiều hiệp hội STEM đến từ lượt đăng ký tạp chí hầu như không suy giảm cho đến thời điểm này. Áp lực phát triển các dịch vụ truy cập mở tiếp tục gia tăng nhưng hầu hết gián tiếp liên quan đến sự gián đoạn của năm 2020.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc phải hủy các sự kiện hội thảo, họp mặt chính là tác động đáng kể nhất về doanh thu đối với nhiều hiệp hội STEM và nỗ lực chuyển đổi sang các hình thức trực tuyến đã đặt ra một số câu hỏi chiến lược nhằm gia tăng sự hấp dẫn. Một điều đặc biệt thu hút: một số hiệp hội Hoa Kỳ đang nhìn sang các đồng nghiệp cùng ngành với họ ở những nơi khác trên thế giới, chẳng hạn như ở Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Vương quốc Anh và Đức, khi mà giờ đây sự độc quyền về lãnh thổ đã sụp đổ.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự sụp đổ đầu tiên là sự chuyển sang vận động toàn cầu về quyền tác giả và phân phối các ấn phẩm, xóa bỏ ranh giới địa lý. Hiện giờ, hoạt động của các hiệp hội đang xoay quanh các hội nghị ảo mà sau khi tính đến múi giờ, một học giả có thể tham dự dễ dàng bất kể họ đang ở quốc gia nào. Do đó, đặc tính quốc gia của các hiệp hội đặt ra câu hỏi về việc liệu các hiệp hội cùng lĩnh vực ở các quốc gia khác nhau là đồng minh hay đối thủ cạnh tranh. Một giám đốc điều hành đang vật lộn với câu hỏi này đã lưu ý: “Mối quan hệ của chúng tôi là kiểu vừa là bạn vừa là thù (frenemies). Khi nào là thời điểm bạn cần ăn thịt tác giả, cộng tác viên, nhà tài trợ và thành viên? ”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các hiệp hội khoa học nhân văn và NXB trường đại học</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thông qua so sánh, mặc dù cả hiệp hội nhân văn và NXB đại học đều có thể phục hồi sau bức tranh kinh tế thảm khốc mà nhiều người đã vẽ ra vào khoảng đầu năm, nhưng họ có xu hướng bị ảnh hưởng trực tiếp hơn bởi những thách thức ngân sách của khu vực đại học và lo lắng về những gì năm 2021 sẽ mang lại cho một số khu vực, bao gồm:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Sự chậm lại có thể xảy ra đối với việc thu mua lại sách in, chủ yếu sẽ ảnh hưởng đến các NXB đại học. Trong khi nhiều NXB đại học vẫn xuất bản tạp chí và nhiều hiệp hội xuất bản sách, thì sự kết hợp này khá khác nhau. Do đó, các NXB đại học vẫn dễ bị ảnh hưởng hơn nhiều trước sự suy thoái của thị trường sách.</li>



<li>Mối lo ngại rằng các khoản trợ cấp cho trường đại học có thể bị cắt giảm do thiếu hụt nguồn thu chung. Xu hướng này có thể tác động không công bằng tới các NXB của các trường đại học nhỏ và các trường đại học công lập.</li>



<li>Sự e ngại về sự sụt giảm hội viên do sự giảm mạnh của các giảng viên kiêm nhiệm trong ngành khoa học nhân văn.</li>



<li>Một số hiệp hội trong khoa học xã hội và nhân văn lo ngại rằng các chương trình của họ có thể bị cắt giảm sâu hơn trong thời kỳ suy thoái kéo dài. “Kịch bản u ám và diệt vong là giáo dục đại học theo chế độ thắt lưng buộc bụng làm giảm giá trị của lĩnh vực của chúng tôi đến mức chúng tôi thấy sự mất mát trong các chương trình cấp bằng và vị trí biên chế vì chúng tôi không được coi là một chuyên ngành sẵn sàng cho công việc”.</li>
</ul>



<h3 class="wp-block-heading">Một vài suy ngẫm về tương lai</h3>



<p class="wp-block-paragraph">Các NXB trường đại học đã tìm đến ngôi trường tài trợ của họ để được hướng dẫn về ngân sách và cách gia tăng tầm quan trọng của họ thông qua các dịch vụ đối với tổ chức trong thời gian hỗn loạn này.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng tôi đã nghe nói về một số thử nghiệm thú vị, từ hỗ trợ phân phối cho các sáng kiến ​​xuất bản của bộ đến các dịch vụ số hóa cho các thư viện. Một giám đốc đã nói như thế này, “Khi tôi mới đến đây, hầu như không có sự hợp tác nào với trường đại học. Không ai biết chúng tôi tồn tại. Bây giờ điều đó đang bắt đầu thay đổi. Chúng tôi đóng vai trò là đối tác chiến lược với một số khoa và chương trình của trường đại học, cùng nhau thực hiện các ý tưởng mới, từ việc xây dựng các bộ sách cho đến khám phá các cách thức mới để quảng bá công trình của các giáo sư bao gồm các cuốn sách ngắn, video và podcast. ”&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vượt lên cả phạm vi nội bộ trường đại học, một cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đang bắt đầu xuất hiện giữa các NXB đại học để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang các quy trình và hình thức học mới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các hiệp hội đang xem xét các cách để tái sản xuất các sự kiện hội họp của họ, một phần để giảm thiểu tác động của việc mất doanh thu từ các cuộc hội thảo trực tiếp, nhưng nhiều hơn nữa là để tìm ra những cách thức trực tuyến hỗ trợ sứ mệnh là trung tâm giao lưu của mình. Chúng ta có thể kỳ vọng rằng các hiệp hội ngày càng có nhiều nỗ lực nhằm tăng cường mối liên hệ giữa quyền cho tác giả và lợi ích cho hội viên.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự khác biệt trong việc trở thành một tổ chức dựa trên các hội viên hoặc một tổ chức thuộc sở hữu của trường đại học đã được chỉ ra bởi một số người tham gia cuộc thăm dò. Trong khi một số giám đốc NXB trường đại học chỉ ra những lợi thế của việc kết nối với một tổ chức lớn hơn sẽ giúp họ vượt qua thời kỳ suy thoái có thể xảy ra. Một NXB hiệp hội đã nhìn nhận điều đó là một điểm yếu: “Chúng tôi đang ở trong một tình huống tốt hơn so với NXB trường đại học. Họ phụ thuộc vào tổ chức của họ và phải chật vật khi ngân sách trở nên khó khăn vì họ không phục vụ sứ mệnh trực tiếp của một tổ chức. Họ đã rất cố gắng KHÔNG xuất bản quá nhiều công bố từ giảng viên của mình. Mặt khác, chúng tôi rất cần thiết cho các hội viên của chúng tôi. Tạp chí của chúng tôi đại diện cho toàn cảnh của một lĩnh vực. Điều này mang lại cho chúng tôi nhiều khả năng phục hồi hơn. Nhờ có sự tập trung vào hội viên và là trung tâm trong lĩnh vực của mình, chúng tôi theo kịp với nhu cầu của các hội viên.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các giám đốc NXB trường đại học và giám đốc hiệp hội đều suy ngẫm tới số phận của các NXB nhỏ hơn trong thảm họa do đại dịch và dự đoán một viễn cảnh suy giảm số lượng các NXB, sự nổi lên của các cách tiếp cận sáng tạo hơn đối với quan hệ đối tác và thậm chí là sáp nhập, và áp lực thậm chí còn lớn hơn đối với các NXB xã hội độc lập nhỏ khi phải xem xét việc ký kết với một đối tác thương mại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mọi người đều đang suy nghĩ về các cách để đổi mới trong thời gian đầy thử thách này, trong nhận thức rằng việc cứ duy trì hoạt động kinh doanh như bình thường khó có thể đưa họ vượt qua giai đoạn suy thoái kéo dài.&nbsp;</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Tình trạng xuất bản phi lợi nhuận</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Mặc dù các cuộc phỏng vấn và phân tích ở trên đã có sự tham gia từ một số người quan trọng nhất trong lĩnh vực xuất bản phi lợi nhuận, vẫn còn nhiều người chơi khác trong thế giới này. Ví dụ, chúng tôi không phỏng vấn các NXB quốc tế và không xem xét phạm vi nào khác ngoài các hiệp hội và NXB đại học. Một ví dụ là&nbsp;<strong>Annual Reviews</strong>, NXB đi đầu trong phong trào đăng ký-để-mở (subscribe-to-open: tạp chí sẽ chuyển sang dạng truy cập mở khi phí đăng ký của các cơ sở nghiên cứu đủ để cân mục tiêu doanh thu của tạp chí). Một ví dụ khác là NXB truy cập mở&nbsp;<strong>PLOS</strong>, gần đây đã công bố một mô hình kinh doanh mới dựa trên tư cách thành viên tổ chức cho một số tạp chí của mình.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ ba là&nbsp;<strong>eLife</strong>. Một số người nhận định rằng các công ty khởi nghiệp phi lợi nhuận như&nbsp;<strong>eLife</strong>&nbsp;không có nhiều hoạt động kinh doanh truyền thống và do đó có thể đổi mới nhanh chóng hơn. Có lẽ cũng bởi vì các tổ chức này có mô hình quản trị đơn giản hơn nhiều các hiệp hội STEM, nên chúng có lợi thế để thực hiện các thử nghiệm dựa trên cộng đồng. Ngoài ra, trước sự dịch chuyển của các NXB thương mại lớn các lên không gian kho lưu trữ và quy trình làm việc, sẽ hợp lý khi xem xét các tổ chức phi lợi nhuận như&nbsp;<strong>Lyrasis</strong>&nbsp;và&nbsp;<strong>Center for Open Science</strong>&nbsp;theo danh hiệu này, ít nhất là trong một số thành phần công việc của họ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối cùng, với việc các NXB thương mại dường như đang phát triển mạnh trong thời kỳ đại dịch, chúng tôi tin rằng điều quan trọng là phải liên tục đánh giá lại tình trạng tổ chức và vị thế cạnh tranh của các tổ chức phi lợi nhuận trong lĩnh vực xuất bản học thuật. Khi sự gián đoạn hiện tại phát triển hơn nữa, một số sẽ thấy rằng bánh xe số phận tiếp tục quay – và một số lại có thể nhìn ra cơ hội để nắm bắt được.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Lược dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2020/12/15/not-for-profit-publishing-today/"><strong>The Scholarly Kitchen</strong></a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1701906853"
	            data-title="Thực trạng xuất bản phi lợi nhuận" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thuc-trang-xuat-ban-phi-loi-nhuan/">Thực trạng xuất bản phi lợi nhuận</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/thuc-trang-xuat-ban-phi-loi-nhuan/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chênh lệch trong mức thu nhập giữa các ngành học</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/chenh-lech-trong-muc-thu-nhap-giua-cac-nganh-hoc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/chenh-lech-trong-muc-thu-nhap-giua-cac-nganh-hoc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Oct 2023 11:35:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=879</guid>

					<description><![CDATA[<p>Chênh lệch mức lương từ lâu đã nhận được sự quan tâm chú ý tại các nước có n ền kinh tế phát triển. Các ước tính về khoảng cách thu nhập cung cấp thông tin hữu ích về giá trị của các loại vốn nhân lực mà các ngành tương ứng đại diện. Đồng [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chenh-lech-trong-muc-thu-nhap-giua-cac-nganh-hoc/">Chênh lệch trong mức thu nhập giữa các ngành học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Chênh lệch mức lương từ lâu đã nhận được sự quan tâm chú ý tại các nước có n ền kinh tế phát triển. Các ước tính về khoảng cách thu nhập cung cấp thông tin hữu ích về giá trị của các loại vốn nhân lực mà các ngành tương ứng đại diện. Đồng thời, nó cũng cung cấp những bằng chứng quan trọng hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách khi xem xét mở rộng tuyển sinh, đào tạo và điều chỉnh chi tiêu chính phủ. Ngoài ra, những phát hiện về vấn đề này đóng vai trò không nhỏ cho công tác hướng nghiệp và việc lập kế hoạch tương lai của các học sinh, sinh viên. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Công bố với tiêu đề “<a href="https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0738059320304302">Wage earning differentials by field of study: Evidence from Vietnamese university graduates</a>” (Chênh lệch thu nhập theo ngành học: Bằng chứng từ sinh viên tốt nghiệp đại học Việt Nam) đăng trên tạp chí&nbsp;<em>International Journal of Educational Development&nbsp;</em>(Q1 theo Scimago-Scopus, CiteScore 2.8 và trong danh mục SSCI) của hai tác giả Trần Quang Tuyến và Vũ Văn Hưởng (thuộc nhóm nghiên cứu của Khoa Quốc tế &#8211; Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tìm hiểu về chủ đề này tại bối cảnh Việt Nam.</p>



<div class="wp-block-columns is-layout-flex wp-container-core-columns-is-layout-7387b849 wp-block-columns-is-layout-flex">
<div class="wp-block-column is-layout-flow wp-block-column-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ cuộc điều tra Lao động và việc làm do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện hằng năm, mang tính đại diện ở cấp quốc gia. Cuộc điều tra này thu thập thông tin về việc tham gia thị trường lao động từ những người từ 15 tuổi trở lên và hiện đang sinh sống tại Việt Nam. Kết quả điều tra chính là cơ sở để xây dựng và hoạch định các chính sách phát triển nguồn nhân lực và các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh gắn với xu hướng phát triển của thị trường lao động.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ dữ liệu của cuộc điều tra năm 2018, các tác giả đã sử dụng một mẫu cắt ngang gồm 38.623 người, từ sinh viên tốt nghiệp đến những người dưới 61 tuổi đã tốt nghiệp đại học và đang có công việc chính là làm công ăn lương.</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
</div>



<div class="wp-block-column is-layout-flow wp-block-column-is-layout-flow">
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="791" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751-791x1024.jpg" alt="" class="wp-image-880" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751-791x1024.jpg 791w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751-232x300.jpg 232w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751-768x994.jpg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751-1187x1536.jpg 1187w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/10/c011a3151439685.630c80a21b751.jpg 1545w" sizes="(max-width: 791px) 100vw, 791px" /><figcaption class="wp-element-caption">Tranh: <a href="https://www.behance.net/JacopoRosati" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Jacopo Rosati</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</figcaption></figure>
</div>
</div>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích kinh tế lượng áp dụng hàm thu nhập Mincer, phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), và mô hình Endogenous Switching Regression. Các mô hình có kiểm soát các biến số về tuổi nghề, giới tính, khu vực việc làm, nghề nghiệp, việc làm đúng/trái ngành đào tạo, tổng sản phẩm quốc nội cấp tỉnh, và khu vực địa lý thành thị &#8211; nông thôn.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Những kết quả có phần bất ngờ</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ giá trị của các loại nguồn vốn nhân lực được đại diện bởi các lĩnh vực đào tạo khác nhau ở Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cụ thể, về thu nhập, mức bình quân của tất cả các chuyên ngành đạt khoảng 7,80 triệu đồng/tháng. Những người tốt nghiệp trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh đạt thu nhập cao nhất, trong khi những người tốt nghiệp ngành nông nghiệp và thú y có mức lương thấp nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu lấy ngành nhân văn/nghệ thuật làm nhóm so sánh, phân tích hồi quy cho thấy chênh lệch tiền lương theo chuyên ngành là đáng kể và có ý nghĩa thống kê trong hầu hết các trường hợp ở khu vực kinh tế tư nhân hơn là tại các khu vực kinh tế công. Đối với khu vực công, tiền lương được Chính phủ quy định rất chặt chẽ, đây là lý do khiến mức lương có ít sự thay đổi giữa các chuyên ngành, ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Trong khi đó, chênh lệch trong khu vực tư thường đến từ sự khác nhau giữa vốn đầu tư cho các lĩnh vực.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các phân tích thống kê mô tả sâu về giới tính cũng chỉ ra một số điểm thú vị. Nhìn chung, nam giới có mức thu nhập lớn hơn đáng kể so với nữ giới, và khoảng cách này càng lớn hơn trong khu vực tư. Mức lương bình quân của nam giới và nữ giới lần lượt là khoảng 8,68 triệu đồng/tháng và 7,00 triệu đồng/tháng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo thống kê mô tả, nữ giới tốt nghiệp ngành nghệ thuật và nhân văn thu nhập khoảng 8,16 triệu đồng/tháng, chỉ sau nữ sinh viên tốt nghiệp ngành quốc phòng và an ninh. Đối với nam giới, những người thuộc lĩnh vực nghệ thuật và nhân văn thu nhập khoảng 8,48 triệu đồng/tháng; xếp sau những người đã tốt nghiệp các ngành quốc phòng và an ninh, y tế và sức khỏe, kỹ sư và các ngành dịch vụ khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Còn phân tích hồi quy cho thấy, với các điều kiện khác là như nhau, ngành nghề mang lại thu nhập cao nhất cho nữ giới là các ngành nghệ thuật và nhân văn. Trong khi, đối với nam giới, các ngành có mức lương hấp dẫn là sư phạm, giáo dục, y dược học. Ngành có mức lương cao cho cả hai giới tính là an ninh quốc phòng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một kết quả bất ngờ từ phân tích hồi quy đa biến, đó là các ngành thiên hướng định lượng và công nghệ (như kỹ sư, toán học, khoa học máy tính và kinh doanh, tài chính) có mức thu nhập thấp hơn so với các ngành nhân văn và nghệ thuật. Phát hiện này tương tự với trường hợp của Trung Quốc nhưng lại trái ngược hoàn toàn so với các nghiên cứu ở các nền kinh tế phát triển, nơi lĩnh vực có thu nhập cao nhất thường là nhóm ngành kỹ thuật, trong khi lĩnh vực nghệ thuật và nhân văn luôn có mức lương thấp nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bài báo nghiên cứu, các tác giả đưa ra một số lý giải cho phát hiện mới lạ này. Cử nhân một số ngành định hướng kỹ thuật và định lượng nhận thu nhập không cao hơn, thậm chí còn thấp hơn so với ngành nhân văn, nghệ thuật có thể là do chất lượng đào tạo các ngành này còn thấp. Bên cạnh đó, nhu cầu tương đối thấp về lao động trình độ đại học ở các lĩnh vực này cũng có thể là một phần nguyên nhân. Đặc biệt trong trường hợp Việt Nam, sự khác biệt thu nhập còn đến từ chính sách của chính phủ đối với các ngành, theo đó, nhân sự thuộc các ngành an ninh quốc phòng có mức lương cao đáng kể. Cuối cùng, những ngành nghệ thuật và nhân văn thường có xu hướng thúc đẩy các “kỹ năng mềm” có giá trị như giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và phản biện, khả năng thích ứng và tính linh hoạt. Điều này gợi mở cho các chủ đề nghiên cứu tiếp theo để làm sáng tỏ hơn nguyên nhân của vấn đề, TS Tuyến nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu còn chỉ ra một số yếu tố khác ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến sự chênh lệch mức lương. Trong khu vực tư, mức thu nhập sẽ tăng lên theo vị trí việc làm. Công việc trái với ngành đào tạo dẫn đến mức lương thấp hơn, và sự chênh lệch này rõ ràng tại khu vực công hơn là khu vực tư. Có sự chênh lệch giữa vùng nông thôn và thành thị, khoảng cách này càng lớn hơn trong khu vực công. Cuối cùng, tổng sản phẩm quốc nội cấp tỉnh cũng có tương quan thuận với mức thu nhập và mối liên hệ này mạnh hơn ở khu vực tư.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ những phát hiện đó, các tác giả nêu lên một số khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý giáo dục.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thực trạng nhân viên tại khu vực công được trả mức lương thấp hơn so với khu vực tư đã khiến nhân viên khu vực công phải tìm các con đường khác để kiếm thu nhập. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến hối lộ và các khoản thanh toán không chính thức vẫn phổ biến trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Tác giả đưa ra hàm ý rằng, chính sách của chính phủ cần có sự cải thiện về mức thu nhập trong các lĩnh vực này như một cách hiệu quả để chống tham nhũng và thúc đẩy liêm chính ở Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngoài ra, tác giả bày tỏ lo ngại chênh lệch trong mức thu nhập sẽ dẫn đến những chênh lệch trong thu hút đầu tư vào các ngành nghề có mức lương chưa hấp dẫn như kỹ sư, từ đó làm thiếu hụt kỹ sư tài năng – nguồn lực cần thiết cho quá trình hiện đại hóa đất nước. Bởi vậy, cần có những biện pháp toàn diện để thúc đẩy cả hai phía cung và cầu đối với ngành học này như tăng cường, nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng lĩnh vực sản xuất, thị trường việc làm để tiếp tục thu hút sinh viên tài năng.</p>



<figure class="wp-block-table"><table><tbody><tr><td>Theo tính toán của nhóm nghiên cứu từ dữ liệu điều tra Lao động và việc làm năm 2018, những ngành đào tạo chiếm nhiều nhân lực trình độ từ đại học trở lên nhất lần lượt là kinh doanh và tài chính (29%, lấy con số xấp xỉ), giáo dục và sư phạm (27%), và kỹ sư (12%). Sự phân bố giới tính theo các lĩnh vực cũng rất khác nhau. Ba ngành học có tỉ lệ nữ cao nhất là ngành giáo dục và sư phạm, kinh doanh và tài chính. Trong khi đó, tỉ lệ nam cao nhất ở các ngành tài chính và kỹ sư.Về sự phân bố theo ngành và khu vực, nhóm nghiên cứu tính toán, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm và giáo dục làm việc ở khu vực công (42%) và nông thôn (40%) cao hơn so với khu vực tư nhân (5%) và thành thị (23%). Số sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính và kinh doanh làm việc trong khu vực tư nhân (47%) và ở khu vực thành thị (31%) cao hơn so với khu vực công (17%) và ở khu vực nông thôn (20%). Một mô hình phân phối tương tự cũng cho thấy sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật có nhiều việc làm hơn ở khu vực tư nhân và khu vực thành thị.</td></tr></tbody></table></figure>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1697567746"
	            data-title="Chênh lệch trong mức thu nhập giữa các ngành học" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chenh-lech-trong-muc-thu-nhap-giua-cac-nganh-hoc/">Chênh lệch trong mức thu nhập giữa các ngành học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/chenh-lech-trong-muc-thu-nhap-giua-cac-nganh-hoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Một số lưu ý khi sử dụng Turnitin để kiểm tra tài liệu bằng tiếng Việt</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 27 Aug 2023 04:39:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=642</guid>

					<description><![CDATA[<p>Những năm gần đây, để đảm bảo tính liêm chính trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu, nhiều trường đại học đã có tiến hành sử dụng phần mềm Turnitin để rà soát các sản phẩm học thuật. Tuy nhiên, việc sử dụng Turnitin hiện tại vẫn chưa hiệu quả và đang dẫn đến các vấn đề đáng quan ngại khác do những hiểu lầm về Turnitin. Thông qua tìm hiểu về phần mềm này và thử nghiệm sử dụng Turnitin với các tài liệu tiếng Việt, chúng tôi đưa ra một số thảo luận và khuyến nghị dưới đây.</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/">Một số lưu ý khi sử dụng Turnitin để kiểm tra tài liệu bằng tiếng Việt</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Turnitin là phần mềm kiểm tra sự trùng lặp và phòng chống đạo văn, với ưu điểm là kho cơ sở dữ liệu lớn và khả năng rà soát văn bản ở nhiều thứ tiếng. Turnitin được sử dụng rộng rãi trên các cơ sở học thuật (trường đại học, nhà xuất bản,&#8230;) trên thế giới.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Hiểu thêm về Turnitin&nbsp;</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Turnitin đưa ra tỉ lệ trùng lặp, tương đồng và đây không phải là tỉ lệ đạo văn.</em>&nbsp;Turnitin giúp hỗ trợ đối chiếu văn bản hiện tại với kho dữ liệu các tài liệu đã có và phát hiện các điểm giống nhau. Thuật toán và kho dữ liệu của Turnitin không được công bố rõ ràng, ngoài việc tuyên bố rằng nó có thể phát hiện các sự trùng về từ (match words). Khi xem xét các bản báo cáo (similarity report) của Turnitin có thể thấy thông qua đối chiếu 1-1 giữa các tài liệu, Turnitin đưa ra&nbsp;<strong>điểm tương đồng (similarity score)</strong>. Đây cũng là chỉ số hiện đang được sử dụng để đánh giá mức độ đạo văn của tài liệu được kiểm tra.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong số các tài liệu đối chiếu, có những tài liệu chỉ trùng một số cụm từ lặp lại xuyên suốt bài với tỉ lệ trùng là dưới 1% với tài liệu được kiểm tra. Đây không được coi là đạo văn, vì các từ khóa trung tâm của vấn đề nghiên cứu sẽ được nhắc liên tục trong tài liệu là việc không tránh khỏi. Tuy nhiên khi cộng gộp chục nguồn dưới 1% sẽ dẫn đến điểm tương đồng cao.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Do đó, việc Turnitin bôi màu rải rác có thể vẫn chưa bị coi là đạo văn dù điểm tương đồng cao. Ngược lại, trong văn bản bị bôi màu liền mạch một đoạn hoặc nhiều đoạn được coi là đạo văn kể cả khi điểm tương đồng thấp.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn chung, Turnitin mới xuất hiện và được sử dụng gần đây tại Việt Nam, nên việc đạo văn trước đó đã diễn ra nhiều. Các tài liệu (luận văn, giáo trình, công trình nghiên cứu,&#8230;) được đăng tải lên các trang web công khai cũng được sao chép ở nhiều tài liệu khác. Vậy nên, việc sao chép từ một nguồn công khai có thể bị đánh dấu trùng lặp với nhiều các nguồn khác cũng sao chép nó và dẫn đến điểm tương đồng cao.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Turnitin có những công cụ lọc để hỗ trợ việc đánh giá tốt hơn. Bộ lọc được sử dụng phổ biến ở quốc tế là lọc tài liệu tham khảo. Turnitin tuyên bố rằng, khi sử dụng bộ lọc này, hệ thống sẽ không đánh dấu trùng lặp ở phần có tiêu đề “bibliography”, “references”, và một danh sách các tên tiêu đề tương tự. Đồng thời, Turnitin cũng có tuyên bố rằng, thuật toán của họ có thể loại bỏ các trùng lặp ở phần danh mục và các các nội dung liên qua được trích dẫn trong bài (in-line citation). Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng cho tài liệu Tiếng Anh và việc trích dẫn không chuẩn theo các bộ quy tắc cũng khiến bộ lọc này không hoạt động được. Khi sử dụng công cụ này đối với bản thảo tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy điểm tương đồng giảm đáng kể và phần danh mục tham khảo không còn bị đánh dấu trùng lặp. Tuy nhiên, đối với các tài liệu Tiếng Việt, bao gồm cả các tài liệu được trích dẫn theo các quy tắc APA và Harvard, điểm tương đồng không thay đổi nhiều và phần tài liệu tham khảo vẫn bị đánh dấu trùng sau khi sử dụng bộ lọc.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bên cạnh đó, Turnitin cũng có bộ lọc các đoạn trích dẫn nguyên văn. Bộ lọc không phổ biến do một số vấn đề về lạm dụng dẫn nguyên văn. Nếu văn bản của chúng ta lặp lại quá nhiều nguyên văn của người khác thì nó không thể hiện điểm mới hay tính sáng tạo. Vậy nên phần trích dẫn nguyên văn thường được bao gồm trong mức điểm tương đồng được chấp nhận. Một số chuyên ngành đặc trưng, như ngành luật bắt buộc phải trích dẫn nguyên văn các điều luật, thì việc áp dụng bộ lọc này lại là cần thiết. Để bộ lọc hoạt động cũng đảm bảo dẫn trực tiếp đúng hình thức có sử dụng dấu câu trích dẫn trực tiếp theo định nghĩa của Turnitin, ví dụ: dấu ngoặc kép (“&#8230;”).</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khuyến nghị về sử dụng Turnitin hiệu quả khi quét tài liệu tiếng Việt&nbsp;</strong></h2>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>Sử dụng bộ lọc loại trừ một số nguồn</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">(Để vào bộ lọc, mở cửa sổ báo cáo và lựa chọn ký từ hình&nbsp;)</p>



<p class="wp-block-paragraph">Turnitin có 2 bộ lọc để loại trừ một số nguồn bị trùng những cụm từ phổ biến:&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>&#8211; Bộ lọc loại trừ các nguồn có trùng lặp dưới tỉ lệ nhất định.</strong>&nbsp;Nếu ta lựa chọn bộ lọc này và để 1%, hệ thống sẽ loại bỏ các nguồn có tỉ lệ trùng dưới 1% chữ trong văn bản, trùng 1% trở lên vẫn sẽ bị đánh dấu.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image"><img decoding="async" src="https://media.tapchigiaoduc.edu.vn/uploads/2023/07/17/screen-shot-2023-07-17-at-08-1689557826.png" alt="" title=""/></figure>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>&#8211; Bộ lọc loại trừ các nguồn có trùng lặp dưới số chữ nhất định.&nbsp;</strong></p>



<figure class="wp-block-image"><img decoding="async" src="https://media.tapchigiaoduc.edu.vn/uploads/2023/07/17/screen-shot-2023-07-17-at-08-1689557874.png" alt="" title=""/></figure>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>Sử dụng bộ lọc danh mục tài liệu tham khảo</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Học viên cần được thông báo về việc sẽ kiểm tra bằng Turnitin và hướng dẫn về các quy tắc trình dẫn chuẩn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong trường hợp bộ lọc danh mục tài liệu tham khảo không hoạt động(vẫn đánh dấu các trích dẫn), cần tách riêng phần Danh mục tài liệu tham khảo để kiểm tra lại.&nbsp;</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>Đánh giá việc đạo văn bằng Báo cáo tương đồng (Similarity report)</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Khi kiểm tra tài liệu bằng Turnitin cần có sự xem xét kỹ lưỡng bản báo cáo trước và sau khi sử dụng các bộ lọc để đánh giá hoạt động của các bộ lọc. Đồng thời, việc xem lại báo cáo cũng giúp đảm bảo không có việc đạo văn nguyên một khổ hay một đoạn văn dù điểm tương đồng thấp hơn mức quy định.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đối với việc kiểm tra các tài liệu đã công bố trước thời điểm rà soát bằng Turnitin, cần cân nhắc đến thời điểm công bố của các tài liệu được cho là nguồn đạo văn của tài liệu được kiểm tra. Turnitin hiện không có bộ lọc về thời gian, vậy nên việc này chỉ có thể được xem xét một cách thủ công.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><em><strong>Cảnh báo về phương pháp đang được sử dụng để đối phó với Turnitin&nbsp;</strong></em></h4>



<p class="wp-block-paragraph">Việc kết luận đạo văn dựa trên điểm tương đồng chung có thể dẫn đến nhiều nhận định sai lầm về hành vi đạo văn của các tác giả. Đồng thời, việc không hiểu rõ cách thức hoạt động của Turnitin cũng khiến cho các tác giả không biết làm sao để chỉnh sửa văn bản của mình, như những trường hợp đã trích dẫn chính xác và những điều này đang dẫn đến những hệ quả tiêu cực khác. Hiện tại, một số trường hợp đối phó với việc kiểm tra trùng lặp bằng cách chèn ký tự lạ vào chữ, chỉnh cỡ chữ nhỏ và chuyển sang màu trắng, ngụy tạo thành dấu cách/khoảng trống giữa các chữ để Turnitin không nhận diện được từ.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image"><img decoding="async" src="https://media.tapchigiaoduc.edu.vn/uploads/2023/07/17/screen-shot-2023-07-17-at-08-1689557913.png" alt="" title=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Văn bản ban đầu trong file của học viên</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<figure class="wp-block-image"><img decoding="async" src="https://media.tapchigiaoduc.edu.vn/uploads/2023/07/17/screen-shot-2023-07-17-at-08-1689557929.png" alt="" title=""/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Văn bản sau khi được chỉnh lại cỡ chữ và màu chữ</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Những tài liệu sử dụng cách này thường có tỉ lệ chung thấp, có rất nhiều trang bị đánh đạo văn kín trang, nhưng lại có những đoạn hoặc những trang không hề đánh dấu một từ nào.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để khắc phục điều này, cần yêu cầu học viên khi gửi file word để kiểm tra buộc phải để một cỡ chữ chuẩn và màu chữ đen. Cán bộ phụ trách, trước khi tải tài liệu lên Turnitin cũng cần xem xét file word, bôi đen toàn bộ văn bản và chuyển về cỡ chữ chuẩn với màu chữ tối và xem xét lại để tránh các gian lận tương tự</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trên website và trong nhiều bài viết hướng dẫn, Turnitin đã lặp lại nhiều lần rằng điểm tương đồng không phải tỉ lệ đạo văn, việc đánh giá đạo văn phụ thuộc vào người kiểm tra và việc đánh giá cần dựa trên xem xét báo cáo tương đồng. Bài viết này cũng nhằm mục đích cung cấp thêm các hiểu biết thêm về Turnitin và một số lưu ý khi sử dụng Turnitin trong việc đánh giá hành vi đạo văn. Qua đây, chúng tôi hi vọng mọi người có thêm các thông tin để sử dụng Turnitin hiệu quả hơn, nhìn nhận khách quan hơn về kết quả rà soát tương đồng của Turnitin với các các tài liệu Tiếng Việt trong việc xác định hành vi đạo văn.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">The Turnitin Teams (n.d.). <em><a href="https://www.turnitin.com/blog/top-15-misconceptions-about-turnitin">Top 15 Misconceptions About Turnitin</a></em>. Turnitin. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Turnitin (n.d). <em><a href="https://help.turnitin.com/crossref-similarity-check/user/the-similarity-report/bibliography-and-quote-exclusion-definitions.htm#:~:text=Turnitin%20will%20look%20for%20common,out%20of%20the%20Similarity%20Report">Bibliography and quote exclusion definitions. </a></em></p>



<p class="wp-block-paragraph">Turnitin (n.d).<em> <a href="https://www.turnitin.com/blog/does-turnitin-detect-plagiarism#:~:text=Turnitin's%20software%20takes%20what%20a,and%20we%20look%20for%20similarities">Does Turnitin detect plagiarism? Part 1: The &#8220;Similarity or Plagiarism?&#8221; debate series.</a> </em></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Bài viết đã được đăng tải trên <a href="https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/87875/221/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/">Tạp chí giáo dục</a> ngày 17/07/2023</em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="ky-nang-nghien-cuu" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1693136364"
	            data-title="Một số lưu ý khi sử dụng Turnitin để kiểm tra tài liệu bằng tiếng Việt" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/">Một số lưu ý khi sử dụng Turnitin để kiểm tra tài liệu bằng tiếng Việt</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/mot-so-luu-y-khi-su-dung-turnitin-de-kiem-tra-tai-lieu-bang-tieng-viet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chất lượng đội ngũ cán bộ học thuật và các cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại học </title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/chat-luong-doi-ngu-can-bo-hoc-thuat-va-cac-co-che-dam-bao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/chat-luong-doi-ngu-can-bo-hoc-thuat-va-cac-co-che-dam-bao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 Aug 2023 11:14:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=615</guid>

					<description><![CDATA[<p>Tác giả Phạm Thị Hương (Đại học sư phạm TP HCM) và Nguyễn Hữu Cường (Đại học Tôn Đức Thắng) đã công bố nghiên cứu với đề tài “Academic staff quality and the role of quality assurance mechanisms: the Vietnamese case” trên tạp chí Quality in Higher Education. Đây là tạp chí thuộc Q1 Scopus [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chat-luong-doi-ngu-can-bo-hoc-thuat-va-cac-co-che-dam-bao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/">Chất lượng đội ngũ cán bộ học thuật và các cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại học </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Tác giả Phạm Thị Hương (Đại học sư phạm TP HCM) và Nguyễn Hữu Cường (Đại học Tôn Đức Thắng) đã công bố nghiên cứu với đề tài “<strong>Academic staff quality and the role of quality assurance mechanisms: the Vietnamese case” </strong>trên tạp chí <strong>Quality in Higher Education. </strong>Đây là tạp chí thuộc Q1 Scopus (Citescore 1.8) và được ESCI chỉ mục.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong hơn hai thập kỷ, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn công nhận các cơ sở đào tạo, thí điểm quy trình, sửa đổi tiêu chuẩn đến ban hành một bộ tiêu chuẩn mới tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện một vòng đánh giá với đầy đủ tiêu chuẩn. Việt Nam vẫn tiếp tục thí điểm tính hiệu quả của các cơ quan kiểm định.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Do đó, việc phát triển cách tiếp cận đảm bảo chất lượng ở Việt Nam được coi là vẫn còn đang trong giai đoạn sơ khai và là một vấn đề chủ chốt trong quá trình đổi mới giáo dục. Dựa trên bối cảnh đó, nghiên cứu này thảo luận về sự phát triển của phương pháp tiếp cận đảm bảo chất lượng trong cải cách giáo dục đại học và làm thế nào để tiếp tục phát triển phương pháp này và ứng dụng nó trong cải thiện giáo dục đại học.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các tác giả đã tiến hành phân tích thực tiễn phát triển đội ngũ học thuật viên hiện nay. Dữ liệu được thu thập từ các tài liệu và phỏng vấn sâu 36 khách thể đến từ 3 trường đại học.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả cho thấy việc đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên ở Việt Nam là một nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, vai trò của cách tiếp cận đảm bảo chất lượng vẫn bị hạn chế.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều này gợi ý rằng cần có sự kiểm duyệt lại các chính sách đảm bảo chất lượng để duy trì các tiêu chuẩn tối thiểu và thúc đẩy cam kết của các cơ sở đào tạo về nâng cao chất lượng giáo dục đại học.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chi tiết nghiên cứu:&nbsp;<br>Huong Thi Pham &amp; Cuong Huu Nguyen. (2020). <a href="https://doi.org/10.1080/13538322.2020.1761603">Academic staff quality and the role of quality assurance mechanisms: the Vietnamese case</a>, <em>Quality in Higher Education</em>, <em>26</em>(3), 262-283</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1692987260"
	            data-title="Chất lượng đội ngũ cán bộ học thuật và các cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại học " 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chat-luong-doi-ngu-can-bo-hoc-thuat-va-cac-co-che-dam-bao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/">Chất lượng đội ngũ cán bộ học thuật và các cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại học </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/chat-luong-doi-ngu-can-bo-hoc-thuat-va-cac-co-che-dam-bao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thăng trầm của các công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phương Thục]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 15 Aug 2023 03:10:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Dữ liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Sách hay]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=554</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nghiên cứu khoa học giáo dục đầu tiên của Việt Nam được công bố vào năm 1966 nhưng suốt 10 năm sau, đây là tài liệu duy nhất được công bố và trong 30 năm tiếp theo, trung bình mỗi năm cũng chỉ có hơn một tài liệu trong lĩnh vực này được công bố. [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/">Thăng trầm của các công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu khoa học giáo dục đầu tiên của Việt Nam được công bố vào năm 1966 nhưng suốt 10 năm sau, đây là tài liệu duy nhất được công bố và trong 30 năm tiếp theo, trung bình mỗi năm cũng chỉ có hơn một tài liệu trong lĩnh vực này được công bố. Phải đến năm 2006, khoa học giáo dục Việt Nam mới có bước tăng trưởng đột phá.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là những tổng kết được đưa ra trong cuốn sách “55 năm Khoa học giáo dục Việt Nam: Phân tích từ dữ liệu Scopus”. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục (Bibliometric) để phân tích dữ liệu Scopus về các công bố quốc tế trong lĩnh vực giáo dục của các nhà khoa học Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thông qua truy vấn và rà soát, 1.392 tài liệu về khoa học giáo dục Việt Nam công bố trong giai đoạn 1966 &#8211; 2020 đã được ghi nhận và đưa vào phân tích. 82% trong số đó đã được công bố quốc tế dưới dạng bài báo khoa học.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dựa theo số lượng hằng năm, có thể chia sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam thành bốn giai đoạn:</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Giai đoạn sơ khởi:&nbsp;</em>Tài liệu đầu tiên được công bố quốc tế vào năm 1966 nhưng trong suốt 10 năm sau đó (1967 &#8211; 1974), đây là tài liệu duy nhất được công bố. Năm 1966 cũng là mốc sớm nhất mà Scopus chỉ mục các tạp chí, ghi nhận các tiêu đề và tóm tắt của các công bố khoa học.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><em>Giai đoạn hình thành:</em>&nbsp;30 năm tiếp theo (1975 &#8211; 2005) trung bình mỗi năm có hơn một tài liệu được công bố. Quãng thời gian này chiếm hơn một nửa chặng đường phát triển của nghiên cứu khoa học giáo dục nhưng số lượng tài liệu không nhiều với 56 tài liệu, chiếm khoảng 4% lượng tài liệu công bố trong toàn bộ giai đoạn phân tích.</li>



<li><em>Giai đoạn phát triển:&nbsp;</em>Năm 2006 đánh dấu giai đoạn tăng mạnh về số lượng các tài liệu khoa học giáo dục được xuất bản. Trong 10 năm (2006 &#8211; 2015), tổng số tài liệu khoa học giáo dục Việt Nam được ghi nhận trên cơ sở dữ liệu Scopus là 325, nhiều gấp 5 lần số tài liệu được công bố trong 30 năm trước đó.</li>



<li><em>Giai đoạn đột phá:</em> Từ năm 2016, số lượng nghiên cứu về khoa học giáo dục Việt Nam tăng đột phá với tốc độ tăng 50% hằng năm. Số lượng tài liệu xuất bản trong năm 2016 nhiều gấp 1,5 lần số lượng tài liệu được xuất bản trong suốt 40 năm đầu (84 so với 56 tài liệu). Chỉ tính riêng số lượng tài liệu xuất bản trong năm 2020 đã nhiều hơn số lượng tài liệu xuất bản trong 10 năm (2006 &#8211; 2015) &#8211; 397 so với 325 tài liệu.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Trong giai đoạn 1966-2020, ba lĩnh vực nghiên cứu có nhiều công bố nhất gồm Dạy và Học; Nghiên cứu; và Quản lý, lãnh đạo và chính sách. Trong khi đó, các lĩnh vực có ít nghiên cứu nhất là Kinh tế giáo dục và Giáo dục đặc biệt. Các lĩnh vực đang được quan tâm nghiên cứu gần đây có thể kể đến Khả năng tuyển dụng, Ý định khởi nghiệp (Entrepreneurship), Giáo dục Toán học, Học tập trực tuyến, Nghiên cứu vị thành niên, Giáo dục STEM. Giữa các bậc học, phần lớn các công bố của Việt Nam tập trung vào giáo dục đại học; các bậc học khác, đặc biệt là Giáo dục trẻ sớm và Giáo dục nghề nghiệp, còn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách tương xứng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các đơn vị dẫn đầu về số lượng công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục hiện nay là Đại học Quốc gia Hà Nội (55 tài liệu và 540 lượt trích dẫn), Trường Đại học Tôn Đức Thắng (33 tài liệu và 143 lượt trích dẫn), Trường Đại học Cần Thơ (27 tài liệu và 172 lượt trích dẫn), Học viện Dân tộc (25 tài liệu và 75 lượt trích dẫn), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (16 tài liệu và 96 lượt trích dẫn), Đại học Quốc gia HCM (11 tài liệu và 76 lượt trích dẫn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu này chưa có sự đối sánh công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục với các ngành khác trong khối khoa học xã hội. Nhưng trước đó, vào năm 2020, đã có <a href="https://www.mdpi.com/2304-6775/8/2/32">một phân tích </a>cơ sở dữ liệu WOS về số lượng công bố quốc tế của 31 ngành khoa học xã hội giai đoạn 2008 – 2019, cho thấy khoa học giáo dục đứng thứ hai với 484 tài liệu và 534 tác giả, chỉ sau lĩnh vực Kinh tế (với 941 tài liệu và 1.350 tác giả).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dữ liệu phân tích cũng chưa đề cập đến các nghiên cứu khoa học giáo dục bằng tiếng Việt và công bố tại Việt Nam cũng như các nghiên cứu về khoa học giáo dục Việt Nam của người nước ngoài ở Việt Nam hay của người nước ngoài ở nước ngoài. Sự thiếu hụt thông tin này có thể khiến bức tranh về khoa học giáo dục Việt Nam chưa toàn diện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn lại 55 năm của khoa học giáo dục Việt Nam, nhóm tác giả xác định một số công bố quốc tế dưới đây như là những là dấu mốc quan trọng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Công bố khoa học giáo dục đầu tiên của người Việt được Scopus ghi nhận</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Tài liệu đầu tiên được ghi nhận trong hệ thống là của tác giả Nghiêm Đằng (Phó Viện trưởng Học viện Hành chánh Quốc gia tại Sài Gòn) với tiêu đề “<a href="https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/002085236603200208">Schools’ Section: Outline of a Teaching Programme in Development Administration</a>” (tạm dịch: Đề cương giảng dạy trong chương trình phát triển nhân viên hành chính). Bài báo được công bố năm 1966 trong chuyên mục Schools Section của tạp chí <em>International Review of Administrative Sciences</em> (tạp chí này liên tục nằm ở Q1 và Q2 Scopus trong 10 năm gần đây).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bài viết tác giả đưa ra năm ý tưởng về những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành cần được đưa vào một chương trình đào tạo nhân viên hành chính: Đào tạo chung tập trung vào vấn đề phát triển (để hình thành tầm nhìn về phát triển đất nước dưới góc độ xã hội học, kinh tế học, khoa học hành chính và chính trị); Kiến thức về điều kiện hành chính (các kỳ thực tập giúp học viên quan sát các tình huống thực tế, nhìn nhận những rào cản và đối chiếu với lý thuyết và tìm kiếm cách thức hoặc đề xuất hướng cải thiện); Khả năng thích ứng (học viên nên được khuyến khích trình bày các giải pháp cho một vấn đề nhất định thông qua các hội thảo, hội họp về các vấn đề thực diễn ra trong hành chính công, từ đó phát triển khả năng thích ứng một cách hệ thống và thực tiễn); Tầm nhìn toàn diện (việc học tập từ các tình huống trong quá trình thực tập sẽ giúp học viên mở rộng tầm nhìn, cho phép họ quan sát tầm nhìn toàn diện hoặc sự thiếu tầm nhìn từ cán bộ hành chính hướng dẫn của mình); Quan hệ con người (học viên cần được giới thiệu một bức tranh chân thực về các phong tục của quốc gia và thái độ của một công dân đối với chính quyền); và cuối cùng, tác giả nhấn mạnh chương trình đào tạo nhân viên hành chính cần chú trọng vào khía cạnh tâm lý học và xã hội học của các nước đang phát triển hơn là các khía cạnh pháp lý và kỹ thuật trong các vấn đề hành chính.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nghiên cứu hợp tác quốc tế đầu tiên được công bố về khoa học giáo dục Việt Nam</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Bài báo &#8220;<a href="https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/105649269764011">Reflections on Building a Business School in Vietnam: Falling into an Opportunity for Making a Difference</a>&#8221; (tạm dịch: Suy ngẫm về việc xây dựng trường kinh doanh tại Việt Nam: Cơ hội tạo dựng sự khác biệt) được đăng vào năm 1997 trên chuyên mục Reflection on Experience của tạp chí <em>Journal of Management Inquiry</em> (tạp chí này vẫn luôn nằm ở Q1 Scopus trong 5 năm gần đây).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bài viết thể hiện quan điểm dựa trên kinh nghiệm của tác giả Nancy K. Napier (Đại học Bang Boise, Mỹ) và các tác giả Việt Nam: Vũ Diệu Anh, Ngô Minh Hằng, Nguyễn Văn Thắng, Vũ Văn Tuấn (Đại học Kinh tế Quốc dân &#8211; NEU) khi tham gia dự án xây dựng và phát triển chương trình quản lý và đào tạo thạc sĩ quản lý kinh doanh (MBA) tại Việt Nam. Đây là dự án dài hạn và được đầu tư bởi Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA). Bài viết tập trung vào giai đoạn một của dự án với nhiệm vụ chính là đào tạo những người đào tạo (train the trainers). Ba mươi hai giảng viên NEU đã theo học bằng MBA (được trao bởi đại học North American) trong vòng hai năm và sau đó họ sẽ xây dựng chương trình này tại Việt Nam.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu khoa học giáo dục được trích dẫn nhiều nhất</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu với tiêu đề “Career adaptation: The relation of adaptability to goal orientation, proactive personality, and career optimism” (tạm dịch: Thích ứng nghề nghiệp: Mối quan hệ giữa sự thích ứng và định hướng mục tiêu, tính cách chủ động và sự lạc quan nghề nghiệp) có sự tham gia của tác giả Lữ Nhật Vinh (The Australian National University, Australia). Nghiên cứu được công bố năm 2013 trên tạp chí&nbsp;<em>Journal of Vocational Behavior</em>&nbsp;(tạp chí này luôn nằm ở Q1 Scopus). Đến nay, công trình này đã ghi nhận 139 lượt trích dẫn bởi Scopus; còn trên cơ sở Google Scholar ghi nhận đến 422 lượt trích dẫn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu của tác giả Lữ Nhật Vinh đánh giá tính chất trắc lượng (độ hiệu lực cấu trúc và độ tin cậy) của Thang đo Khả năng Thích ứng Nghề nghiệp (CAAS &#8211; Career Adapt-Abilities Scale) dựa trên khảo sát từ 555 sinh viên đại học tại Úc.</p>



<figure class="wp-block-table"><table><tbody><tr><td><em>Kết quả phân tích cho thấy thang đo CAAS là công cụ đo lường đầy tiềm năng cho các nghiên cứu cũng như công tác phát triển và can thiệp nghề nghiệp tại Úc. Khoa học giáo dục nghiên cứu các phân ngành truyền thống như sư phạm, tâm lí học đường hay các phân ngành có tính chất liên ngành như quản lý giáo dục, chính sách giáo dục, công nghệ giáo dục. Còn theo chiều dọc, khoa học giáo dục nghiên cứu các đối tượng như: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học hay giáo dục suốt đời.</em><em><br></em><em>Các cuộc cải cách, đổi mới giáo dục thành công trên thế giới luôn có nền tảng quan trọng là các nghiên cứu về khoa học giáo dục. Ví dụ, khi nói đến những phương pháp và triết lý dạy và học tiên tiến nhất đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới hiện nay, không thể không nhắc tới Jean Piaget hay Lev Vigostsky. Việc đổi mới chính sách tài chính giáo dục đại học – bao gồm các chính sách học bổng, tín dụng sinh viên, học phí tại Mỹ, Australia và nhiều quốc gia khác trên thế giới trong khoảng 30 năm qua &#8211; có dấu ấn không nhỏ từ các nghiên cứu của Bruce Johnstone hay Bruce Chapman. Hay khi nói về những cuộc đổi mới trong giáo dục đại học trên thế giới những năm gần đây theo xu hướng quốc tế hóa, chúng ta không thể không nhắc đến những tác giả như Philip Altbach hay Simon Marginson.</em><em><br></em><em>Ở Việt Nam, Khoa các Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục &#8211; Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập vào năm 2009, trên cơ sở nâng cấp Bộ môn Tâm lý giáo dục và Bộ môn Giáo dục đại học và chuyên nghiệp (được thành lập từ năm 2002).</em></td></tr></tbody></table></figure>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph">Bài viết này đã được đăng tải trên tạp chí Khoa học Phát triển ngày <em>20/11/2022</em> tại đường dẫn: <a href="https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/2022111703353951p1c160.htm ">https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/2022111703353951p1c160.htm </a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="du-lieu,sach-hay" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1692094244"
	            data-title="Thăng trầm của các công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/">Thăng trầm của các công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học giáo dục</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/thang-tram-cua-cac-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khoa-hoc-giao-duc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
