<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Yến Chi, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/author/yenchi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/yenchi/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 11 Dec 2023 12:29:28 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Nguyễn Yến Chi, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/yenchi/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Trở thành một đồng tác giả</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tro-thanh-mot-dong-tac-gia/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tro-thanh-mot-dong-tac-gia/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Yến Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 11 Dec 2023 12:29:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=1156</guid>

					<description><![CDATA[<p>Việc làm Đồng tác giả có thể ảnh hưởng rất khác nhau đối với những nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, trong lĩnh vực Khoa học xã hội, các bài báo có Đồng tác giả chỉ mới trở thành tiêu chuẩn trong vài thập kỷ gần đây. Tôi bắt đầu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tro-thanh-mot-dong-tac-gia/">Trở thành một đồng tác giả</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Việc làm Đồng tác giả có thể ảnh hưởng rất khác nhau đối với những nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, trong lĩnh vực Khoa học xã hội, các bài báo có Đồng tác giả chỉ mới trở thành tiêu chuẩn trong vài thập kỷ gần đây. Tôi bắt đầu con đường học vấn của mình từ chuyên ngành Văn học Anh, một chuyên ngành mà các tác giả thường không cộng tác viết (<a href="https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/03075079.2017.1405256?journalCode=cshe20" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Leane, Fletcher và Garg, 2019</a>;<a href="https://academic.oup.com/dsh/article/29/3/387/986317" target="_blank" rel="noreferrer noopener">&nbsp;Nyhan và Duke-Williams, 2014</a>). Trong khối ngành Nhân văn (Humanities), nơi quyền tác giả đơn nhất là tiêu chuẩn, việc đồng công bố một bài báo hoặc cuốn sách thậm chí có thể là một động thái hạn chế phát triển sự nghiệp sau này.</p>



<p>Ngoài ra, việc đồng tác giả có thể dẫn đến những bất lợi gia tăng cho nhà nghiên cứu nữ (trong cả lĩnh vực STEM và Khoa học xã hội nhân văn), nhà nghiên cứu trẻ và nhà nghiên cứu từ các nước đang phát triển – những bất lợi khi đóng góp của họ không được công nhận hoặc giảm giá trị so với giá trị thực tế.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://edlabasia.org/wp-content/uploads/2021/12/co-author-1024x845.png" alt="" class="wp-image-6296"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Janis Andzans via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p>Tuy nhiên, khi mới bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, tôi đã cố gắng tiếp tục xuất bản theo những cách truyền thống, đôi khi còn được gọi là xuất bản theo cách “chú sói đơn độc” (như trong<a href="https://researchwhisperer.org/2017/11/07/academic-lone-wolf/" target="_blank" rel="noreferrer noopener">&nbsp;một bài đăng</a>&nbsp;trên trang Research Whisperer trước đây). Đó là một hành trình tương đối khó khăn và đơn độc. Bạn đi đến thư viện hoặc kho lưu trữ một mình, bạn đọc một mình, bạn viết một mình, và bạn chỉnh sửa một mình. Sau một khoảng thời gian, bạn có thể được làm việc với một Trợ lý nghiên cứu, nhưng đóng góp trí tuệ của người trợ lý này cho tác phẩm thường rất nhỏ với những công việc như: sao chép, sửa tài liệu tham khảo, kiểm tra xác thực, và chỉnh sửa văn bản (nói cách khác, những công việc không có giá trị Đồng tác giả). Bạn có thể đến các hội nghị, trình bày về dự án của mình để xây dựng một tệp khán giả và nhận phản hồi cũng như ý kiến xây dựng, nhưng vẫn còn một khoảng cách giữa những gì bạn trình bày tại một hội nghị và liệu có ai thực sự muốn cùng hoàn thiện và công bố ý tưởng bạn đề xuất hay không. Thông thường, phản hồi duy nhất bạn nhận được là từ những người bình duyệt bài báo đó. Dần dần, tôi nhận ra rõ ràng rằng tôi sẽ không thể có được chỉ số H-index và số lượng bài công bố hàng năm như mong muốn bằng lộ trình học thuật truyền thống; nhưng tôi vẫn còn nhiều điều muốn nói và sách, bài báo vẫn là cách tôi muốn nói lên những điều này.</p>



<p>Tuy nhiên, khi mới bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, tôi đã cố gắng tiếp tục xuất bản theo những cách truyền thống, đôi khi còn được gọi là xuất bản theo cách “chú sói đơn độc” (như trong<a href="https://researchwhisperer.org/2017/11/07/academic-lone-wolf/" target="_blank" rel="noreferrer noopener">&nbsp;một bài đăng</a>&nbsp;trên trang Research Whisperer trước đây). Đó là một hành trình tương đối khó khăn và đơn độc. Bạn đi đến thư viện hoặc kho lưu trữ một mình, bạn đọc một mình, bạn viết một mình, và bạn chỉnh sửa một mình. Sau một khoảng thời gian, bạn có thể được làm việc với một Trợ lý nghiên cứu, nhưng đóng góp trí tuệ của người trợ lý này cho tác phẩm thường rất nhỏ với những công việc như: sao chép, sửa tài liệu tham khảo, kiểm tra xác thực, và chỉnh sửa văn bản (nói cách khác, những công việc không có giá trị Đồng tác giả). Bạn có thể đến các hội nghị, trình bày về dự án của mình để xây dựng một tệp khán giả và nhận phản hồi cũng như ý kiến xây dựng, nhưng vẫn còn một khoảng cách giữa những gì bạn trình bày tại một hội nghị và liệu có ai thực sự muốn cùng hoàn thiện và công bố ý tưởng bạn đề xuất hay không. Thông thường, phản hồi duy nhất bạn nhận được là từ những người bình duyệt bài báo đó. Dần dần, tôi nhận ra rõ ràng rằng tôi sẽ không thể có được chỉ số H-index và số lượng bài công bố hàng năm như mong muốn bằng lộ trình học thuật truyền thống; nhưng tôi vẫn còn nhiều điều muốn nói và sách, bài báo vẫn là cách tôi muốn nói lên những điều này.</p>



<p>Vì vậy, tôi quyết định vượt qua mặt tối của việc Đồng tác giả, bắt đầu cộng tác viết và tôi dám cam đoạn với bạn rằng trải nghiệm này thật tuyệt!</p>



<p>Dưới đây là 10 điều tôi học được khi trở thành Đồng tác giả, bao gồm các lưu ý và mẹo về làm việc nhóm, quản lý thời gian, các giá trị và quy trình viết bài. Tôi nhận thấy những điều này là thiết yếu, cho dù tôi gặp các cộng sự của mình hàng ngày hay chúng tôi sống ở hai đầu địa cầu.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Các lưu ý hàng đầu khi làm Đồng tác giả:</strong></h3>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>1. Cần có một tác giả chính chịu trách nhiệm về các đầu việc quản lý dự án như thiết lập thời hạn nội bộ trong nhóm và thương lượng với nhà xuất bản.</strong></h4>



<p>Chuẩn bị một nội dung để sẵn sàng xuất bản không chỉ là viết những lời hay ý đẹp. Một việc sẽ giúp nhóm của bạn rất nhiều là chỉ định một nhân sự chuyên theo dõi các lịch trình viết, trả lời email từ tổng biên tập và tổ chức các buổi họp tác giả thường kỳ. Theo kinh nghiệm của tôi, nhân sự này cũng thường là tác giả thứ nhất.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>2. Hãy rõ ràng về công việc của mỗi người.</strong></h4>



<p>Bạn chịu trách nhiệm viết những chương hay phần nào? Bạn sẽ chịu trách nhiệm gì khi chỉnh sửa? Sự rõ ràng về công việc của mọi người khi hợp tác giúp bạn đảm bảo công việc được phân bổ một cách công bằng và thiết thực, đồng thời giúp bạn tiến hành danh sách việc cần làm (to-do list) của mình dễ dàng hơn. Nó có thể sẽ trở nên lộn xộn hơn vào một lúc nào đó sau này, nhưng nó phải rõ ràng khi bắt đầu!</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>3. Gặp gỡ thường xuyên – gặp trực tiếp hoặc qua các phần mềm trò chuyện sử dụng video như Skype hoặc Zoom.</strong></h4>



<p>Trong các hoạt động cộng tác của mình, chúng tôi thường xuyên cập nhật bằng nhiều cách: gắn hashtag #amwriting cho nhau trong bài đăng trên Twitter hoặc Insta, tin nhắn SMS, email, cùng làm việc trên trang<a href="https://shutupwrite.com/" target="_blank" rel="noreferrer noopener">&nbsp;Shut Up &amp; Write</a>&nbsp;hoặc cùng uống một ly cà phê. Nhưng hiệu quả nhất vẫn là cuộc họp được lên lịch hàng tháng để mỗi thành viên có trách nhiệm giải trình, cùng nhau phân thích nhiều tài liệu và để đàm phán với nhau.</p>



<p>Tôi cũng sử dụng các cuộc họp thường kỳ của nhóm như các mốc thời hạn cho cá nhân. Ngay cả khi tôi đã không sáng tạo được gì trong cả tháng, một cuộc họp sắp tới luôn khiến tôi phải viết một thứ gì đó. Có thể đó chỉ là bản nháp đầu tiên vào phút cuối, nhưng tất cả những bản nháp đầu tiên vào phút cuối đó sẽ tích hợp lại nhanh hơn bạn nghĩ.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>4. Động viên nhau</strong></h4>



<p>Khi bạn đang có một ngày tốt lành hay một ngày tồi tệ, các cộng sự của bạn nên là nguồn cổ vũ lớn lao nhất. Điều này thực sự giúp ích cho việc viết lách!</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>5. Giữ liên lạc nếu bạn bị ốm, bị tụt lại phía sau, hoặc gặp khó khăn.</strong></h4>



<p>Một tác phẩm công bố là một dự án dài hạn và rất nhiều điều có thể xảy ra đối với công việc, cuộc sống và việc viết lách của bạn trong quá trình thực hiện dự án. Mọi người đều hiểu rằng bạn có thể cần phải điều chỉnh một số cam kết đã đưa ra. Chỉ cần bạn đề xuất, nhóm có thể tìm cách giúp bạn trở lại đúng lộ trình.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>6. Cố gắng làm việc cùng những người tương thích với bạn</strong></h4>



<p>Bất kỳ đội nhóm nào làm việc cũng cần phải có rất nhiều niềm tin, đặc biệt nếu bạn đang làm việc từ xa và chỉ họp cùng nhau mỗi tháng hoặc mỗi hai tháng. Tôi luôn giữ liên lạc với những người tôi đã từng làm việc trước đây (là những người tôi cùng giảng dạy, cùng làm việc trong các hội đồng hoặc các dự án viết nhỏ hơn như viết blog). Đây là những người mà tôi biết rõ rất tương thích với mình, và rằng chúng tôi có thể cùng nhau vượt qua các bất đồng và thách thức cùng nhau!</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>7. Làm việc với người khác có nghĩa họ không phải lúc nào cũng làm việc theo cách của</strong>&nbsp;<strong>bạn</strong></h4>



<p>Đây là điều hiển nhiên, nhưng nó cũng có thể là một thách thức nếu bạn đã quen là một “chú sói đơn độc”. Trong hầu hết trường hợp, những sự khác biệt này giúp bài viết của các bạn phong phú hơn, sâu sắc hơn và chung tiếng nói được với nhiều đối tượng hơn.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>8. Bảo vệ những gì bạn tin tưởng</strong></h4>



<p>Tôi đã trở thành một cây viết vững vàng hơn nhiều khi được thử thách để phản biện lại các giá trị xã hội, thẩm mỹ và trí tuệ của người khác. Cho dù quan điểm của bạn là yêu thích đại từ không-phân-biệt-giới-tính, Derrida, hay chi phí rẻ hơn cho học viên sau đại học… hãy bảo vệ quan điểm đó. Dẫu vậy, tôi cũng nên nói rằng không phải lúc nào bạn cũng giành chiến thắng. Tình yêu dấu phẩy Oxford của tôi thường xuyên bị nhóm của mình gạt bỏ.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>9. Chia sẻ những bản nháp sớm</strong></h4>



<p>Có thể là một thách thức để chuyển thói quen từ việc chia sẻ một bài viết chỉ khi nó gần như hoàn chỉnh sang thói quen chia sẻ từ những bản nháp đầu tiên. Tuy nhiên, việc cùng viết với một giọng văn, một nội dung và hướng tiếp cận sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu như các thành viên trong nhóm đọc những bản nháp sớm của nhau trước khi chúng đã quá hoàn thiện.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>10. Chỉnh sửa công việc của người khác theo từng giai đoạn</strong></h4>



<p>Khi tôi chỉnh sửa tác phẩm của chính mình, tôi thường viết lại các đoạn văn, thay đổi các từ riêng lẻ, kiểm tra chính tả và nghiền ngẫm lại các khái niệm… tất cả cùng một lúc. Nhưng việc người khác chỉnh sửa theo cách đó trên tác phẩm của tôi, ngược lại, là việc khá lộn xộn và vô ích.</p>



<p>Vậy nên, khi ai đó đưa ra phản hồi về các bản nháp ban đầu của tôi, sẽ rất hữu ích nếu họ giữ cho phản hồi của mình ở mức tổng quát, về hướng triển khai của các đoạn và của toàn bài. Khi họ đưa ra phản hồi về những bản nháp sau này, sẽ rất hữu ích nếu họ chỉ phản hồi về những chi tiết nhỏ như cấu trúc câu.</p>



<p>———————–</p>



<p>Khi mới bắt đầu, tôi cảm thấy việc đồng tác giả thật đáng sợ bởi tôi phải tự khiến bản thân mình mở lòng và phải nêu cao tinh thần trách nhiệm tới các cộng sự. Nhưng, một khi chúng tôi đã thành một nhóm viết, tôi nhận ra rằng đây là một trong những cách làm việc hiệu quả nhất, chắc chắn nhất và tập hợp trí tuệ nhất mà tôi từng sử dụng.</p>



<p>Nếu bạn có thể tìm được một nhóm viết có khả năng giao tiếp tích cực, công bằng và làm việc hiệu quả, tôi thực sự khuyến khích bạn bắt đầu cách làm việc này.</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://researchwhisperer.org/"><strong>The Research Whisperer</strong></a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="ky-nang-nghien-cuu" data-modified="120" data-title="Trở thành một đồng tác giả" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tro-thanh-mot-dong-tac-gia/">Trở thành một đồng tác giả</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tro-thanh-mot-dong-tac-gia/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sự tham gia của các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu vào quản trị trường đại học</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/su-tham-gia-cua-cac-can-bo-giang-vien-can-bo-nghien-cuu-vao-quan-tri-truong-dai-hoc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/su-tham-gia-cua-cac-can-bo-giang-vien-can-bo-nghien-cuu-vao-quan-tri-truong-dai-hoc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Yến Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 09 Nov 2023 02:54:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=970</guid>

					<description><![CDATA[<p>Giáo dục Đại học tại Việt Nam đã được đổi mới mạnh mẽ từ năm 2013, ngay sau khi Luật Giáo dục Đại học năm 2012 được ban hành. Từ đó, tự chủ trong công tác quản trị và tổ chức bộ máy đã trở thành xu hướng tất yếu tại các cơ sở giáo [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/su-tham-gia-cua-cac-can-bo-giang-vien-can-bo-nghien-cuu-vao-quan-tri-truong-dai-hoc/">Sự tham gia của các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu vào quản trị trường đại học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Giáo dục Đại học tại Việt Nam đã được đổi mới mạnh mẽ từ năm 2013, ngay sau khi Luật Giáo dục Đại học năm 2012 được ban hành. Từ đó, tự chủ trong công tác quản trị và tổ chức bộ máy đã trở thành xu hướng tất yếu tại các cơ sở giáo dục đại học. Một thành tố quan trọng trong công tác này là sự tham gia của các cán bộ giảng viên và cán bộ nghiên cứu. Trong điều kiện hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam đa dạng các phân loại theo quy mô trường như đại học Quốc gia, đại học Vùng, và loại hình sở hữu như đại học công lập, tư thục và quốc tế, hai tác giả Phạm Thị Thanh Hải và Lê Thị Kim Anh nghiên cứu về mức độ tham gia của các giảng viên, cán bộ nghiên cứu trong các khía cạnh quản trị đồng thời đánh giá mức độ hiệu quả của những hoạt động tham gia này tại các phân loại Đại học khác nhau như nêu trên. Bài báo với tựa đề “<strong>Academic staff’s participation in university governance – a move towards autonomy and its practical problems</strong>” (tạm dịch: Sự tham gia của các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu vào quản trị trường đại học – một bước tiến tới tự chủ đại học và những vấn đề thực tiễn) được đăng trên tạp chí&nbsp;<strong>Studies in Higher Education</strong>&nbsp;(Q1 Scopus, CiteScore = 6.8) ngày 28/06/2021.</p>



<p>Nghiên cứu của hai tác tác giả tập trung vào một số khía cạnh của công tác quản trị như: quản trị thể chế, nhân sự, chương trình đào tạo, nghiên cứu và quản lý tài chính. Sử dụng dữ liệu khảo sát&nbsp; gần 2.000 cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu (bằng phiếu hỏi) tại 17 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thuộc nhiều loại hình khác nhau vào năm 2018, nghiên cứu đã chỉ ra mức độ tham gia của các cán bộ vào công tác quản trị còn thấp. Trong các khía cạnh quản trị nêu trên, các cán bộ này tham gia vào khía cạnh nhân sự và các vấn đề học thuật nhiều hơn là vào khía cạnh tổ chức bộ máy và tài chính. Nghiên cứu cũng góp phần kiểm chứng và tái khẳng định một phân loại về bốn nhóm cán bộ giảng dạy và nghiên cứu tại trường đại học, bao gồm:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Nhóm một, nhóm “chức năng” (functional) gồm khoảng 15% cán bộ, có mối quan hệ thân thiết với lãnh đạo trường, và thấy rằng ý kiến tham gia của họ có hiệu quả cao, có tính quyết định trong cả 4 khía cạnh: Tổ chức, nhân sự, học thuật và tài chính.</li>



<li>Nhóm hai, nhóm “ảnh hưởng” (influential) gồm khoảng 25% cán bộ, là những nhân tố năng nổ trong công tác quản trị đặc biệt là khía cạnh nhân sự và chương trình đào tạo.</li>



<li>Nhóm ba, nhóm “hình thức” (ceremonial) gồm khoảng 40% cán bộ, hợp tác với các chủ trương, hoạt động chung của trường, tham gia mức độ trung bình vào việc đưa ra quyết định.</li>



<li>Nhóm cuối cùng, nhóm “lật đổ” (subverted) gồm khoảng 20% cán bộ còn lại, thường có phản ứng tiêu cực và tập trung phê phán một số khía cạnh học thuật ở cấp độ trường thành viên, khoa, viện, bộ môn.</li>
</ul>



<p>Ngoài ra, tuy hình thức quản trị tại các loại hình cơ sở giáo dục đại học là khác nhau, dữ liệu hiện tại của nghiên cứu chưa thể chỉ ra tại loại hình nào sự tham gia của cán bộ giảng dạy và nghiên cứu là tích cực và có tầm ảnh hưởng hơn.</p>



<p>Bên cạnh những phát hiện nêu trên, bài báo đã cung cấp một bức tranh tương đối tổng quan về tình hình thực hiện tự chủ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, những văn bản pháp luật chính điều chỉnh tiến trình này, từ đó cũng nêu một số đề xuất về hành lang pháp lý để việc thực hiện tự chủ tại các trường thuộc các loại hình được tối ưu hóa hơn nữa.&nbsp;&nbsp;</p>



<p><strong>Chi tiết nghiên cứu</strong>: Hai, P. T. T., &amp; Anh, L. T. K. (2021).<a href="https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/03075079.2021.1946031" target="_blank" rel="noreferrer noopener">&nbsp;Academic staff’s participation in university governance – a move towards autonomy and its practical problems</a>.&nbsp;<em>Studies in Higher Education</em>, DOI: 10.1080/03075079.2021.1946031</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Sự tham gia của các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu vào quản trị trường đại học" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/su-tham-gia-cua-cac-can-bo-giang-vien-can-bo-nghien-cuu-vao-quan-tri-truong-dai-hoc/">Sự tham gia của các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu vào quản trị trường đại học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/su-tham-gia-cua-cac-can-bo-giang-vien-can-bo-nghien-cuu-vao-quan-tri-truong-dai-hoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phương pháp chọn mẫu hệ thống</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/phuong-phap-chon-mau-he-thong/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/phuong-phap-chon-mau-he-thong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Yến Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Oct 2023 18:03:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Dữ liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=891</guid>

					<description><![CDATA[<p>Chọn mẫu hệ thống (systematic sampling)&#160;là một phương pháp lấy mẫu xác suất nhằm lấy mẫu (sample) đại diện từ một quần thể (population). Khi sử dụng phương pháp này, các nhà nghiên cứu bắt đầu tại một điểm ngẫu nhiên và sau đó tại mỗi khoảng lấy mẫu cố đinh gồm n phần tử [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/phuong-phap-chon-mau-he-thong/">Phương pháp chọn mẫu hệ thống</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Chọn mẫu hệ thống (systematic sampling)</strong>&nbsp;là một phương pháp lấy mẫu xác suất nhằm lấy mẫu (sample) đại diện từ một quần thể (population). Khi sử dụng phương pháp này, các nhà nghiên cứu bắt đầu tại một điểm ngẫu nhiên và sau đó tại mỗi khoảng lấy mẫu cố đinh gồm n phần tử của quần thể tính từ điểm ngẫu nhiên đó, chọn mẫu thứ n. Giống như các phương pháp lấy mẫu xác suất khác, các nhà nghiên cứu phải xác định quần thể họ muốn nghiên cứu trước khi lấy mẫu.</p>



<figure class="wp-block-image"><img decoding="async" src="https://edlabasia.org/wp-content/uploads/2022/03/191bb465933049.5b0533bf3203a-916x1024.png" alt="" class="wp-image-7254"/><figcaption class="wp-element-caption">Hình: Janis Andzans/Behance | CC BY-NC-ND 4.0</figcaption></figure>



<p>Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống vì nó dễ thực hiện hơn&nbsp;phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản&nbsp;(simple random sampling) – vốn có thể phải thực hiện khá cồng kềnh với các quần thể lớn. Phương pháp chọn mẫu hệ thống là một quy trình đơn giản hơn vì chỉ cần lựa chọn mẫu đầu tiên một cách ngẫu nhiên, sau đó khoảng lấy mẫu cố định sẽ hoàn thiện phần còn lại của quy trình. Mặc dù quy trình thực hiện đơn giản hơn, phương pháp chọn mẫu hệ thống vẫn có thể chọn ra các mẫu có tính đại diện cho quần thể một cách trung thực.</p>



<p>Chọn mẫu hệ thống còn có một lợi ích khác như không yêu cầu trước một danh sách quần thể đầy đủ, trong khi phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản cần phải có danh sách đó.</p>



<p>Bài phân tích sau đây sẽ phân tích sâu hơn về cách tiến hành chọn mẫu hệ thống trong trường hợp có và không có danh sách quần thể. Sau đó, sẽ điểm qua một số nhược điểm tiềm ẩn của phương pháp này và cách giảm thiểu tác động của những nhược điểm đó.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chọn mẫu hệ thống trong trường hợp có danh sách quần thể</strong></h2>



<p>Khi có danh sách quần thể đầy đủ, chọn mẫu hệ thống có quy trình gần giống chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Quá trình này chỉ yêu cầu nhìn vào danh sách và chọn các mẫu thứ n trong danh sách. Hãy tưởng tượng nhà nghiên cứu đang lấy mẫu học sinh trong một quận và có danh sách tất cả học sinh tại quận đó. Đơn giản người này chỉ cần bắt đầu tại một điểm ngẫu nhiên trong danh sách và sau đó cứ chọn người thứ 50 trong mỗi 50 học sinh Bùm! Vậy là đã có một mẫu đại diện của các học sinh trong quận.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Các lưu ý về danh sách</strong></h2>



<p>Khi tiến hành chọn mẫu hệ thống, cần phải hiểu quy luật được dùng để sắp xếp danh sách.</p>



<p>Tốt nhất là danh sách nên được sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc giả ngẫu nhiên (ví dụ: theo thứ tự bảng chữ cái) vì chọn mẫu hệ thống sẽ tương tự lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Một cách làm khác là sắp xếp danh sách theo thứ tự giảm dần / tăng dần theo một đặc điểm nào đó. Trong trường hợp này, chọn mẫu hệ thống vẫn có xu hướng chọn một mẫu đại diện vì quy trình cũng bắt đầu tại một điểm ngẫu nhiên và lấy mẫu tại các khoảng đều đặn cho đến kết thúc danh sách.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Ví dụ: trong một công ty, bạn có thể sắp xếp danh sách theo số năm kinh nghiệm tăng dần. Trong trường hợp này, chọn mẫu hệ thống sẽ bắt đầu với các thành viên mới gia nhập công ty rồi tới những người có nhiều kinh nghiệm hơn. Tuy nhiên, có thể thấy là không nhất thiết phải sắp xếp theo kinh nghiệm để có được mẫu đại diện.</em></p>
</blockquote>



<p>Hãy chú ý đến các chu kỳ hoặc quy luật trong danh sách quần thể vì chúng có thể khiến việc chọn mẫu hệ thống tạo ra mẫu có thiên kiến nhất định, không mang tính đại diện. Ví dụ: nếu nhà nghiên cứu có một danh sách xoay quanh mười phòng ban trong một công ty, thì mỗi mẫu quan sát thứ 10 hoặc 20 sẽ là người từ cùng một phòng ban! Người này cần hiểu danh sách của mình và nhận biết bất kỳ quy luật ngầm nào trong danh sách.</p>



<p>Nếu danh sách của bạn có một quy luật có vấn đề, chỉ cần sắp xếp lại danh sách để loại bỏ quy luật đó! Sau đó tiến hành chọn mẫu hệ thống. Các nhà thống kê coi việc sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái là có thể chấp nhận được đối với việc chọn mẫu hệ thống. Ví dụ: với công ty có mười phòng ban, bạn có thể sắp xếp lại danh sách theo thứ tự bảng chữ cái, theo năm kinh nghiệm hoặc ngẫu nhiên để loại bỏ quy luật vòng lặp theo phòng ban.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tính khoảng lấy mẫu cố định</strong></h2>



<p>Để tiến hành chọn mẫu hệ thống, cần tính toán khoảng lấy mẫu cố định.</p>



<p>Lấy kích thước của quần thể và chia cho kích thước mẫu mục tiêu để tính khoảng lấy mẫu (n). Sau đó, chọn mọi mẫu thứ n trong danh sách.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Khoảng lấy mẫu cố định (n) = Cỡ quần thể / Cỡ mẫu</em></p>
</blockquote>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p>Ví dụ: nếu quy mô quần thể của bạn là 20.000 người và muốn mẫu có quy mô 500 người, thì cần chọn mỗi người thứ 40 trong danh sách (20.000 / 500 = 40).</p>
</blockquote>



<p>Trước khi chọn mẫu, các nhà nghiên cứu nên chọn ngẫu nhiên điểm bắt đầu trong danh sách và chọn khoảng lấy mẫu cố định. Đưa ra những quyết định trước giúp tránh rủi ro thao túng dữ liệu!</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chọn mẫu hệ thống trong trường hợp không có danh sách quần thể</strong></h2>



<p>Không giống như lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản và lấy mẫu phân tầng (stratified sampling), chọn mẫu hệ thống có thể được sử dụng trong trường hợp không có danh sách quần thể đầy đủ. Cách chọn mẫu này, do đó, là một lựa chọn tốt cho những nhóm quần thể khó lưu trữ dữ liệu đầy đủ, chẳng hạn như nhóm người vô gia cư, đơn giản vì danh sách này không tồn tại. Yêu cầu chính là các nhà nghiên cứu biết cách xác định vị trí của những nhóm quần thể này, hiểu được thói quen của nhóm và có thể tương tác với nhóm. Mặc dù việc lấy mẫu không thể hoàn hảo trong những trường hợp này, ít nhất chọn mẫu hệ thống là một lựa chọn khả thi, không giống như các phương pháp lấy mẫu khác yêu cầu danh sách đầy đủ.</p>



<p>Ví dụ: bạn muốn khảo sát khách hàng tại một cửa hàng nhưng không có danh sách đầy đủ tất cả khách hàng. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống và thực hiện khảo sát cho mọi khách hàng thứ 20 rời cửa hàng. Phương pháp này khả thi vì khách hàng rời đi một cách ngẫu nhiên.</p>



<p>Khi sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống theo cách này, cần hiểu kỹ về hành vi của quần thể. Ví dụ: có thể có nhiều loại khách hàng khác nhau trong cửa hàng vào những thời điểm khác nhau. Cửa hàng có thể đón nhiều khách là người đã nghỉ hưu hơn vào ban ngày các ngày trong tuần, đón nhiều thanh thiếu niên sau giờ học và những người đi làm vào buổi tối và cuối tuần. Và, nếu cửa hàng có nhiều chi nhánh, sẽ cần phải lấy mẫu ở các chi nhánh khác nhau.</p>



<p>Việc sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống mà không có danh sách đòi hỏi phải lập kế hoạch cẩn thận về thời gian và địa điểm lấy mẫu; cần chọn mẫu từ tất cả các nhóm con theo tỷ lệ chính xác. Việc làm này sẽ mất khá nhiều công sức để tiến hành! Tuy nhiên, nếu không có danh sách quần thể, sẽ cần sử dụng một phương pháp như chọn mẫu hệ thống để có được mẫu đại diện cho quần thể một cách hợp lý.</p>



<p>Trong khi đó, lấy mẫu theo cụm (cluster sampling) không yêu cầu danh sách quần thể đầy đủ nhưng yêu cầu danh sách một phần của quần thể. Chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) cũng không cần danh sách nhưng kết quả lại ít hữu ích nhất.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Hạn chế của Chọn mẫu hệ thống</strong></h2>



<p>Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng chọn mẫu hệ thống mang lại những lợi ích quan trọng như sự đơn giản và không yêu cầu danh sách quần thể đầy đủ. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số nhược điểm tiềm ẩn.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Các vòng lặp trong danh sách</strong></h2>



<p>Nếu sử dụng danh sách quần thể, phương pháp chọn mẫu hệ thống rất giống phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Tuy nhiên, chất lượng của mẫu cuối cùng phụ thuộc vào việc danh sách có các vòng lặp hay không. Một danh sách với các vòng lặp có thể cho ra mẫu không có tính đại diện tốt. Suy cho cùng, việc chọn mẫu hệ thống trong trường hợp có danh sách quần thể vẫn không hoàn toàn ngẫu nhiên như chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. May mắn thay, có thể thực hiện một số kỹ thuật phòng ngừa đơn giản để hạn chế rủi ro này. Ví dụ: các nhà thống kê coi việc sắp xếp danh sách theo thứ tự bảng chữ cái là đủ ngẫu nhiên và có thể loại bỏ bất kỳ vòng lặp nào khỏi danh sách!</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Thao túng dữ liệu</strong></h2>



<p>Bất cứ khi nào các nhà nghiên cứu tạo ra một hệ thống không ngẫu nhiên, việc làm này sẽ tăng khả năng thao túng dữ liệu, ngay cả khi vô tình. Do phương pháp này cho phép các nhà nghiên cứu được chọn cả điểm bắt đầu và khoảng lấy mẫu cố định, nguy cơ thao túng dữ liệu là dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu yêu cầu các nhà nghiên cứu đưa ra những quyết định chọn điểm bắt đầu và khoảng lấy mẫu cố định ngay từ trước khi nghiên cứu thì rủi ro này có thể được giảm thiểu.&nbsp;</p>



<p><strong>Nguồn</strong></p>



<p>Jim Frost. (n.d.).&nbsp;<a href="https://statisticsbyjim.com/basics/systematic-sampling/">Systematic Sampling</a>. StatisticsByJim.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="du-lieu,ky-nang-nghien-cuu" data-modified="120" data-title="Phương pháp chọn mẫu hệ thống" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/phuong-phap-chon-mau-he-thong/">Phương pháp chọn mẫu hệ thống</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/phuong-phap-chon-mau-he-thong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
