<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>EdTech - ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/category/edtech/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/category/edtech/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Tue, 25 Aug 2026 01:57:07 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.1</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>EdTech - ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/category/edtech/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Muốn AI công bằng hơn? Hãy bắt đầu từ dữ liệu.</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/muon-ai-cong-bang-hon-hay-bat-dau-tu-du-lieu/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/muon-ai-cong-bang-hon-hay-bat-dau-tu-du-lieu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đào Phương Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 23 Aug 2026 01:45:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3275</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ông lớn trong ngành công nghệ &#8211; Sony, mới đây đã giới thiệu một bộ dữ liệu hình ảnh huấn luyện AI, mà được lăng-xê rằng có tính đa dạng, không thiên lệch, và quan trọng nhất: đảm bảo tính minh bạch trong việc thu thập dữ liệu. Không khó để nhìn nhận rằng AI [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/muon-ai-cong-bang-hon-hay-bat-dau-tu-du-lieu/">Muốn AI công bằng hơn? Hãy bắt đầu từ dữ liệu.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><em>Ông lớn trong ngành công nghệ &#8211; Sony, mới đây đã giới thiệu một bộ dữ liệu hình ảnh huấn luyện AI, mà được lăng-xê rằng có tính đa dạng, không thiên lệch, và quan trọng nhất: đảm bảo tính minh bạch trong việc thu thập dữ liệu.</em></p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large is-resized"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="681" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2-1024x681.jpeg" alt="" class="wp-image-3276" style="aspect-ratio:1.5052005943536404;width:1013px;height:auto" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2-1024x681.jpeg 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2-300x199.jpeg 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2-767x510.jpeg 767w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2-1536x1021.jpeg 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-2.jpeg 1920w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/photos/man-in-white-and-blue-long-sleeve-shirt-standing-near-glass-window-vohu78p3X9U">man in white and blue long sleeve shirt standing near glass window</a> via Unsplash | Unsplash license</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Không khó để nhìn nhận rằng AI đang ngày càng hiện diện trong mọi mặt của cuộc sống, và để tạo ra những sản phẩm đủ thông minh hơn, hữu ích hơn, “đời” hơn, các công nghệ này cần được huấn luyện bằng lượng dữ liệu khổng lồ từ Internet. Công nghệ máy tính thị giác (Computer Vision) không phải là một ngoại lệ.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Computer Vision hiện diện trong&nbsp; nhiều công nghệ quen thuộc như hệ thống nhận diện khuôn mặt, phân tích hoạt động con người hay công cụ tìm kiếm hình ảnh. Tuy vậy, việc phụ thuộc vào các nguồn dữ liệu trên Internet đang làm dấy lên các quan ngại về rủi ro đạo đức liên quan đến người dùng, cũng như những người huấn luận và phát triển AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>FHIBE: Bộ dữ liệu hướng tới AI công bằng hơn</strong>&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bối cảnh đó, các nhà nghiên cứu đến từ Sony mới đây đã giới thiệu một bộ dữ liệu huấn luyện AI mới mang tên Fair Human-Centric Image Benchmark (FHIBE) &#8211; bộ tiêu chuẩn đánh giá tính công bằng của dữ liệu hình ảnh con người, được quảng bá là đa dạng hơn, minh bạch hơn và hạn chế thiên lệch trong quá trình xây dựng dữ liệu. Bộ dữ liệu bao gồm 10,318 hình ảnh của 1981 người từ 81 vùng địa lý khác nhau trên toàn thế giới. Số lượng hình ảnh này cho phép đảm bảo tính đa dạng, từ đó hạn chế những định kiến thiên lệch đối với các vấn đề liên quan đến con người. FHIBE cũng được cam kết là sẽ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hơn thế nữa, bộ dữ liệu này có sự đồng thuận của các bên tham gia.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>ImageNet và thời kỳ bùng nổ của Computer Vision</strong>&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để hiểu vì sao những bộ dữ liệu như FHIBE lại mang tính đột phá, chúng ta cần nhìn lại giai đoạn bùng nổ của Computer Vision trong hơn một thập kỷ qua. Năm 2009, ImageNet ra đời như một một kho dữ liệu hình ảnh khổng lồ được thu thập từ mạng xã hội và các website chia sẻ ảnh trên Internet, đi kèm với các cuộc thi giúp những nhóm nghiên cứu AI so sánh thuật toán nhận diện hình ảnh trên cùng một chuẩn đánh giá. Tuy nhiên, phải đến năm 2012, bước ngoặt lớn của AI mới thực sự xảy ra khi AlexNet đạt kết quả vượt trội trong cuộc thi ImageNet và chứng minh sức mạnh của deep learning. Kể từ đó, các mốc tham chiếu không chỉ đơn thuần là công cụ đo lường, mà trở thành thước đo quan trọng để đánh giá tiến bộ của các mô hình AI. Cùng lúc đó, dữ liệu được nhìn nhận như nền móng của mọi đột phá: mô hình càng được huấn luyện trên dữ liệu lớn và chất lượng, khả năng học và xử lý vấn đề càng mạnh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dù vậy, chính cách xây dựng dữ liệu từ Internet cũng nhanh chóng bộc lộ nhiều vấn đề đạo đức. Các nhà nghiên cứu phát hiện những thiên lệch rất rõ ràng trong dữ liệu hình ảnh, từ phân biệt chủng tộc cho tới định kiến giới tính. Ví dụ, các từ khoá như “CEO” hay “doctor” thường gắn với đàn ông da trắng, trong khi “maid” hay “cleaner” lại gắn với phụ nữ hoặc người thuộc nhóm thiểu số. Không chỉ vậy, nhiều hình ảnh còn được sử dụng mà không có sự đồng thuận từ chủ sở hữu, dẫn đến tranh cãi về quyền riêng tư và sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và quyền được chấp thuận của chủ thể bức ảnh cũng thường bị các công ty công nghệ phớt lờ trong quá trình thu thập dữ liệu. Giới chuyên gia chỉ trích gay gắt việc &#8216;bình thường hóa&#8217; quy trình huấn luyện AI dựa trên những nguồn tài nguyên thiếu minh bạch và đầy định kiến này. Hệ quả là hàng loạt tranh cãi pháp lý về quyền riêng tư và sở hữu hình ảnh đã nổ ra mà vẫn chưa có hồi kết. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng phần lớn các bộ dữ liệu đời đầu được xây dựng trong bối cảnh chưa tồn tại một khung đạo đức chuẩn mực để đánh giá tính công bằng cho các mô hình thị giác máy tính.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>FHIBE và nỗ lực xây dựng dữ liệu công bằng hơn</strong>&nbsp;</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nhận thức được những vấn đề trên, các nhà nghiên cứu đã phát triển FHIBE theo hướng toàn diện hơn, trong đó không chỉ quan tâm đến quy mô dữ liệu mà còn đặt câu hỏi liệu bộ dữ liệu đó có thực sự phù hợp để đánh giá tính công bằng của AI hay không. Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn hình ảnh con người bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm nhất của Computer Vision và cũng là nơi các thiên lệch dễ bộc lộ rõ nhất.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khác với nhiều bộ dữ liệu trước đây, FHIBE chỉ sử dụng ảnh từ các tình nguyện viên đã đồng ý cung cấp dữ liệu. Người tham gia cũng có thể tự chú thích thông tin của mình như độ tuổi, nguồn gốc tổ tiên, đại từ nhân xưng, tư thế hay tương tác trong ảnh. Đây được xem là cách tiếp cận mới trong học máy, bởi nó trao quyền mô tả danh tính cho chính người cung cấp dữ liệu thay vì để hệ thống hoặc người khác “dán nhãn” cho họ.&nbsp; FHIBE sau đó được sử dụng để đánh giá nhiều loại mô hình AI khác nhau, từ các mô hình chuyên biệt (narrow model) cho tới foundation model. Kết quả cho thấy các mô hình AI thường tạo ra chênh lệch lớn giữa các nhóm nhân khẩu học, đặc biệt khi phải xử lý nhiều đặc điểm nhạy cảm cùng lúc như giới tính hay nguồn gốc tổ tiên. Khi mở rộng sang các mô hình thị giác – ngôn ngữ, nhiều định kiến tiềm ẩn càng lộ rõ hơn. Chẳng hạn, mô hình BLIP-2 từng giải thích rằng một người được xem là “dễ mến” đơn giản “vì đó là phụ nữ”, cho thấy AI đã vô thức học lại các khuôn mẫu xã hội từ dữ liệu Internet.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>FHIBE có phải lời giải cho AI công bằng?</strong>&nbsp;</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Dù được xem là bước tiến đáng chú ý, FHIBE vẫn tồn tại nhiều giới hạn. Hạn chế trước hết là về quy mô dữ liệu. Với chỉ khoảng 10.000 hình ảnh, FHIBE khó có thể cạnh tranh với các bộ dữ liệu Internet khổng lồ mà các mô hình AI hiện nay đang sử dụng. Ngoài ra, chi phí xây dựng bộ dữ liệu này cũng rất lớn: mất nhiều năm phát triển và tiêu tốn hơn 750.000 USD. Điều đó đặt ra một câu hỏi quan trọng cho ngành AI: nếu muốn công nghệ phát triển theo hướng đạo đức hơn, liệu chúng ta có thể tiếp tục mở rộng dữ liệu theo logic “càng nhiều càng tốt” như trước đây?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, FHIBE vẫn cho thấy một hướng đi đáng chú ý khi khuyến khích việc để người tham gia tự mô tả danh tính của mình, đặc biệt với những yếu tố nhạy cảm như giới tính. Dẫu vậy, vấn đề không hoàn toàn đơn giản. AI vẫn cần hiểu cách con người nhìn nhận và đánh giá lẫn nhau trong thực tế xã hội. Vì thế, câu hỏi đặt ra là liệu dữ liệu tự chú thích có nên thay thế hoàn toàn các đánh giá khách quan, hay cả hai hình thức cần tồn tại song song để AI vừa công bằng hơn vừa phản ánh đúng cách con người vận hành ngoài đời thực. Dù câu trả lời là gì, FHIBE và hướng tiếp cận của Xiang cùng các cộng sự vẫn đánh dấu một bước tiến quan trọng: biến những tranh luận đạo đức về AI thành các phương pháp thực hành cụ thể và có thể kiểm chứng được.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-025-03643-y">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1787474711"
	            data-title="Muốn AI công bằng hơn? Hãy bắt đầu từ dữ liệu." 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/muon-ai-cong-bang-hon-hay-bat-dau-tu-du-lieu/">Muốn AI công bằng hơn? Hãy bắt đầu từ dữ liệu.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/muon-ai-cong-bang-hon-hay-bat-dau-tu-du-lieu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Học sinh Mỹ tự xây dựng Bộ Quy tắc Sử dụng AI trong Nhà trường</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/hoc-sinh-my-tu-xay-dung-bo-quy-tac-su-dung-ai-trong-nha-truong/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/hoc-sinh-my-tu-xay-dung-bo-quy-tac-su-dung-ai-trong-nha-truong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 22 Aug 2026 01:51:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đổi mới]]></category>
		<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3278</guid>

					<description><![CDATA[<p>Một bộ quy tắc ứng xử chuẩn quốc gia về việc đưa Trí tuệ nhân tạo (AI) vào học đường K-12 (từ Mẫu giáo đến Lớp 12) nên được thiết kế như thế nào? Câu trả lời: Lấy con người làm trung tâm. Quy tắc đó phải bảo vệ cốt lõi của quá trình học [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-sinh-my-tu-xay-dung-bo-quy-tac-su-dung-ai-trong-nha-truong/">Học sinh Mỹ tự xây dựng Bộ Quy tắc Sử dụng AI trong Nhà trường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-1024x1024.png" alt="" class="wp-image-3280" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-1024x1024.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-150x150.png 150w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-300x300.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-768x768.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3-1536x1536.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-3.png 1760w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: minh hoạ bởi <a href="https://unsplash.com/@zrieds/illustrations?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">muhammad noor ridho</a> via <a href="https://unsplash.com/illustrations?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Một bộ quy tắc ứng xử chuẩn quốc gia về việc đưa Trí tuệ nhân tạo (AI) vào học đường K-12 (từ Mẫu giáo đến Lớp 12) nên được thiết kế như thế nào?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Câu trả lời: <strong>Lấy con người làm trung tâm.</strong> Quy tắc đó phải bảo vệ cốt lõi của quá trình học tập thực chất, giúp học sinh làm chủ công nghệ đúng cách, đồng thời tôn trọng quyền &#8220;nói không với AI&#8221; của cả người học lẫn người dạy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là thành quả từ <strong>&#8220;Đạo luật STUDENTS FIRST&#8221;</strong> — một khung chính sách do 98 học sinh THPT đại diện cho 50 bang trên khắp nước Mỹ cùng tranh luận, xây dựng và biểu quyết trong suốt 3 ngày tại Boston (tháng 7/2026). Sự kiện thuộc khuôn khổ <em>Lễ hội AI dành cho Thanh thiếu niên Mỹ</em>, được phối hợp tổ chức bởi các tổ chức giáo dục uy tín (Day of AI, MIT RAISE, Hiệp hội Giám đốc Giáo dục AASA và Viện Edward M. Kennedy).</p>



<blockquote class="wp-block-quote has-medium-font-size is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>&#8220;Trong bối cảnh người lớn vẫn chưa thể thống nhất được cách quản lý AI và học sinh đôi khi còn sành công nghệ hơn cả thầy cô, việc các em tự ngồi lại và đạt được tiếng nói chung là một bước đi vô cùng ý nghĩa.&#8221;</em></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><strong>Jeff Riley</strong>, Giám đốc Điều hành tổ chức Day of AI.</p>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khi nhà trường vẫn còn loay hoay trước làn sóng AI</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều khu học chánh tại Mỹ hiện rơi vào thế bị động: vừa muốn ra quy định quản lý AI, vừa phải gánh thêm áp lực về ngân sách, nỗi lo học sinh nghiện màn hình hay các bài toán cải thiện chất lượng học tập.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Thực trạng mù mờ:</strong> Khảo sát của <em>EdWeek Research Center</em> cho thấy phần lớn giáo viên và quản lý nhà trường đều thừa nhận trường mình <strong>chưa có quy định rõ ràng về AI tạo sinh</strong>, hoặc chính họ cũng không nắm rõ quy định là gì.</li>



<li><strong>Hệ quả:</strong> Giáo viên ngần ngại ứng dụng công nghệ mới, đồng thời lúng túng không biết xử lý ra sao khi học sinh lạm dụng AI để gian lận.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Bản đề xuất &#8220;STUDENTS FIRST&#8221; ra đời nhằm lấp đầy khoảng trống đó, đưa ra các nguyên tắc cân bằng giữa quyền lợi và trách nhiệm của cả 4 bên: <strong>Học sinh – Giáo viên – Nhà quản lý – Phụ huynh</strong>.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Bộ Quy tắc &#8220;STUDENTS FIRST&#8221; có gì?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trọng tâm của bộ quy tắc là <strong>Năng lực hiểu biết về AI (AI Literacy)</strong>. Học sinh khẳng định: <em>Không thể giao một công cụ cho ai đó rồi bắt họ dùng đúng, trong khi họ còn chưa hiểu bản chất và phạm vi của công cụ đó.</em></p>



<h4 class="wp-block-heading">1. Trách nhiệm &amp; Quyền lợi của Học sinh</h4>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Được giáo dục AI từ sớm:</strong> Học sinh cần được hướng dẫn về AI ngay khi bắt đầu tiếp xúc với các thiết bị số trong lớp học.</li>



<li><strong>Dùng AI để hỗ trợ, không dùng để học hộ:</strong> AI chỉ là công cụ bổ trợ, không được dùng để né tránh tư duy hay rèn luyện kỹ năng tự thân.</li>



<li><strong>Nghiêm cấm hành vi độc hại:</strong> Cấm dùng AI để bắt nạt, quấy rối, xúc phạm hay bôi nhọ người khác.</li>



<li><strong>Quyền khiếu nại &amp; Quyền từ chối:</strong> Học sinh có quyền phúc khảo nếu bị buộc tội dùng AI sai quy định. Đồng thời, các em có quyền <strong>từ chối dùng AI</strong> trong bài tập và yêu cầu được giao hình thức thay thế.</li>
</ul>



<h4 class="wp-block-heading">2. Trách nhiệm &amp; Quyền hạn của Giáo viên</h4>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>AI không được thay thế con người khi chấm điểm:</strong> Giáo viên không được dùng AI làm căn cứ duy nhất để cho điểm, nhưng có thể dùng nó làm điểm tham chiếu ban đầu.</li>



<li><strong>Minh bạch và rõ ràng:</strong> Giáo viên phải ghi rõ trong đề cương môn học bài nào được dùng AI, bài nào cấm. Bản thân giáo viên khi dùng AI cũng phải công khai minh bạch như học sinh.</li>



<li><strong>Kiểm tra vấn đáp:</strong> Để chống gian lận, giáo viên có quyền yêu cầu học sinh <strong>bảo vệ/giải trình bài làm bằng lời nói (vấn đáp)</strong> nếu nghi ngờ có sự can thiệp của AI.</li>



<li><strong>Cập nhật kiến thức định kỳ:</strong> Giáo viên cần được tham gia các khóa tập huấn về AI thường xuyên.</li>
</ul>



<h4 class="wp-block-heading">3. Vai trò của Nhà quản lý (BGH / Ban Giáo dục)</h4>



<ul class="wp-block-list">
<li>Đưa ra bộ hướng dẫn sử dụng AI rõ ràng, công khai và <strong>rà soát định kỳ mỗi năm một lần</strong>.</li>



<li>Phải tham vấn ý kiến của toàn bộ cộng đồng (học sinh, giáo viên, phụ huynh) trước khi ban hành quy định.</li>



<li>Tổ chức các chương trình tập huấn nâng cao năng lực AI cho đội ngũ cán bộ, giáo viên.</li>
</ul>



<h4 class="wp-block-heading">4. Vai trò của Phụ huynh</h4>



<ul class="wp-block-list">
<li>Rèn luyện thói quen sử dụng công nghệ lành mạnh cho con tại nhà.</li>



<li>Chủ động nâng cao hiểu biết về AI và có quyền được biết AI đang được áp dụng như thế nào trong lớp học của con mình.</li>
</ul>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Một bước đi nhỏ bé, nhưng vô cùng giá trị</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Chính nhóm học sinh soạn thảo cũng thừa nhận bộ quy tắc này chưa hoàn hảo. Do hạn chế thời gian, các em chưa giải quyết được bài toán <strong>ngân sách</strong> (tiền ở đâu để mua sắm thiết bị và tập huấn cho giáo viên) hay áp lực quá tải công việc vốn có của ngành giáo dục.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, đây được đánh giá là một khung tham chiếu vô cùng giá trị. Bộ quy tắc này sẽ được gửi tới mạng lưới hơn 10.000 lãnh đạo giáo dục trên khắp nước Mỹ, đóng vai trò là &#8220;tiếng nói từ người trong cuộc&#8221; giúp các trường tự xây dựng chính sách AI phù hợp với thực tế địa phương mình.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.edweek.org/technology/students-created-a-national-ai-policy-framework-heres-what-it-includes/2026/08">Education Week</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="doi-moi,edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1787388697"
	            data-title="Học sinh Mỹ tự xây dựng Bộ Quy tắc Sử dụng AI trong Nhà trường" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-sinh-my-tu-xay-dung-bo-quy-tac-su-dung-ai-trong-nha-truong/">Học sinh Mỹ tự xây dựng Bộ Quy tắc Sử dụng AI trong Nhà trường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/hoc-sinh-my-tu-xay-dung-bo-quy-tac-su-dung-ai-trong-nha-truong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Có một câu chuyện để kể: Tồn tại trong thời kỳ AI</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/co-mot-cau-chuyen-de-ke-ton-tai-trong-thoi-ky-ai/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/co-mot-cau-chuyen-de-ke-ton-tai-trong-thoi-ky-ai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đào Phương Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2026 07:47:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3244</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trên khắp các trường đại học trên thế giới, một sự chuyển dịch âm thầm đang diễn ra. Các sinh viên dùng AI để làm bài luận, các giảng viên thì cùng lúc chạy đua để thiết kế lại các bài kiểm tra đánh giá, còn nhà trường thì liên tục ban hành các quy [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/co-mot-cau-chuyen-de-ke-ton-tai-trong-thoi-ky-ai/">Có một câu chuyện để kể: Tồn tại trong thời kỳ AI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="768" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3-1024x768.jpeg" alt="" class="wp-image-3245" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3-1024x768.jpeg 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3-300x225.jpeg 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3-768x576.jpeg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3-1536x1152.jpeg 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-3.jpeg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh bởi <a href="https://unsplash.com/@hugowiz?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Ugo Mendes Donelli</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/nine-printed-dice-e4FbcDByhjI?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Trên khắp các trường đại học trên thế giới, một sự chuyển dịch âm thầm đang diễn ra. Các sinh viên dùng AI để làm bài luận, các giảng viên thì cùng lúc chạy đua để thiết kế lại các bài kiểm tra đánh giá, còn nhà trường thì liên tục ban hành các quy định mới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giữa những biến động này, một suy nghĩ mới mẻ xuất hiện và gây chú ý: <strong>Trong thời đại AI, người có một câu chuyện để kể là người sẽ tồn tại.&nbsp;</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhận định này đánh dấu một bước ngoặt căn bản. Nó không đơn thuần chỉ là sự thay đổi trong chốc lát mà là một biến chuyển hoàn toàn trong cách định nghĩa khái niệm giá trị. Sự khác biệt giữa người với người giờ đây không còn nằm ở những gì họ có thể làm được, mà ở cách họ tổ chức và diễn giải ý nghĩa của đời mình.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong hơn một thế kỷ gần đây, giáo dục đại học được xây dựng dựa trên một giả định rằng điều sinh viên cần là những kiến thức và kỹ năng mà có thể chuyển đổi được thành các cơ hội phát triển kinh tế và vị thế xã hội. Hệ thống giáo dục vì vậy được thiết kế để khuyến khích sự tích lũy: tích lũy kiến thức, tích lũy tín chỉ, và tích lũy những năng lực có thể nhìn thấy được.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy vậy, giả định này đang có nguy cơ sụp đổ, cùng với đó là mô hình giáo dục chúng ta đang theo đuổi. Sâu xa hơn, một ảo tưởng rằng giá trị của một người sẽ đứng vững bằng cách bồi đắp các kiến thức và tích lũy cũng đang lung lay. Trong nhiều thập kỷ, chúng ta nhầm lẫn năng lực của một người với bản sắc riêng của họ, cho rằng những gì người đó tạo ra chính là ý nghĩa của cuộc đời họ.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo không chỉ làm gián đoạn những giả định này, mà còn phơi bày hạn chế của nó. Vấn đề không nằm ở việc máy móc đang ngày càng giỏi hơn, mà ở chỗ định nghĩa của chúng ta về “năng lực” từ trước đến nay vốn chưa hoàn chỉnh.&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những hệ thống AI như ChatGPT đang tái lập một mô hình mà ở đó tri thức trở nên khan hiếm. Những công việc từng là chỉ dấu của chuyên môn – viết lách, tóm tắt, lập trình, và một số hình thức sáng tạo – &nbsp;giờ đây đang được AI thực hiện với quy mô lớn, theo yêu cầu, và với chi phí gần như bằng không. Cái AI đang xoá bỏ không chỉ là lao động, mà còn là một ảo tưởng rằng chúng ta có thể định nghĩa bản thân bằng lao động.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều gì sẽ xảy ra khi các kĩ năng không còn khan hiếm nữa? Chúng ta cần bắt đầu từ câu hỏi đơn giản này để hiểu được sự biến đổi sâu rộng đang diễn ra.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khi kỹ năng không còn khan hiếm</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Những chính sách phổ biến để đối phó với AI trong giáo dục hiện nay thường bao gồm việc tăng cường các kỹ năng số, đào tạo kỹ thuật, và nâng cao hiểu biết về AI. Mặc dù những chính sách này là cần thiết, chúng vẫn chưa hoàn toàn hiệu quả bởi những người định hướng chính sách vẫn đang hiểu sai bản chất của sự dịch chuyển này.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng ta đang không tiến đến một nền kinh tế tri thức tiến bộ hơn. Thay vì vậy, chúng ta đang tiến đến một trạng thái “dư thừa nhận thức”.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi kiến thức trở nên thừa thãi, thông tin mất đi giá trị khan hiếm, các tác vụ kỹ thuật được tự động hoá, năng lực đơn thuần không còn tính cạnh tranh nữa. Trong một môi trường như vậy, câu hỏi không phải là “Bạn làm được gì?” nữa, mà sẽ là “Công việc của bạn mang lại ý nghĩa gì?”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một câu chuyện để kể khi đó không chỉ đơn thuần là một phép ẩn dụ, mà chính là một phần trong cấu trúc tạo nên bản sắc của một người.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những thay đổi đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện. Các trường đại học ở Úc và Vương quốc Anh đã bắt đầu thiết kế lại các bài kiểm tra đánh giá để đưa vào các yếu tố phản tư và tập trung vào quá trình bên cạnh các sản phẩm có thể có sự hỗ trợ của AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tại Phần Lan, các cải cách về chương trình học đang ngày càng ưu tiên những năng lực mang tính phổ quát và liên ngành như khả năng diễn giải, phán đoán và lập luận đạo đức, hơn là việc thành thục các kỹ thuật riêng lẻ.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xu hướng này cũng ngày càng hiện diện nhiều hơn trong các thảo luận chính sách quốc tế, khi những tổ chức như OECD và UNESCO nhấn mạnh các năng lực mang tính nhân văn, đạo đức và diễn giải như những năng lực thiết yếu của kỷ nguyên AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu kỹ năng không còn tạo ra khác biệt, vậy thì cái gì sẽ làm được điều đó? Dù gì đi nữa, cái tạo nên khác biệt đó chắc chắn không chỉ là kỹ thuật.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>“Có một câu chuyện” nghĩa là gì?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một câu chuyện sẽ giúp chúng ta khác biệt trong thời đại AI. Tuy nhiên, trước hết, một câu chuyện chỉ ra một sự thật đáng lo ngại: Những điều ta từng nghĩ sẽ định nghĩa giá trị của một con người giờ đây không còn đủ nữa.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để hiểu được điều này, ta cần đối diện với một ngộ nhận.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hiện nay, khái niệm “câu chuyện” thường bị đơn giản hoá thành việc xây dựng thương hiệu cá nhân – một sự nhầm lẫn về phạm trù. Một câu chuyện thật sự không phải là một công cụ marketing, mà là tổng thể tri thức của một người.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có một câu chuyện nghĩa là có được một sự nhất quán theo thời gian – khả năng kết nối những trải nghiệm trong quá khứ, hành động trong hiện tại và dự định cho tương lai thành một quỹ đạo. Điều này đòi hỏi khả năng đặt một trải nghiệm vào trong bối cảnh, một nhận thức rằng tri thức luôn gắn với cộng đồng, xã hội, văn hoá và con người – một điều mà trường phái hiện tượng học từ lâu đã nhấn mạnh.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc kể một câu chuyện cũng đòi hỏi năng lực diễn giải – khả năng gán ý nghĩa cho một sự kiện thay vì chỉ xử lý thông tin về những gì đã xảy ra. Theo cách hiểu này, một câu chuyện không chỉ là kể lại các sự kiện. Nó là một lăng kính mà qua đó cuộc đời của một người được sắp đặt theo một cách logic và dễ hiểu.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các hệ thống AI có thể mô phỏng tư duy, nhưng chúng không có môi trường để các tư duy này tiếp tục vận động và mang lại hệ quả. Chúng không có các mối quan hệ, không trải nghiệm sự liên tục của đời sống. Chính ở những câu chuyện tự sự của mỗi cá nhân, ý nghĩa mới được thành hình, tranh luận, và tồn tại.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Từ sản xuất tri thức đến kiến tạo ý nghĩa</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Sự thay đổi mang tính bước ngoặt này sẽ dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong các trường đại học. Những hệ thống được thiết kế cho thời kỳ khan hiếm tri thức giờ đây sẽ phải đối mặt với những thách thức khi hoạt động trong một thế giới của sự dư thừa.&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong lịch sử, đại học là nơi tạo ra và phổ biến kiến thức. Trong thời đại AI, những thể chế này cần được tổ chức lại để hướng đến việc kiến tạo ý nghĩa và hình thành những câu chuyện.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều này không có nghĩa là từ bỏ tính học thuật nghiêm ngặt và những tri thức liên ngành. Ngược lại, nó đòi hỏi việc cải tổ lại cách các kiến thức được giảng dạy, đánh giá, và tích hợp vào bản sắc trí tuệ của mỗi sinh viên.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hiện nay, phần lớn chương trình đào tạo đang bị phân mảnh về mặt cấu trúc – các học phần rời rạc, các chuẩn đầu ra tách biệt, và đánh giá phần lớn dựa trên sản phẩm cuối cùng. Sinh viên tốt nghiệp với một tập hợp các năng lực tích luỹ được theo thời gian, nhưng lại thiếu cảm nhận về một câu chuyện hoàn chỉnh mà những năng lực này tạo thành.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong thời đại mà AI có khả năng tái tạo được rất nhiều sản phẩm của con người, sự rời rạc phân mảnh này là một điểm yếu quan trọng về cấu trúc.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Những cử nhân không có câu chuyện</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu các trường đại học không thay đổi, họ có nguy cơ tạo ra những sinh viên tốt nghiệp mà không có câu chuyện: thành thạo kỹ thuật, sở hữu nhiều bằng cấp, nhưng không thể diễn đạt mục đích, phương hướng hay ý nghĩa của những việc mình làm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những sinh viên như vậy đặc biệt dễ tổn thương trong một thị trường lao động mà ngày càng được định hình bởi AI, nơi những nhà tuyển dụng tìm kiếm một người không chỉ làm được việc mà còn cần có óc phán đoán, tư duy linh hoạt, và có tính thống nhất.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nói một cách thẳng thắn hơn, nếu giá trị của một sinh viên chỉ là một tập hợp những đầu ra, máy móc hoàn toàn có thể thay thế để tạo ra những giá trị đó. Các trường đại học cần phải chấp nhận nhìn thằng vào một thực tế, rằng khi ưu tiên sản phẩm đầu ra hơn việc tìm kiếm ý nghĩa, họ sẽ vô tình khiến mình tụt hậu nhanh hơn.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều này còn đặt ra một lo ngại sâu sắc ở cấp độ toàn cầu. Những hệ thống giáo dục không giúp sinh viên nuôi dưỡng được những ý nghĩa sẽ không chỉ tụt hậu, mà còn tạo ra những thế hệ chỉ có thể vận hành các hệ thống một cách máy móc thay vì đặt câu hỏi và phát triển các hệ thống này.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tưởng tượng lại mô hình đại học: Ba chuyển dịch trong cấu trúc</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Để thích ứng trước bước ngoặt này, các trường đại học cần vượt qua những thay đổi nhỏ lẻ và tiến đến thay đổi ở cấp độ cấu trúc – một phản ứng mang tính hệ thống trước một logic nền tảng đã thay đổi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc đánh giá không thể tiếp tục neo vào những sản phẩm cuối cùng, mà thay vào đó cần đánh giá cách sinh viên tương tác với AI, cách họ đưa ra quyết định trong điều kiện thiếu thông tin, cũng như cách họ diễn giải và đặt những sản phẩm được tạo bởi AI vào trong bối cảnh của mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chương trình học cần chuyển từ sự phân mảnh rời rạc sang một quá trình tích hợp vào tổng thể ý nghĩa. Các môn học cần được thiết kế để giúp sinh viên xây dựng được tiến trình phát triển tri thức của chính mình, ví dụ như thông qua việc tập hợp và phản tư hồ sơ học tập của bản thân, các dự án tổng hợp cuối khoá, và những thực hành giúp kết nối những kiến thức chuyên ngành với định hướng cá nhân.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phương pháp sư phạm cũng cần dịch chuyển từ việc truyền đạt thông tin sang việc tạo lập ý nghĩa. Việc dạy học không thể tiếp tục chỉ là truyền tải, mà cần ưu tiên đối thoại, diễn giải và truy vấn. Các nhà giáo cần trở thành những người dẫn dắt quá trình tạo nghĩa trong một môi trường chung sống bởi con người và AI.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự chuyển đổi này sẽ không tự động xảy ra. Nó đòi hỏi sự lãnh đạo một cách có chủ đích từ các trường đại học, các nhà hoạch định chính sách, và các nhà giáo dục – những người sẵn sàng nhìn nhận và thay đổi suy nghĩ về mục đích của giáo dục đại học.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nền kinh tế của sự diễn giải</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Những thay đổi hiện nay không chỉ đang diễn ra trên phương diện công nghệ, mà còn là một dịch chuyển ở cấp độ văn minh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng ta đang chuyển từ một nền kinh tế sản xuất sang một nền kinh tế diễn giải. Trong bối cảnh này, AI tạo ra các khả thể, còn con người gán cho chúng ý nghĩa.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự thay đổi này kéo theo sự chuyển đổi từ các hệ thống được tổ chức xoay quanh việc sản xuất sang những hệ thống xoay quanh việc diễn giải. Những người đi đầu không còn là những người biết nhiều nhất, mà là những người có thể lồng các kiến thức vào một câu chuyện mạch lạc và thuyết phục về trải nghiệm sống của mình.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Câu hỏi dành cho các trường đại học</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Vấn đề bây giờ không phải là liệu các trường có nên dạy sinh viên sử dụng AI. Điều này giờ đã là chuyện đương nhiên. Câu hỏi quan trọng bây giờ là liệu các trường còn có thể giúp sinh viên làm chủ được sự phát triển cá nhân, cả về trí tuệ lẫn đạo đức của họ hay không?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu câu trả lời là có, giáo dục đại học sẽ tiếp tục không thể thay thế. Nếu không, hệ thống đại học có nguy cơ biến thành một hệ thống chỉ tạo ra được những kết quả tương tự như những gì máy móc tạo ra.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các trường đại học cần hành động ngay. Cần thiết kế lại các chương trình, phương thức đánh giá và phương pháp sư phạm để có thể tạo ra được những người học có khả năng diễn giải, kết nối và hiểu được ý nghĩa thật sự của kiến thức.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong thời đại AI, ranh giới không nằm ở việc ai biết dùng máy móc và ai không biết dùng. Ranh giới sẽ phân chia giữa một bên là những người chỉ được nhìn nhận như những đầu ra, và những người vượt ra được chuyện đó.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Câu hỏi về sự hình thành con người</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ bị đe dọa nhiều nhất trong thế giới đang bị chi phối bởi AI như hiện nay không phải là khả năng tìm kiếm việc làm, mà là sự hình thành một chủ thể con người. Câu hỏi không còn là liệu giáo dục có dẫn đến việc làm hay không, mà liệu giáo dục có giữ được cho chúng ta quyền làm chủ hay không.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong phần lớn lịch sử, giáo dục đại học hiện đại theo đuổi một mục tiêu bất thành văn, đó là sự căn chỉnh. Căn chỉnh sinh viên cho đúng với nhu cầu của thị trường lao động, với kỳ vọng của nhà nước, và với những chuẩn mực học thuật. Trong thời đại của trí tuệ nhân tạo, sự căn chỉnh này sẽ trở thành quá trình loại bỏ âm thầm.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự nguy hiểm của AI không nằm ở chỗ nó sẽ thay thế con người ngay lập tức. Thay vào đó, nó khiến một số hình thức con người đang dùng để học tập và phát triển trở nên lỗi thời, đặc biệt là những hình thức dựa trên sự lặp lại, tuân thủ và thực thi các kỹ thuật ở một phạm vi hẹp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngược lại, một câu chuyện sẽ có khả năng chống lại xu hướng này. Trước sự tối ưu hoá của máy móc, một câu chuyện mang đến tính đa nghĩa, những mâu thuẫn, và sự từ chối bị giản lược. Nó chống lại niềm tin rằng các hướng đi cuộc sống có thể được xác định từ trước, hoặc có thể được dự đoán bằng dữ liệu. Nó cho phép sự chệch hướng – khả năng được lựa chọn khác đi, diễn giải khác đi, trở thành một điều gì đó khác.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giáo dục, vì thế, không chỉ là trang bị cho sinh viên cách sử dụng những hệ thống mới, mà còn giúp họ không bị định nghĩa bởi chính những hệ thống ấy.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Phần không thể bị giản lược</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Sẽ luôn tồn tại một khoảng biên không thể bị tự động hóa: nơi trải nghiệm vượt khỏi khả năng mô tả của dữ liệu, nơi phán đoán vượt qua sự tính toán, và nơi ý nghĩa vượt ra ngoài những sản phẩm hữu hình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiệm vụ của giáo dục đại học chính là bảo vệ, mở rộng và trao tính chính danh cho những khoảng biên ấy. Bởi chính ở đó, trong khoảng không không thể bị giản lược đó, cuộc đời của một con người sẽ trở thành một tự sự có ý nghĩa, thay vì chỉ là một chuỗi những thành tích.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.universityworldnews.com/post.php?story=20260506174106176">University World News</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="chuyen-nghe,edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1785163623"
	            data-title="Có một câu chuyện để kể: Tồn tại trong thời kỳ AI" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/co-mot-cau-chuyen-de-ke-ton-tai-trong-thoi-ky-ai/">Có một câu chuyện để kể: Tồn tại trong thời kỳ AI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/co-mot-cau-chuyen-de-ke-ton-tai-trong-thoi-ky-ai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Liệu Ây-Ai có phải là mặt trời nhỏ của giáo dục?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/lieu-ay-ai-co-phai-la-mat-troi-nho-cua-giao-duc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/lieu-ay-ai-co-phai-la-mat-troi-nho-cua-giao-duc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Jun 2026 01:38:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3130</guid>

					<description><![CDATA[<p>Thách thức lớn nhất của một giảng viên đại học không phải là đứng trên bục giảng, mà là những đêm dài thức trắng bên đống giấy tờ hành chính. Chấm điểm, làm khung tiêu chí (rubric), duyệt bài thảo luận, rà soát đề cương&#8230; những việc ngoài giờ hành chính ấy đang ngốn sạch [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lieu-ay-ai-co-phai-la-mat-troi-nho-cua-giao-duc/">Liệu Ây-Ai có phải là mặt trời nhỏ của giáo dục?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Thách thức lớn nhất của một giảng viên đại học không phải là đứng trên bục giảng, mà là những đêm dài thức trắng bên đống giấy tờ hành chính. Chấm điểm, làm khung tiêu chí (rubric), duyệt bài thảo luận, rà soát đề cương&#8230; những việc ngoài giờ hành chính ấy đang ngốn sạch quỹ thời gian lẽ ra phải dành cho sinh viên. Giữa làn sóng chuyển đổi số toàn cầu, trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện như một mặt trời nhỏ, toả sáng ấm áp, hứa hẹn là công cụ sưởi ấm những đêm thâu làm việc.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="1000" height="723" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/image.png" alt="" class="wp-image-3131" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/image.png 1000w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/image-300x217.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/image-768x555.png 768w" sizes="(max-width: 1000px) 100vw, 1000px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/31138733/Working-team/modules/199158343">Working team</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Cùng nhìn sang nước Mỹ, nơi đi đầu về công nghệ giáo dục, chúng ta vừa chứng kiến hai sự kiện diễn ra trái ngược nhau nhưng lại bổ khuyết cho nhau một cách hoàn hảo. Một mặt, một khảo sát diện rộng chỉ ra một sự thật ngỡ ngàng: có đến một nửa số lãnh đạo công nghệ tại các trường đại học Mỹ đang hoài nghi về tỷ suất hoàn vốn (Return on Investment &#8211; ROI) mà AI mang lại. Họ đã chi những khoản tiền khổng lồ, nhưng chỉ có vỏn vẹn 29% thấy kết quả đạt kỳ vọng. AI rất thông minh, nhưng nếu chỉ mua về rồi thả nổi cho giảng viên tự mày mò, nó sẽ nhanh chóng trở thành một khoản đầu tư lãng phí.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nỗi sợ lớn nhất không phải là công nghệ thất bại, mà là sự lệch pha giữa kỳ vọng mang tính thương mại và bản chất của môi trường giáo dục. Khi các trường đại học đổ hàng triệu đô la vào các công cụ AI thế hệ mới, họ thường kỳ vọng vào một sự đột phá tức thì trong hiệu suất: bài giảng được số hóa tự động, hệ thống chấm điểm tự vận hành, và quy trình quản trị trở nên mượt mà. Tuy nhiên, giáo dục là một thực thể phức tạp được xây dựng dựa trên thói quen, trải nghiệm cảm xúc và tính cá nhân hóa cao. Một mô hình AI dù có xử lý dữ liệu nhanh đến đâu cũng không thể tự động hóa động lực học tập của sinh viên hay sự sẵn sàng thay đổi của giảng viên. Khi công nghệ được đưa vào hệ thống một cách cơ học mà thiếu đi các chương trình đào tạo năng lực số bài bản và một lộ trình chuyển đổi văn hóa, nó sẽ tạo ra một lực cản vô hình. Giảng viên cảm thấy bị quá tải vì phải học cách sử dụng các công cụ mới, trong khi hiệu quả giảng dạy thực tế vẫn dậm chân tại chỗ. Đó chính là lý do khiến 50% các nhà quản lý công nghệ tại Mỹ rơi vào trạng thái vỡ mộng khi nhìn vào báo cáo tài chính tài trợ cho AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thế nhưng, ngay giữa tâm bão hoài nghi đó, câu trả lời về việc dùng AI thế nào cho đúng lại xuất hiện. Canvas, nền tảng quản lý học tập đang nắm giữ hơn 40% thị phần đại học tại Bắc Mỹ, vừa tung ra một trợ lý ảo mang tên IgniteAI Agent. Thay vì cố gắng làm những điều đao to búa lớn, trợ lý này chỉ tập trung vào đúng một việc: gánh vác các tác vụ hành chính tẻ nhạt cho giảng viên. Nó tự động soạn rubric chấm điểm, rà soát lỗi nội dung học phần, và tóm tắt nhanh các luồng thảo luận của sinh viên. Mục tiêu của hệ thống rất thực tế: trả lại thời gian để người thầy làm đúng thiên chức của mình, đó là lắng nghe, thấu cảm và cố vấn (<em>mentoring</em>) cho học trò.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bài học xương máu rút ra từ bước đi của Canvas là: giá trị thực sự của AI không nằm ở việc nó thông minh hơn con người, mà ở khả năng thiết lập lại trật tự ưu tiên trong công việc. Thay vì cố gắng huấn luyện AI thay thế con người ở các vị trí đòi hỏi tư duy phản biện cao hay sự nhạy cảm về mặt cảm xúc, công nghệ nên được định vị là bộ lọc loại bỏ các rào cản mang tính thủ tục. Một hệ thống AI thành công là hệ thống vô hình vận hành thầm lặng ở phía sau để làm nổi bật lên vai trò của người dạy ở phía trước. Khi IgniteAI đảm nhiệm việc rà soát các luồng thảo luận hay soạn thảo khung tiêu chí, nó không cướp đi quyền kiểm soát của giảng viên; nó chỉ chuẩn bị sẵn một <em>bàn cờ</em> sạch sẽ để người thầy có thể tập trung đưa ra những quyết định chiến lược và những lời khuyên sâu sắc cho học trò. Đây là một sự dịch chuyển tư duy quan trọng: chuyển từ &#8220;AI thay thế giảng viên&#8221; sang &#8220;AI trao quyền cho giảng viên&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn về bức tranh giáo dục đại học tại Việt Nam, đây chính là bài học đắt giá. Nhiều trường học của chúng ta cũng đang bước vào cuộc đua mua sắm phần mềm, tích hợp AI vào hệ sinh thái quản lý học tập (LMS). Bài học từ Mỹ nhắc nhở chúng ta rằng: đừng đầu tư theo phong trào. Đối với bối cảnh tài chính của các trường đại học Việt Nam, việc tối ưu hóa ngân sách là yếu tố nên được ưu tiên hàng đầu. Thay vì đầu tư dàn trải vào các giải pháp AI đắt đỏ mang tính trình diễn, các nhà quản lý giáo dục cần bắt đầu bằng việc định nghĩa lại bài toán ROI. Lợi nhuận của đầu tư công nghệ trong giáo dục không chỉ được đo bằng tiền mặt, mà phải được tính bằng thời gian thực tế mà giảng viên tiết kiệm được và mức độ gắn kết của sinh viên với nhà trường. Nếu một công cụ AI đắt tiền nhưng khiến giảng viên mất thêm 2 tiếng mỗi ngày loay hoay sửa lỗi hệ thống, đó là một khoản đầu tư thất bại. Ngược lại, một giải pháp đơn giản nhưng giúp thầy cô bớt đi 30 phút chấm bài hành chính mỗi tuần chính là một thành công lớn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi một giảng viên Việt Nam không còn bị bủa vây bởi các thủ tục giấy tờ, họ sẽ có thêm năng lượng để bước vào lớp với một nụ cười, có thêm thời gian để kiên nhẫn định hướng cho từng sinh viên<sup></sup>. Sau cùng, công nghệ giáo dục dù có tiến xa đến đâu, giá trị cốt lõi của trường học vẫn là sự kết nối giữa con người với con người. AI thành công hay thất bại, không nằm ở việc nó thông minh bao nhiêu, mà ở chỗ nó giải phóng được bao nhiêu gánh nặng để người thầy được thực sự làm thầy<sup></sup>.</p>



<h4 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo / References</strong></h4>



<p class="wp-block-paragraph">Coffey, L. (2026, May 12). Half of campus tech leaders question AI’s ROI. <em>Inside Higher Ed</em>. <a target="_blank" rel="noreferrer noopener" href="https://www.insidehighered.com/news/tech-innovation/artificial-intelligence/2026/05/12/half-campus-tech-leaders-question-ais-roi">https://www.insidehighered.com/news/tech-innovation/artificial-intelligence/2026/05/12/half-campus-tech-leaders-question-ais-roi</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Fang, M. (2026, March 23). Canvas unrolls AI teaching agent. <em>Inside Higher Ed</em>. <a target="_blank" rel="noreferrer noopener" href="https://www.insidehighered.com/news/tech-innovation/artificial-intelligence/2026/03/23/canvas-unrolls-ai-teaching-agent">https://www.insidehighered.com/news/tech-innovation/artificial-intelligence/2026/03/23/canvas-unrolls-ai-teaching-agent</a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1780389535"
	            data-title="Liệu Ây-Ai có phải là mặt trời nhỏ của giáo dục?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lieu-ay-ai-co-phai-la-mat-troi-nho-cua-giao-duc/">Liệu Ây-Ai có phải là mặt trời nhỏ của giáo dục?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/lieu-ay-ai-co-phai-la-mat-troi-nho-cua-giao-duc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Các trường đại học cần định nghĩa lại hành vi gian lận trong kỷ nguyên AI</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/cac-truong-dai-hoc-can-dinh-nghia-lai-hanh-vi-gian-lan-trong-ky-nguyen-ai/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/cac-truong-dai-hoc-can-dinh-nghia-lai-hanh-vi-gian-lan-trong-ky-nguyen-ai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 May 2026 01:44:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đo lường - Đánh giá]]></category>
		<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3107</guid>

					<description><![CDATA[<p>Suốt một thời gian dài, gian lận học thuật là một trong số ít khái niệm mà bất kỳ ai trong môi trường đại học cũng đều có chung một cách hiểu. Đó là những hành vi có ranh giới vô cùng sắc nét: chép bài của bạn, đạo văn từ một cuốn sách, mang [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cac-truong-dai-hoc-can-dinh-nghia-lai-hanh-vi-gian-lan-trong-ky-nguyen-ai/">Các trường đại học cần định nghĩa lại hành vi gian lận trong kỷ nguyên AI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Suốt một thời gian dài, gian lận học thuật là một trong số ít khái niệm mà bất kỳ ai trong môi trường đại học cũng đều có chung một cách hiểu. Đó là những hành vi có ranh giới vô cùng sắc nét: chép bài của bạn, đạo văn từ một cuốn sách, mang tài liệu vào phòng thi, hay thuê người làm luận văn. Một bài viết, xét cho cùng, hoặc là sản phẩm trí tuệ của người nộp, hoặc là không. Chính ranh giới rạch ròi ấy đã tạo cơ sở cho việc xử lý kỷ luật: người học đã bước qua một lằn ranh mà ai cũng có thể nhìn thấy.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="350" height="498" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-13.png" alt="" class="wp-image-3108" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-13.png 350w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-13-211x300.png 211w" sizes="(max-width: 350px) 100vw, 350px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, trí tuệ nhân tạo tạo sinh, mà ChatGPT là cái tên quen thuộc nhất, xuất hiện và làm đảo lộn tất cả. Nó không đơn thuần là thêm vào danh sách một hình thức gian lận mới, mà nó làm tan biến chính lằn ranh cũ. Khi ranh giới ấy bị nhòe đi, câu hỏi mà các trường đại học phải đối mặt không còn là sinh viên có gian lận hay không, mà là một thách thức lớn hơn nhiều: Trong bối cảnh hiện nay, rốt cuộc thế nào mới là gian lận?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây không còn là câu chuyện của một bộ phận thiểu số. Một khảo sát sinh viên đại học tại Anh năm 2025 cho thấy tỷ lệ người học sử dụng các công cụ AI tạo sinh để làm bài là rất lớn (LX Studio, 2026). Cùng lúc đó, số vụ kỷ luật liên quan đến AI tại các trường đại học tăng vọt chỉ trong vài năm ngắn ngủi (Feedough, 2025). Tuy nhiên, những con số kỷ luật này mới chỉ là phần nổi đáng lo ngại nhất. Bản chất vấn đề nằm ở chỗ: các trường đang xử phạt sinh viên dựa trên một khái niệm mà chính họ còn chưa định nghĩa xong. Chúng ta đang trừng phạt người học vì vượt qua một ranh giới chưa hề được vẽ rõ.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Vì sao định nghĩa cũ không còn hiệu lực?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Để hình dung tính phức tạp của vấn đề, hãy nhìn vào toàn bộ phổ hành vi của sinh viên hiện nay dưới dạng một dải quang phổ kéo dài.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="512" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14-1024x512.png" alt="" class="wp-image-3111" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14-1024x512.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14-300x150.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14-768x384.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14-1536x768.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-14.png 1774w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Minh hoạ vùng xám của hành vi sử dụng AI (Nguồn: Tác giả bài viết)</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Ở một đầu, sinh viên gõ thẳng đề bài vào ChatGPT, sao chép nguyên văn đoạn văn phản hồi và nộp như sản phẩm tự thân. Hành vi này chắc chắn là gian lận, không ai tranh cãi. Ở đầu còn lại, sinh viên dùng công cụ kiểm tra chính tả để sửa vài lỗi đánh máy. Gần như không ai coi đó là vi phạm. Thách thức lớn nhất nằm ở khoảng xám mênh mông ở giữa hai đầu cực này.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph">Sinh viên nhờ AI tóm tắt một bài báo dài 20 trang để đọc nhanh, rồi tự viết bài phân tích. Sinh viên nhờ AI gợi ý dàn ý, rồi tự mình triển khai từng phần. Sinh viên tự viết một đoạn văn bằng tiếng Việt rồi nhờ AI dịch sang tiếng Anh. Sinh viên tự viết một đoạn văn lủng củng rồi nhờ AI biên tập lại cho trôi chảy. Hoặc sinh viên hỏi AI về một khái niệm khó để hiểu bài giảng, tương tự cách các thế hệ trước tra từ điển hay hỏi một người bạn học giỏi.</p>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Những hành vi này có phải là gian lận không? Câu trả lời trung thực nhất là: Còn tùy. Tùy thuộc vào môn học, vào giảng viên, vào mục tiêu của bài tập, và nhiều khi là tùy thuộc vào cảm quan của người chấm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chính sự tùy nghi đó là lý do khiến một nghiên cứu được <em>Times Higher Education</em> dẫn lại năm 2025 phải thẳng thắn chỉ ra rằng: các trường cần định nghĩa lại khái niệm gian lận, bởi AI đã xóa nhòa lằn ranh giữa công cụ hỗ trợ học tập hợp lệ và hành vi vi phạm (Rowsell, 2025). Khi các trường vội vã ban hành quy định để lấp đầy khoảng trống pháp lý đó, kết quả lại là một bức tranh chắp vá và thiếu thống nhất. Một khảo sát cho thấy chính sách giữa các trường có sự khác biệt rất xa: nơi thì cấm triệt để, nơi lại cho phép dùng kèm theo nghĩa vụ khai báo. Hệ quả là các quy định ra đời rất nhiều nhưng lại mơ hồ và thiếu tính nhất quán khi áp dụng (AllAboutAI, 2026).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hệ lụy này nghiêm trọng hơn vẻ bề ngoài của nó. Một sinh viên học năm môn trong một học kỳ có thể phải sống dưới năm &#8220;bộ luật&#8221; khác nhau cho cùng một hành vi. Việc dùng AI để dịch một đoạn văn có thể được khen là khéo léo ở môn này, nhưng lại bị ghi vào hồ sơ kỷ luật ở môn khác. Đối với một hành vi có thể dẫn đến hậu quả nặng nề như đình chỉ học, hay để lại một vết nhơ trong học bạ đi theo người học suốt đời, thì mức độ tùy tiện như vậy không còn là chuyện kỹ thuật nhỏ nhặt. Đó là vấn đề về sự công bằng. Luật hình sự có một nguyên tắc xương sống: không thể kết tội ai vì một hành vi chưa từng được luật hóa là tội danh. Không có lý do gì để liêm chính học thuật lại được phép lỏng lẻo hơn nguyên tắc căn bản ấy.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Cái bẫy của việc phó mặc cho công nghệ</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trước một khái niệm đã bị làm nhòe, phản xạ tự nhiên của nhiều trường đại học là tìm kiếm một công nghệ khác để vạch lại lằn ranh. Nếu con người không phân biệt nổi bài nào do AI viết, hãy để các phần mềm quét AI làm việc đó. Giải pháp này nghe có vẻ gọn gàng, nhưng đây chính là sai lầm mang tính cốt lõi nhất cần phải làm rõ trước khi bàn đến chuyện tái định nghĩa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ nhất, các công cụ phát hiện AI không đưa ra sự thật khách quan, chúng chỉ đưa ra xác suất. Chúng vận hành trên các mô hình dự đoán mang tính xác suất chứ không phải sự chắc chắn tuyệt đối. Điều này đồng nghĩa với việc chúng hoàn toàn có thể gắn nhãn sai cho một bài viết thuần túy do con người thực hiện (Lynote, 2026). Hiện tượng dương tính giả (gắn nhãn oan) này không hề hiếm gặp. Đáng ngại hơn, rủi ro này lại không chia đều cho tất cả mọi người. Nhiều phân tích chỉ ra rằng bài viết của những người không sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ có nguy cơ bị gắn nhãn sai cao hơn. Nhóm này thường có xu hướng dùng từ vựng đơn giản, cấu trúc câu an toàn để bảo đảm tính rõ nghĩa – và đó lại vô tình trùng khớp với lối viết đặc trưng của các mô hình AI (Lynote, 2026). Nói cách khác, một sinh viên Việt Nam viết tiếng Anh cẩn thận, đúng ngữ pháp, không hoa mỹ lại dễ bị máy nghi oan hơn một người bản ngữ viết phóng túng. Thực tế tại nước ngoài đã ghi nhận hàng loạt sinh viên quốc tế bị cáo buộc oan uổng chính vì cơ chế này (Hastewire, 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ hai, góc nhìn từ con người cũng không còn là chỗ dựa vững chắc. Một nghiên cứu công bố trên <em>British Journal of Educational Technology</em> của nhóm tác giả Kofinas đã thực hiện một thử nghiệm thực tế: đưa cho các giảng viên giàu kinh nghiệm chấm những bài viết có và không có sự can thiệp của AI. Kết quả cho thấy, nhìn chung họ không thể phân biệt được (Kofinas et al., 2025). Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ ra rằng khi người chấm bắt đầu sinh nghi, chính tâm lý hoài nghi đó sẽ dẫn đến cả hai sai lầm: phán đoán sai theo hướng buộc tội oan lẫn phán đoán sai theo hướng bỏ lọt vi phạm. Con mắt của người thầy, khi đã rơi vào thế phải đoán mò, không còn là một trọng tài đáng tin cậy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tổng hòa hai vấn đề trên cho thấy một bài học quan trọng: Cả máy móc lẫn con người, nếu chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng rồi cố gắng &#8220;đoán ngược&#8221; quy trình tạo ra nó, đều không đủ độ tin cậy để làm căn cứ kỷ luật. Việc cố chấp theo đuổi phương pháp này sẽ vô tình tạo ra một bầu không khí học đường độc hại – nơi sinh viên bị mặc định là kẻ tình nghi, và mối quan hệ thầy trò vốn dựa trên sự tin cậy sẽ bị bào mòn dần.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngay cả các công ty phát triển công cụ phát hiện AI cũng đã lên tiếng cảnh báo không nên dùng kết quả của họ làm bằng chứng duy nhất để xử lý học thuật. Nhiều trường đại học lớn trên thế giới đã chọn giải pháp thận trọng là tắt hẳn tính năng này hoặc quy định rõ điểm số từ máy không bao giờ được coi là chứng cứ độc lập (Popular AI, 2026). Khi chính nhà sản xuất công cụ khuyên người dùng đừng quá tin vào sản phẩm của họ, đó là lúc chúng ta nên lắng nghe.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Thực trạng tại Việt Nam</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Tại Việt Nam, làn sóng này diễn ra với một nhịp độ tương tự: có phần chậm hơn ở khâu ban hành chính sách nhưng lại vô cùng cấp bách trong thực tế giảng đường.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc sinh viên sử dụng ChatGPT và các công cụ tương tự đã trở thành một phần của đời sống học đường thường nhật. Tuy nhiên, hoạt động này phần lớn mang tính tự phát. Nhiều trường vẫn chưa ban hành được quy định rõ ràng về việc sử dụng AI trong làm bài tập, nghiên cứu khoa học hay thi cử, khiến cả thầy lẫn trò đều rơi vào cảnh &#8220;vừa làm vừa dò đường&#8221; (Tạp chí Giáo dục, 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bức tranh thực tế hiện đang có sự phân hóa mạnh mẽ:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Nhóm chủ động đi trước:</strong> Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cập nhật quy định về liêm chính học thuật, tích hợp khâu kiểm tra mức độ sử dụng AI vào quy trình rà soát đạo văn đối với các sản phẩm của sinh viên (Báo Giáo dục Việt Nam, 2024). Một số trường khác cũng đã đưa nội dung kiểm soát AI vào quy chế chấm luận văn hoặc nêu rõ cách xử lý hành vi đạo văn bằng công nghệ (Báo Thanh Niên, 2024).</li>



<li><strong>Nhóm bị động:</strong> Nhiều trường đại học ở một số thời điểm thẳng thắn thừa nhận họ chưa hề có bất kỳ quy định cụ thể nào dành cho việc sinh viên sử dụng AI (Báo Thanh Niên, 2024).</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Sự thiếu đồng bộ giữa các trường trong nước, khi đặt cạnh bức tranh toàn cầu, cho thấy chúng ta đang vướng vào đúng một bài toán cốt lõi: thiếu một định nghĩa chung mang tính hệ thống về ranh giới giữa &#8220;sử dụng hợp lệ&#8221; và &#8220;gian lận&#8221;. Giới chuyên môn trong nước đã bắt đầu kiến nghị các nhà trường và giảng viên cần chủ động xây dựng, công bố công khai chính sách sử dụng AI cho từng môn học, từng loại bài tập và từng thể loại luận văn (Báo Thanh Niên, 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có một diễn biến tại Việt Nam đáng để chúng ta suy ngẫm, vì nó minh họa hoàn hảo cho cái bẫy công cụ đã phân tích ở trên. Ngay khi các phần mềm kiểm tra AI được các trường ứng dụng rộng rãi hơn, thị trường lập tức khai sinh ra một loại dịch vụ đối nghịch: &#8220;nhân hóa văn bản AI&#8221; (humanize AI text) – tức là gọt giũa, xào nấu bài viết do máy làm để vượt qua các bộ lọc phát hiện (Báo Thanh Niên, 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hãy nhìn kỹ vào vòng lặp vô tận này: Nhà trường mua công cụ phát hiện $\rightarrow$ Sinh viên mua công cụ né phát hiện $\rightarrow$ Công cụ phát hiện nâng cấp $\rightarrow$ Công cụ né phát hiện cải tiến theo. Đây là một cuộc đua vũ trang mà nhà trường nắm chắc phần thua, bởi mỗi bước tiến của bên này lại vô tình nuôi dưỡng và tài trợ cho bước tiến của bên kia. Đổ tiền bạc và đặt niềm tin vào một cuộc đua như vậy là một chiến lược thất bại ngay từ khâu thiết kế. Nó cũng phơi bày một sự thật trần trụi: Nếu một bài tập có thể bị một cỗ máy thay thế trọn vẹn từ đầu đến cuối, thì vấn đề có lẽ không nằm ở cỗ máy, mà nằm ở chính tư duy thiết kế bài tập đó.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Định nghĩa lại theo hướng nào?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu định nghĩa cũ đã rách nát và không thể vá víu bằng các công cụ phát hiện, thì công cuộc tái định nghĩa nên dựa trên những nền tảng nào? Từ các diễn đàn thảo luận trong nước và quốc tế, tôi đề xuất bốn nguyên tắc cốt lõi cần được đưa lên bàn nghị sự:</p>



<h3 class="wp-block-heading"><em><strong>1. Chuyển trọng tâm từ công cụ sang hành vi</strong></em></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Câu hỏi đúng đắn mà các trường cần đặt ra không phải là <em>&#8220;Sinh viên có chạm vào AI hay không?&#8221;</em>, mà là hai câu hỏi khác:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Sinh viên có khai báo gian dối về phần đóng góp thực chất của bản thân hay không?</li>



<li>Việc sử dụng AI đó có triệt tiêu năng lực cốt lõi mà bài tập đó hướng tới mục tiêu rèn luyện hay không?</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Hai câu hỏi này giúp bóc tách hiệu quả khoảng xám ở giữa phổ hành vi. Một bài tập được giao nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy lập luận, nếu sinh viên để AI lập luận thay hoàn toàn thì bản chất là đã đi ngược lại mục tiêu giáo dục, bất kể có bị phát hiện hay không và sinh viên có khai báo hay không. Ngược lại, việc sử dụng AI để giải nghĩa một khái niệm phức tạp, từ đó sinh viên tự mình xây dựng lập luận thì không hề phá vỡ mục tiêu học tập nào. Đánh giá dựa trên hành vi và mục tiêu học tập thay vì dựa trên sự hiện diện của công cụ là cách duy nhất để quy định không biến thành một trò chơi may rủi.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><em><strong>2. Chuẩn đầu ra cần phải minh bạch</strong></em></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Một hành vi chỉ có thể bị coi là vi phạm nếu trước đó người học đã được phổ biến rõ ràng về lằn ranh đỏ. Điều tưởng chừng như hiển nhiên này lại là lỗ hổng lớn nhất của hệ thống hiện tại. Để khắc phục, cần triển khai hai hành động cụ thể:</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cụ thể hóa đề cương môn học: Mỗi đề cương môn học cần quy định chi tiết mức độ được phép sử dụng AI (cho phép hành vi nào, cấm hành vi nào) thay vì đưa ra những điều khoản chung chung. Nhiều trường đại học hàng đầu thế giới đã áp dụng phương thức này, đi kèm yêu cầu sinh viên phải nộp bản khai báo minh bạch (AI declaration) kèm theo bài làm (Thesify, 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xây dựng cơ chế khai báo thực chất: Phải có cơ chế để bảo vệ những sinh viên sử dụng AI một cách trung thực và chủ động khai báo, không đánh đồng họ với những người sử dụng lén lút. Nếu hệ thống đối xử với người thành thật và người giấu giếm như nhau, chúng ta đang dạy cho sinh viên một bài học tồi tệ: Sự trung thực không mang lại giá trị gì.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>3. Con người nắm quyền phán quyết và quy trình phải công bằng</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả từ các công cụ tầm soát, nếu được sử dụng, chỉ nên đóng vai trò là một tín hiệu cảnh báo để đặt câu hỏi nghi vấn, tuyệt đối không được coi là một bản án định tội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bằng chứng xác thực và đáng tin cậy hơn nhiều phải là chứng cứ về mặt quá trình: các bản phác thảo, lịch sử chỉnh sửa tài liệu, hay các ghi chú nghiên cứu dọc đường. Vì rủi ro dương tính giả là có thật và phân bổ không đồng đều, người học khi bị cáo buộc phải được bảo đảm quyền giải trình đầy đủ trước hội đồng kỷ luật. Nguyên tắc giả định vô tội cần phải được thượng tôn trong kỷ nguyên AI.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>4. Giáo dục thay vì chỉ trừng phạt</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Mục đích của việc định nghĩa lại không nên chỉ dừng lại ở các chế tài xử phạt. Một số trường đại học quốc tế hiện nay đã đưa hành vi lạm dụng AI vào danh mục gian lận, nhưng đồng thời mở ra một cơ chế xử lý mang tính giáo dục cho các vi phạm lần đầu (ví dụ: cho phép làm lại bài hoặc yêu cầu tham gia các buổi hướng dẫn với bộ phận hỗ trợ học thuật) nhằm mục đích giúp sinh viên rút kinh nghiệm thay vì ngay lập tức lưu vết kỷ luật vào hồ sơ (The Dickinsonian, 2026). Cách tiếp cận này thừa nhận một thực tế: Rất nhiều sinh viên bước qua ranh giới không phải vì họ cố tình gian lận, mà đơn giản vì họ chưa từng được hướng dẫn cụ thể ranh giới đó nằm ở đâu.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>Thay đổi tư duy ra đề bài</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Bên cạnh 4 nguyên tắc trên, có một nguyên tắc thứ năm – ít được đề cập nhưng theo tôi mới chính là gốc rễ của vấn đề, và nó thuộc về trách nhiệm của nhà trường chứ không phải sinh viên: Thay đổi triệt để cách thức ra đề bài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu của nhóm Kofinas đã đưa ra một kết luận khá gai góc: ngay cả những bài tập được thiết kế gắn liền với thực tiễn (authentic assessment) cũng không tự thân ngăn chặn được AI, bởi các mô hình ngôn ngữ lớn vẫn có khả năng tạo ra sản phẩm đủ tốt để vượt qua mắt các giám khảo dày dạn kinh nghiệm (Kofinas et al., 2025).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, chính từ kết luận này lại mở ra một tư duy mới. Nếu một bài tập chỉ đánh giá dựa trên sản phẩm cuối cùng, người chấm buộc phải rơi vào cái bẫy &#8220;đoán ngược&#8221; đầy rủi ro. Ngược lại, nếu bài tập được thiết kế để đánh giá toàn bộ tiến trình, bao gồm các chặng nộp bản thảo thô, ghi chú lựa chọn tài liệu, và phần viết phản tư (reflective writing) về hành trình thực hiện bài tập thì việc học sẽ trở nên &#8220;nhìn thấy được&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi tiến trình tư duy của sinh viên được hiển thị rõ ràng, vai trò của AI sẽ tự động lộ diện. Nó không còn là một lối tắt đưa sinh viên đến thẳng đáp án, mà chỉ là một công cụ hỗ trợ nằm trong một chuỗi tư duy dài hạn của con người (THE Campus, 2026). Thay vì loay hoay tìm cách &#8220;bắt quả tang&#8221; sinh viên dùng AI, câu hỏi hữu ích hơn đối với người thầy là: <em>Làm thế nào để thiết kế một đề bài mà ở đó, việc phó mặc hoàn toàn cho AI trở nên vô nghĩa?</em> Giải pháp này chắc chắn đòi hỏi nhiều công sức và tâm huyết hơn từ phía giảng viên, nhưng nó giải quyết câu chuyện từ gốc, thay vì chạy theo phần ngọn của cuộc đua công nghệ.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">AllAboutAI. (2026, ngày 27 tháng 11). <a href="https://www.allaboutai.com/resources/ai-statistics/ai-cheating-in-schools/"><em>AI cheating in schools: 2026 global report on student use, detection failures &amp; policy gaps</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Báo Giáo dục Việt Nam. (2024, ngày 10 tháng 8). <a href="https://giaoduc.net.vn/chatgpt-ai-va-cach-ung-pho-cua-cac-truong-dai-hoc-nham-ngan-chan-dao-van-post244597.gd"><em>ChatGPT, AI và cách ứng phó của các trường đại học nhằm ngăn chặn đạo văn</em>.</a> </p>



<p class="wp-block-paragraph">Báo Thanh Niên. (2024, ngày 15 tháng 7). <a href="https://thanhnien.vn/sinh-vien-su-dung-cong-cu-ai-ung-xu-cua-cac-truong-185240714201605375.htm"><em>Sinh viên sử dụng công cụ AI: Ứng xử của các trường</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Báo Thanh Niên. (2025, ngày 12 tháng 12). <a href="https://thanhnien.vn/sinh-vien-dung-thu-thuat-de-che-dau-ai-185251211185713308.htm"><em>Sinh viên dùng thủ thuật để&#8230; che dấu AI</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Feedough. (2025, ngày 14 tháng 11). <a href="https://www.feedough.com/ai-cheating-statistics/"><em>AI cheating statistics: Academic misconduct rates in 2025</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Hastewire. (2025, ngày 6 tháng 11). <a href="https://hastewire.com/blog/turnitin-false-positives-causes-and-fixes-for-2025"><em>Turnitin false positives: Causes and fixes for 2025</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Kofinas, A., Tsay, C. H.-H., &amp; Pike, D. (2025). <a href="https://doi.org/10.1111/bjet.13585">The impact of generative AI on academic integrity of authentic assessments within a higher education context.</a> <em>British Journal of Educational Technology</em>. </p>



<p class="wp-block-paragraph">LX Studio. (2026, ngày 30 tháng 1). <a href="https://blog.lxstudio.com/rethinking-assessment-in-the-age-of-generative-ai"><em>Rethinking assessment in the age of generative AI</em>.</a> </p>



<p class="wp-block-paragraph">Lynote. (2026, ngày 31 tháng 1). <a href="https://lynote.ai/blog/is-turnitin-ai-detector-accurate"><em>Is Turnitin AI detector accurate? The truth about reliability &amp; false positives</em>.</a> </p>



<p class="wp-block-paragraph">Popular AI. (2026, ngày 28 tháng 3). <a href="https://www.popularai.org/p/these-turnitin-false-positives-in"><em>These Turnitin false positives in 2025 and 2026 show why AI detectors can&#8217;t be proof</em>.</a> </p>



<p class="wp-block-paragraph">Rowsell, J. (2025, ngày 27 tháng 6). <a href="https://www.timeshighereducation.com/news/universities-need-redefine-cheating-age-ai"><em>Universities need to &#8216;redefine cheating&#8217; in age of AI</em>.</a> Times Higher Education. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tạp chí Giáo dục. (2025, ngày 11 tháng 11). <a href="https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/90366/225/chatgpt-trong-giao-duc-dai-hoc-tu-dong-luc-hoc-tap-den-bai-toan-dao-duc-va-chinh-sach/"><em>ChatGPT trong giáo dục đại học: Từ động lực học tập đến bài toán đạo đức và chính sách</em>.</a> </p>



<p class="wp-block-paragraph">THE Campus. (2026). <a href="https://www.timeshighereducation.com/campus/small-changes-assessment-design-can-make-thinking-visible"><em>Small changes in assessment design can make thinking visible</em>. Times Higher Education.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">The Dickinsonian. (2026, ngày 26 tháng 3). <a href="https://thedickinsonian.com/news/2026/03/26/changes-to-the-academic-misconduct-policy/"><em>Changes to the academic misconduct policy</em>.</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Thesify. (2025, ngày 16 tháng 10). <a href="https://www.thesify.ai/blog/gen-ai-policies-update-2025"><em>Generative AI policies at the world&#8217;s top universities: October 2025 update</em>.</a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="do-luong-danh-gia,edtech,thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1779785077"
	            data-title="Các trường đại học cần định nghĩa lại hành vi gian lận trong kỷ nguyên AI" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cac-truong-dai-hoc-can-dinh-nghia-lai-hanh-vi-gian-lan-trong-ky-nguyen-ai/">Các trường đại học cần định nghĩa lại hành vi gian lận trong kỷ nguyên AI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/cac-truong-dai-hoc-can-dinh-nghia-lai-hanh-vi-gian-lan-trong-ky-nguyen-ai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vibe coding trong nghiên cứu khoa học xã hội: trải nghiệm và lưu ý từ một nhà nghiên cứu trẻ</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/vibe-coding-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-trai-nghiem-va-luu-y-tu-mot-nha-nghien-cuu-tre/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/vibe-coding-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-trai-nghiem-va-luu-y-tu-mot-nha-nghien-cuu-tre/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 13 May 2026 04:11:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3074</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lần đầu thật sự ngạc nhiên về khả năng của AI là khi tôi nhờ nó viết một đoạn script cào dữ liệu, công việc mà trước đó tôi vẫn nghĩ phải học một khóa Python tử tế mới có thể làm được. Chỉ trong một buổi tối, tôi đã có hai nghìn bài báo, [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vibe-coding-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-trai-nghiem-va-luu-y-tu-mot-nha-nghien-cuu-tre/">Vibe coding trong nghiên cứu khoa học xã hội: trải nghiệm và lưu ý từ một nhà nghiên cứu trẻ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Lần đầu thật sự ngạc nhiên về khả năng của AI là khi tôi nhờ nó viết một đoạn script cào dữ liệu, công việc mà trước đó tôi vẫn nghĩ phải học một khóa Python tử tế mới có thể làm được. Chỉ trong một buổi tối, tôi đã có hai nghìn bài báo, kèm tiêu đề, ngày đăng và nội dung, được xuất thẳng ra Excel. Từ thời điểm đó, tôi cho rằng dân nghiên cứu khoa học xã hội nên biết tới cách làm việc với AI mà giới công nghệ gọi là vibe coding.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="883" height="900" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-6.png" alt="" class="wp-image-3075" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-6.png 883w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-6-294x300.png 294w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-6-768x783.png 768w" sizes="(max-width: 883px) 100vw, 883px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/85830271/Illustrations-for-Flexerapp" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Illustrations for Flexerapp</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Vibe coding</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Thuật ngữ này do Andrej Karpathy, đồng sáng lập OpenAI, đặt ra hồi đầu năm ngoái (2025). Hiểu một cách đơn giản, người dùng không tự gõ từng dòng code mà trao đổi với AI bằng ngôn ngữ tự nhiên để AI sinh ra code thay mình. Khi AI cho kết quả, người dùng kiểm tra; nếu chưa đạt yêu cầu thì tiếp tục đưa ra chỉ dẫn để điều chỉnh, cứ thế lặp lại cho tới khi sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ở hình thức thuần túy nhất, vibe coding là việc không nhìn vào code mà chỉ quan tâm tới sản phẩm cuối. Tuy nhiên, đa số người làm nghiên cứu mà tôi quan sát đều sử dụng cách kết hợp, vừa nhờ AI viết, vừa đọc lướt qua để hiểu nó đang làm gì, và can thiệp khi thấy có điểm khả nghi.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Một số ứng dụng cụ thể trong nghiên cứu</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Làm sạch dữ liệu khảo sát là ứng dụng phổ biến nhất. Một bộ dữ liệu SPSS xuất ra CSV thường có hàng chục biến với tên biến không thống nhất, giá trị thiếu ở nhiều dạng khác nhau. Tôi mô tả tình trạng dữ liệu cho AI rồi yêu cầu nó viết script Python để đổi tên biến theo codebook, tính lại biến độ tuổi từ năm sinh, và mã hóa ngược các câu Likert theo chiều âm. Một công việc nếu làm thủ công trong SPSS có thể mất nửa ngày, AI có thể sinh ra script chạy được chỉ trong vài phút.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vẽ biểu đồ là ứng dụng tôi đánh giá cao nhất. Biểu đồ mặc định của SPSS hoặc Excel thường không đủ chất lượng cho bài báo hoặc bài trình bày hội thảo. Tôi mô tả loại biểu đồ mong muốn, chẳng hạn biểu đồ tương quan giữa thu nhập và mức độ hài lòng, chia theo nhóm tuổi, sử dụng tông màu pastel. AI sinh ra code R hoặc Python tương ứng, cho ra hình ảnh có chất lượng đăng được trên tạp chí.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cào dữ liệu báo chí và mạng xã hội cũng là một ứng dụng có giá trị lớn. Khi cần phân tích cách báo chí Việt Nam đưa tin về một vấn đề xã hội nhạy cảm, việc tự viết code cào hoàn toàn vượt khả năng kỹ thuật của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Nhờ vibe coding, trong một buổi tối tôi đã thu được khoảng hai nghìn bài, đủ làm cơ sở dữ liệu cho phân tích nội dung định lượng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xử lý sơ bộ dữ liệu phỏng vấn là một ứng dụng cần thận trọng nhưng vẫn hữu ích. Sau khi gỡ băng, tôi thường nhờ AI viết script đếm tần suất từ khóa hoặc thực hiện topic modeling sơ bộ trước khi tiến hành bước mã hoá. Phương pháp này giúp tôi định hình các chủ đề ban đầu một cách nhanh chóng và có hệ thống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngoài ra, AI còn giúp tôi xử lý nhiều công việc nhỏ nhưng tốn thời gian, chẳng hạn đổi tên hàng loạt file ghi âm theo quy tắc, chuyển định dạng trích dẫn từ APA sang Chicago, hoặc tách một file PDF báo cáo dài thành nhiều file theo chương.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Những lợi ích chính</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Lợi ích đầu tiên và rõ ràng nhất là rào cản kỹ thuật được hạ thấp đáng kể. Trước đây tôi luôn nghĩ rằng muốn cào dữ liệu phải đi học một khóa Python, muốn vẽ biểu đồ chuyên nghiệp phải thành thạo R. Hiện tại, người làm nghiên cứu chỉ cần có ý tưởng rõ ràng về kết quả mong muốn, phần kỹ thuật có thể giao cho AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lợi ích thứ hai là khả năng thử nghiệm nhanh. Trong nghiên cứu, không phải hướng đi ban đầu nào cũng đem lại kết quả tốt. Trước đây, việc thử một hướng phân tích mới đòi hỏi đầu tư thời gian không nhỏ, nên tôi thường ngại thử. Với vibe coding, tôi có thể thử nhiều phương án trong thời gian ngắn, sau đó giữ lại những hướng có triển vọng và loại bỏ những hướng không phù hợp. Điều này làm cho quá trình nghiên cứu trở nên linh hoạt hơn rất nhiều.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lợi ích thứ ba, có lẽ quan trọng nhất với người mới, là việc học lập trình diễn ra một cách tự nhiên. Khi đọc code do AI viết và yêu cầu nó giải thích từng phần, người dùng dần tích lũy kiến thức lập trình mà không cần ngồi học bài bản. Bản thân tôi hiện có thể đọc hiểu code Python ở mức cơ bản, dù chưa từng tham gia một khóa học chính thức nào về ngôn ngữ này.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Những điểm cần lưu ý</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Phần này tôi muốn trình bày kỹ, vì đây là những vấn đề có thể ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ nhất, AI có thể sinh ra kết quả sai một cách thuyết phục. Đây là rủi ro hay được nhắc tới nhưng vẫn dễ bị xem nhẹ. Code AI viết có thể chạy trơn tru, không lỗi cú pháp, nhưng kết quả vẫn không chính xác. Có lần tôi nhờ AI tính hệ số tin cậy Cronbach alpha cho một thang đo. AI cho ra một con số, tôi tin và sử dụng. Sau này khi kiểm tra lại, tôi phát hiện AI đã không mã hóa ngược chiều một biến cần mã hóa ngược, khiến hệ số cuối cùng sai lệch đáng kể. Bài học rút ra là với bất kỳ con số nào sẽ đi vào bài báo, người nghiên cứu phải tự kiểm tra lại bằng tay hoặc bằng một phần mềm khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ hai, không nên dùng vibe coding cho phần phân tích chính. Các công việc thăm dò, làm sạch dữ liệu, vẽ biểu đồ có thể giao cho AI khá thoải mái. Tuy nhiên, đối với mô hình hồi quy chính, kiểm định giả thuyết, hoặc phân tích định tính chuyên sâu, tôi khuyến nghị sử dụng các phần mềm chuẩn như SPSS, Stata, R với các package đã được kiểm chứng, hoặc NVivo, đồng thời người nghiên cứu phải hiểu rõ về phương pháp đang áp dụng. AI có thể hỗ trợ viết code, nhưng trách nhiệm về phương pháp luận và kết quả vẫn thuộc về người nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ ba, vibe coding không thay thế việc hiểu thống kê và logic phân tích. Người dùng có thể bảo AI chạy hồi quy logistic, nhưng nếu không hiểu khi nào nên dùng mô hình này, các giả định cần kiểm tra là gì, và kết quả có ý nghĩa ra sao, thì sản phẩm chỉ là những con số đẹp về hình thức nhưng vô nghĩa về mặt khoa học.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ tư, cần đặc biệt cẩn trọng với dữ liệu nhạy cảm. Nếu khảo sát chứa thông tin định danh cá nhân, hoặc dữ liệu phỏng vấn liên quan tới chủ đề nhạy cảm, tuyệt đối không nên dán nguyên file vào các chatbot trực tuyến. Các công ty AI có thể lưu lại dữ liệu để huấn luyện mô hình, gây rủi ro về bảo mật và đạo đức nghiên cứu. Nếu vẫn cần sử dụng, hãy ẩn danh dữ liệu trước, hoặc cân nhắc các mô hình AI có thể chạy cục bộ trên máy tính cá nhân.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ năm, code do AI viết hôm nay có thể không còn chạy được sau vài tháng do thư viện cập nhật và cú pháp thay đổi. Nếu một quy trình cần được tái sử dụng nhiều lần, chẳng hạn cho một dự án theo dõi dài hạn, người nghiên cứu nên đầu tư thời gian học chính thức hoặc nhờ chuyên gia viết lại một cách chỉn chu sau khi đã thử nghiệm xong ý tưởng bằng vibe coding.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Một số khuyến nghị</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Đầu tư công sức cho prompt là việc đầu tiên cần làm. Mô tả càng chi tiết về dữ liệu, biến số, và kết quả mong muốn, chất lượng code AI sinh ra càng cao. Một prompt sơ sài thường dẫn tới kết quả sơ sài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Luôn yêu cầu AI giải thích đoạn code nó vừa viết. Việc này vừa giúp người dùng kiểm tra logic, vừa giúp tích lũy kiến thức lập trình theo thời gian.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Duy trì một thư viện prompt cá nhân là cách tiết kiệm thời gian hiệu quả. Tôi có một file riêng để ghi lại các prompt hữu ích, và khi gặp công việc tương tự thì sử dụng lại có điều chỉnh, thay vì viết từ đầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không cần ngại khi bản thân không biết lập trình. Tôi thấy nhiều đồng nghiệp ngành xã hội có tâm lý mặc cảm khi nhìn người khác dùng AI viết code. Thực ra đây chỉ là một công cụ, không khác gì SPSS hay NVivo về bản chất. Biết cách sử dụng hiệu quả là đủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quan trọng nhất, cần coi AI là trợ lý chứ không phải đồng tác giả. Các công việc tư duy cốt lõi như đặt câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp, diễn giải kết quả, và đặt phát hiện vào bối cảnh lý thuyết phải thuộc về người nghiên cứu. Đây là phần không thể giao cho AI, vì đó chính là giá trị của người làm khoa học.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech,ky-nang-nghien-cuu" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1778670687"
	            data-title="Vibe coding trong nghiên cứu khoa học xã hội: trải nghiệm và lưu ý từ một nhà nghiên cứu trẻ" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vibe-coding-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-trai-nghiem-va-luu-y-tu-mot-nha-nghien-cuu-tre/">Vibe coding trong nghiên cứu khoa học xã hội: trải nghiệm và lưu ý từ một nhà nghiên cứu trẻ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/vibe-coding-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-trai-nghiem-va-luu-y-tu-mot-nha-nghien-cuu-tre/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ai đang nắm quyền kiểm soát trong kỉ nguyên AI? (Phần 2)</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/ai-dang-nam-quyen-kiem-soat-trong-ki-nguyen-ai-phan-2/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/ai-dang-nam-quyen-kiem-soat-trong-ki-nguyen-ai-phan-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đào Phương Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 May 2026 02:20:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3059</guid>

					<description><![CDATA[<p>Sự trỗi dậy của các mô hình ngôn ngữ lớn (Large Language Models &#8211; LLMs) đang tái định hình lại quá trình tạo ra tri thức, và việc này đang tạo ra nhiều khoảng trống trong các hoạt động truyền thông và xuất bản nghiên cứu trên quy mô rộng. Dữ liệu khảo sát định [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-dang-nam-quyen-kiem-soat-trong-ki-nguyen-ai-phan-2/">Ai đang nắm quyền kiểm soát trong kỉ nguyên AI? (Phần 2)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Sự trỗi dậy của các mô hình ngôn ngữ lớn (Large Language Models &#8211; LLMs) đang tái định hình lại quá trình tạo ra tri thức, và việc này đang tạo ra nhiều khoảng trống trong các hoạt động truyền thông và xuất bản nghiên cứu trên quy mô rộng. Dữ liệu khảo sát định tính từ 850 tác giả sách học thuật đến từ nhiều lĩnh vực và cơ quan khác nhau cho thấy mối lo ngại lớn về việc sử dụng trái phép các ấn phẩm khoa học có bản quyền để đào tạo AI. Hầu hết các tác giả này không phản đối việc sử dụng AI tạo sinh, nhưng họ đặc biệt nhấn mạnh các điều kiện về đồng thuận, ghi công, và bồi thường khi công trình của họ được sử dụng. Và trong khi những quan ngại về pháp lý liên quan đến việc sử dụng hợp lý (fair use) các nội dung còn bản quyền để huấn luyện LLMs còn đang diễn ra, các trường đại học và nhà xuất bản cần có những phương án chủ động xây dựng các khung cấp phép LLM minh bạch, đảm bảo tôn trọng quyền tác giả và xem xét đầy đủ các phương diện pháp lý, đạo đức và cả về mặt nhận thức luận. Bởi lẽ những điều này sẽ định hình tác quyền và tính liêm chính khoa học trong tương lai, cũng như niềm tin của công chúng về việc tri thức được tạo nên, tiếp cận và quản lý thể nào trong thời đại số. <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/">Bài chia sẻ trước</a> đã thảo luận về kết quả khảo sát, bài đăng này sẽ đưa ra những khuyến nghị cho các bên liên quan.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="576" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-3-1024x576.png" alt="" class="wp-image-3061" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-3-1024x576.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-3-300x169.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-3-768x432.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-3.png 1332w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@steve_j?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Steve A Johnson</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/a-computer-generated-image-of-the-letter-a-ZPOoDQc8yMw?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Triển khai hoạt động hoạch định kịch bản với sự tham gia của đa dạng các bên liên quan.</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Hiện nay, cộng đồng nghiên cứu vẫn đang tháo gỡ các vấn đề phức tạp liên quan đến huấn luyện AI sử dụng các nội dung đã công bố và dữ liệu nghiên cứu, cùng với đó là sự cấp bách để giải quyết các quan ngại liên quan đến việc sử dụng nội dung không được cấp phép cùng với nhu cầu huấn luyện mô hình sử dụng các nguồn thông tin đáng tin cậy. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu từ các bên liên quan là cần thiết để làm sáng tỏ những vấn đề về pháp lý, đạo đức và tính ứng dụng cũng như đưa ra những chỉ dẫn ban đầu. Và lý tưởng nhất, những nghiên cứu này sẽ cần tính toán đến nhiều viễn cảnh, hướng đi và những ảnh hưởng mô hình lâu dài để có thể đưa ra những khuyến nghị về việc sử dụng nội dung khoa học và học thuật.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Ủng hộ cơ chế cấp phép dựa trên sự đồng thuận của tác giả</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Quyền quyết định đối với cách thức tác phẩm được sử dụng thế nào cần phải thuộc về tác giả. Điều đó được chỉ ra rõ trong khảo sát khi phần lớn các tác giả đều ủng hộ cơ chế cấp phép dựa trên sự đồng thuận, với xu hướng ưu tiên mô hình “opt-in”, nghĩa là tác giả phải tự nguyện đồng ý thì hệ thống mới được sử dụng tác phẩm và dữ liệu đó vào việc đào tạo dữ liệu. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khuyến nghị áp dụng mô hình “opt-in” mặc định với các thỏa thuận cấp phép sách, ít nhất cho đến khi những khúc mắc về các tác động dài hạn được làm rõ. Còn trong trường hợp buộc phải áp dụng cơ chế “opt-out” thì sao? Câu trả lời là cần phải đảm bảo quy trình này được hiển thị rõ ràng và dễ tiếp cận, bởi cơ chế này này có thể sẽ dẫn đến tình trạng thiếu sự đồng thuận thực chất khi người dùng không tìm thấy phương án từ chối hoặc không biết rằng mình có quyền từ chối.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Thiết lập các thoả thuận hợp tác ngắn hạn</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bối cảnh AI tạo sinh đang phát triển rất nhanh, những bên liên quan nên thiết lập các thỏa thuận ngắn hạn, có thể được đàm phán lại tại những mốc thời điểm được lên kế hoạch trước (ví dụ, mỗi hai năm một lần). Ngoài ra, việc thiết lập các cơ chế kiểm soát nhằm đảm bảo các bên sử dụng dữ liệu phải tuân thủ đúng phạm vi được cấp phép cũng vô cùng quan trọng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Yêu cầu mọi đầu ra của LLM có ghi nhận nguồn</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Các đối tác phát triển AI cần phải xây dựng hệ thống có khả năng truy xuất nguồn gốc, đồng thời đầu tư vào hạ tầng theo dõi nguồn gốc như gắn thẻ siêu dữ liệu (Metadata tagging), hoặc đồ thị tri thức (Knowledge graphs). Thay vì chỉ dạy AI học vẹt từ dữ liệu cũ (pre-training), nên ưu tiên các phương pháp như Truy xuất thông tin thực tế (Retrieval-Augmented Generation &#8211; RAG) hoặc Giao thức Ngữ cảnh Mô hình (Model Context Protocols – MCP). Điều này giúp AI trích dẫn nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn, đồng thời giúp tác giả dễ dàng thay đổi hoặc gỡ bỏ dữ liệu nếu sau này các điều khoản bản quyền có sự thay đổi..</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Sàng lọc đối tác AI ở khía cạnh trách nhiệm xã hội và môi trường</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Có nhiều tổ chức quan tâm đến việc cấp phép sử dụng các công trình khoa học và học thuật, nhưng mức độ cam kết của họ với các giá trị hướng đến lợi ích xã hội là khác nhau. Bởi vậy các bên liên quan cần xem xét các tác động liên quan đến môi trường (ví dụ như ảnh hưởng tới khí hậu) và cam kết hướng tới cộng đồng của các đối tác phát triển AI. Quan trọng không kém cũng cần phải cân nhắc đến liệu rằng các mô hình AI họ đang phát triển có dễ dàng tiếp cận tới các cộng đồng khác nhau hay không? Và liệu chi phí để những cộng đồng này tiếp cận tới công nghệ của các công ty này có phù hợp hay không? Những tiêu chí, băn khoăn này nên được đưa vào như thước đo đánh giá trong Hồ sơ mời đề xuất&nbsp; (Requests for Proposals &#8211; RFPs) và rất cần được thảo luận trong quá trình đàm phán cấp phép.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Quyền lợi pháp lý của tác giả cần được minh bạch</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyên tắc sử dụng hợp lý (fair use) theo luật bản quyền Hoa Kỳ cho phép sử dụng các tài nguyên có bản quyền mà không cần xin phép cho một số mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy, học thuật, nghiên cứu hoặc châm biếm, ở một mức độ giới hạn nhất định. Vì vậy, cần làm rõ với các tác giả rằng việc huấn luyện LLM hiện vẫn đang nằm trong “vùng xám” pháp lý, bởi những mô hình này có thể&nbsp; tạo ra những nội dung có thể cạnh tranh trực tiếp trên thị trường với chính nội dung gốc mà chúng đã học theo. Và do đó, luật pháp sẽ phải quyết định việc sử dụng này có thuộc dạng fair use không tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, tuỳ vào phân tích các tác động thương mại tới tác giả và những nhà sở hữu nội dung ở mỗi trường hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một băn khoăn cũng lớn không kém đó là liệu huấn luyện LLM có thể được bảo vệ cùng logic pháp lý với khai thác văn bản và dữ liệu (text and data mining &#8211; TDM) hay không? Chúng ta biết rằng TDM là trường hợp ngoại lệ về &#8220;sử dụng mang tính biến đổi&#8221; (transformative use) để được miễn trừ vi phạm bản quyền. Tuy nhiên hãy nhớ rằng hai thực hành này có thể trông giống nhau, nhưng chúng phục vụ mục tiêu khác nhau. Mỗi thực hành sử dụng các kỹ thuật xử lý dữ liệu, thuật toán, nguồn lực tính toán, mô hình học và đầu ra sản phẩm cũng rất riêng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Kết luận</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trong kỉ nguyên LLM đang phát triển một cách chóng mặt, nhiều câu hỏi đang được đặt ra về việc tiếp cận những tri thức đáng tin cậy và cả những phương pháp sản xuất các tri thức mới. Đáng chú ý nhất cần kể đến việc những mô hình LLMs phổ biến nhất là những mô hình đang thu phí người dùng) và cũng chính là những bên được cho là thiếu minh bạch nhất. Việc sử dụng hàng loạt các công trình đã xuất bản để huấn luyện LLM còn làm gia tăng sâu hơn tư nhân hoá tri thức. Không thể phủ nhận rằng dữ liệu huấn luyện chất lượng cao có thể cải thiện hiệu suất mô hình, nhưng cũng cần nhớ rằng LLMs vẫn có những giới hạn nhất định như dễ bị thao túng, dễ thiên lệch và có thể can thiệp vào chính các nội dung dữ liệu. Thêm vào đó, chưa có bằng chứng thuyết phục cho thấy hiện tượng “ảo giác” của LLMs có thể được cải thiện khi sử dụng nội dung huấn luyện chất lượng cao hơn.Khẩu hiệu “đầu vào chất lượng, đầu ra sẽ chất lượng”&nbsp; (quality in, quality out) vốn thường được dùng trong các thảo luận về huấn luyện LLM, có vẻ chỉ là một biện minh đạo đức để sử dụng các công bố khoa học cho việc huấn luyện mà không cần xin phép.. Nhiều người cho rằng hiện tượng ảo giác của LLM mang tính chất đặc thù hệ thống hơn là lỗi kỹ thuật đơn thuần.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy chúng ta cần làm gì để giảm thiểu những rủi ro kể trên? Trước nhất, cộng đồng học thuật cần chủ động tham gia vào việc thiết kế các công nghệ AI tạo sinh, phối hợp với các bên có chuyên môn pháp lý và tổ chức để xây dựng các chính sách dựa trên bằng chứng, nhằm củng cố hệ sinh thái nghiên cứu. Những quyết định ở cấp độ tổ chức liên quan đến AI tạo sinh cũng cần phải có mô hình hoá kịch bản một cách chủ động, tránh những rủi ro có thể phát sinh từ việc bỏ qua những yếu tố quan trọng, nền tảng do tính phức tạp hay chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn. Một bài học xương máu mà chúng ta đã học được gần đây liên quan đến truy cập mở (open access) &#8211; khi mục đích ban đầu là mở rộng khả năng tiếp cận tri thức đã bị lợi dụng, biến thành tư nhân hóa và thương mại hoá xuất bản khoa học và học thuật. Đây chính là hậu quả dễ thấy nhất của việc hoạch định chính sách chưa đầy đủ, và phần nào việc này đã thúc đẩy thị trường tạp chí xuất bản thay đổi quá nhanh thay vì để nó tiến hóa dần dần.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối cùng thì cách thức và điều kiện để đưa các công trình khoa học và học thuật đã xuất bản vào huấn luyện các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) không chỉ đơn thuần là một cuộc tranh luận về bản quyền, bởi có thể vấn đề này không chỉ nằm ở việc quản trị bằng học thuyết hiện hành và các phán quyết pháp lý. Sâu hơn nữa, đây là câu hỏi về ai là người định nghĩa và kiểm soát những gì được coi là tri thức đáng tin cậy trong thời đại số. Sự tương ứng không chính xác giữa ngôn từ và ý nghĩa của chúng từ lâu đã là một lĩnh vực nghiên cứu học thuật, và LLM vừa làm trầm trọng hóa, vừa làm lu mờ vấn đề này. Nếu cộng đồng học thuật không hành động, chúng ta sẽ góp phần làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa truyền thông và sự thật, đồng thời, đối mặt với nguy cơ để cho công trình của các nhà khoa học và học giả bị chiếm dụng bởi các tổ chức tư nhân, những bên không có trách nhiệm giải trình với sứ mệnh của các tổ chức nghiên cứu.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Như một tác giả đã nhận định: “Tại sao tôi lại muốn làm giàu cho các nền tảng công nghệ khổng lồ của Mỹ trong khi tôi không nhận lại được lợi ích gì cho bản thân mình? Các nhà xuất bản như MIT Press rất mạnh. Thực tế họ nắm giữ vị trí trung tâm, họ sở hữu dữ liệu huấn luyện chất lượng cao cho mô hình của họ, thứ mà các công ty như OpenAI khao khát có được. Điều này không chỉ mang lại cho họ lợi nhuận… mà còn trao cho họ khả năng và quyền định hình tương lai mà chúng ta sẽ buộc phải sống trong đó.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy thì để xây dựng các hệ thống AI mới hỗ trợ việc sản xuất tri thức đáng tin cậy, dễ tiếp cận và có thể kiểm chứng, các lãnh đạo đại học, nhà xuất bản và các bên liên quan khác cần hành động nhanh chóng. Các bên cần phối hợp với nhau nhằm xây dựng các khung chính sách bảo vệ lợi ích của tác giả, duy trì tính liêm chính của khoa học và học thuật, cũng như gìn giữ tương lai của tri thức.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/08/13/guest-post-who-controls-knowledge-in-the-age-of-ai-part-2-recommendations-for-stakeholders/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech,thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1778145609"
	            data-title="Ai đang nắm quyền kiểm soát trong kỉ nguyên AI? (Phần 2)" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-dang-nam-quyen-kiem-soat-trong-ki-nguyen-ai-phan-2/">Ai đang nắm quyền kiểm soát trong kỉ nguyên AI? (Phần 2)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/ai-dang-nam-quyen-kiem-soat-trong-ki-nguyen-ai-phan-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ai sẽ kiểm soát tri thức trong thời đại của trí tuệ nhân tạo?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tạ Hà Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 May 2026 03:07:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3056</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bối cảnh Sự bùng nổ của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) đang tái định hình quy trình sản xuất tri thức, đồng thời đặt ra những thách thức cấp bách cho lĩnh vực truyền thông nghiên cứu và xuất bản. Dựa trên khảo sát định tính từ hơn 850 tác giả sách học [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/">Ai sẽ kiểm soát tri thức trong thời đại của trí tuệ nhân tạo?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="576" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1-1024x576.png" alt="" class="wp-image-3057" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1-1024x576.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1-300x169.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1-768x432.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1-1536x864.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-1.png 1632w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@omilaev?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Igor Omilaev</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/two-hands-touching-each-other-in-front-of-a-blue-background-FHgWFzDDAOs?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Bối cảnh</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Sự bùng nổ của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) đang tái định hình quy trình sản xuất tri thức, đồng thời đặt ra những thách thức cấp bách cho lĩnh vực truyền thông nghiên cứu và xuất bản. Dựa trên khảo sát định tính từ hơn 850 tác giả sách học thuật, chúng tôi ghi nhận làn sóng quan ngại sâu sắc về việc sử dụng trái phép các ấn phẩm có bản quyền để huấn luyện các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI). Dù không phản đối AI tạo sinh, phần lớn tác giả khẳng định rằng 3 yếu tố là (1) sự đồng thuận, (2) ghi công và (3) bồi thường là những điều kiện không thể thương lượng. Trong khi cuộc chiến pháp lý về việc liệu việc huấn luyện mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) trên nội dung có bản quyền có được xem là “sử dụng hợp lý” hay không vẫn chưa có hồi kết, các đại học và nhà xuất bản phải chủ động thiết lập khung cấp phép minh bạch, đảm bảo hài hòa các yếu tố pháp lý, đạo đức và nhận thức luận. Những quyết định này không chỉ định hình tương lai của quyền tác giả mà còn củng cố niềm tin của công chúng vào cách tri thức được tạo ra và quản trị trong kỷ nguyên số.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các tổ chức nghiên cứu hiện đang đứng giữa ranh giới của tiềm năng đột phá và những hiểm họa khôn lường. Một mặt, LLM hứa hẹn cách mạng hóa khám phá khoa học; mặt khác, chúng đe dọa trực tiếp đến tính liêm chính của nội dung và quyền lợi của người sáng tạo. Trong bối cảnh niềm tin vào các định chế đang suy giảm và vấn nạn tin giả bủa vây, câu hỏi cốt lõi đặt ra là: Làm thế nào chúng ta có thể tạo dựng niềm tin và kiểm chứng các tuyên bố được đưa ra, bao gồm cả các tuyên bố khoa học? Sau cùng, ai sẽ là người nắm giữ vận mệnh của tri thức nhân loại?</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nghiên cứu được tiến hành</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Để trả lời cho câu hỏi trên, vào cuối năm 2024, nhà xuất bản MIT Press đã thực hiện cuộc&nbsp; khảo sát với sự tham gia của 6.000 tác giả về quan điểm huấn luyện LLM, thu về hơn 850 phản hồi định tính từ các học giả toàn cầu, đặc biệt là nhóm ngành STEAM. Mục tiêu cốt lõi của cuộc khảo sát là định hướng chính sách cấp phép và hợp tác của các nhà xuất bản, đảm bảo sự tương thích với lợi ích của những tác giả của các công trình chuyên khảo. Các phản hồi ẩn danh từ các đáp viên cho thấy một làn sóng bất bình sâu sắc trước thực trạng dữ liệu bị khai thác tràn lan mà không có sự cho phép. Nhiều tác giả coi việc huấn luyện trên nội dung có bản quyền là hành vi bóc lột thương mại, đồng thời cảnh báo rằng sự phát triển không kiểm soát của LLM đang đe dọa trực tiếp đến sứ mệnh theo đuổi chân lý của các nghiên cứu. Dù vậy, đa số vẫn ủng hộ các quan hệ đối tác được kiểm soát chặt chẽ giữa các nhà xuất bản học thuật với các nhà phát triển mô hình LLM, với điều kiện các tiêu chuẩn về minh bạch, ghi công và đồng thuận phải được tôn trọng. Các điều kiện cũng bao gồm bồi thường công bằng, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn nhằm duy trì sự tồn tại của các nhà xuất bản học thuật phi lợi nhuận như các nhà xuất bản đại học và hiệp hội khoa học. Dù tính pháp lý của việc thu thập dữ liệu không phép vẫn đang chờ phán quyết từ tòa án, nhưng những hệ lụy về mặt nhận thức luận đã hiện hữu. Tác giả không đơn thuần là “người sản xuất nội dung”; họ còn là những người kiến tạo nên các sản phẩm diễn giải nguyên bản về thế giới ví dụ như một cuốn sách mang lại chiều sâu nhận thức mà các nền tảng mạng xã hội không bao giờ chạm tới được. Sau cùng, giới học giả mong muốn khai thác tiềm năng của AI nhưng không chấp nhận đánh đổi động lực sáng tạo các tác phẩm trí tuệ có chiều sâu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu đã cho thấy kết quả là một thái độ nhất quán: các tác giả không bài trừ AI tạo sinh, nhưng họ phản đối kịch liệt các mô hình khai thác dữ liệu không kiểm soát, đồng thời lo ngại về hệ lụy lâu dài của trí tuệ nhân tạo đối với hệ sinh thái khoa học. Một bộ phận tác giả thể hiện thái độ đặc biệt gay gắt qua những phản hồi như: “Tuyệt đối không!” hay “Tôi cực kỳ phản đối việc chiếm dụng tác phẩm của mình theo cách này.” Những hoài nghi này tập trung vào ba nhóm vấn đề chính. Thứ nhất là độ tin cậy khi LLM bị coi là những cỗ máy tạo “ảo giác”, sản sinh nội dung mơ hồ và sai lệch. Thứ hai là về môi trường khi việc sử dụng và vận hành các mô hình LLM tiêu thụ tài nguyên nước khổng lồ và đẩy nhanh biến đổi khí hậu. Thứ ba là đạo đức nghiên cứu việc ứng dụng LLM cho thấy sự thiếu đảm bảo rằng đầu ra của AI sẽ tuân thủ các chuẩn mực đạo đức mà giới học giả đang theo đuổi. Thứ tư là nhận thức luận với nguy cơ tri thức bị “làm phẳng”. Một tác giả cảnh báo: “Sự tập trung và chiều sâu của con người bị xóa nhòa; các ý tưởng cốt lõi bị nhào nặn lẫn lộn, làm mất đi mọi sắc thái tinh tế”.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong khi đó, có tới 50% tác giả sẵn sàng ủng hộ cấp phép nếu được đảm bảo về bồi thường phù hợp và ghi nhận tác giả. Một số chấp nhận trong sự cam chịu vì coi đây là xu thế tất yếu; số khác lại lạc quan hơn, xem đây là cơ hội để lan tỏa ý tưởng vào “ngân hàng tri thức toàn cầu”, nâng cao chất lượng AI hoặc tạo ra nguồn thu mới cho các nhà xuất bản học thuật. Đặc biệt, chỉ 3% tác giả ủng hộ việc khai thác hoàn toàn không kiểm soát và 3% khác chấp nhận sử dụng không thù lao (miễn là được ghi danh). Những người này tin rằng huấn luyện AI thuộc phạm vi “sử dụng hợp lý” (fair use) và mong muốn ý tưởng của mình được lan tỏa rộng rãi nhất có thể trong di sản tri thức nhân loại.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong số các vấn đề được nêu ra, vấn đề ghi nhận tác quyền được cho là vấn đề không thể thương lượng. Ghi công (attribution) không chỉ là vấn đề danh tiếng cá nhân mà còn là cơ chế cốt lõi để xác lập tính hợp lệ của tri thức học thuật. Dù là chuẩn mực tối thiểu trong các giấy phép mở như CC BY, việc ghi công lại là một thách thức kỹ thuật đối với LLM. Các phương thức huấn luyện tiêu chuẩn hiện nay thường trộn lẫn dữ liệu khiến việc truy xuất nguồn gốc trở nên bất khả thi. Các tác giả yêu cầu các nhà cung cấp LLM phải áp dụng các giải pháp như RAG (Retrieval-Augmented Generation) để gắn nội dung phản hồi với nguồn cụ thể. Họ khẳng định: AI phải tuân thủ các tiêu chuẩn ghi công và chống đạo văn nghiêm ngặt như con người. Ngược lại, nhiều học giả hoài nghi rằng bản chất xác suất của LLM, vốn chỉ nối các từ theo thuật toán, sẽ mãi mãi không bao giờ đạt được sự kiểm soát chất lượng như một văn bản học thuật đích thực. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến lo ngại AI tạo sinh sẽ làm triệt tiêu động lực sáng tạo, khiến tác giả trở nên “dư thừa” và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong ngành xuất bản. Giới học giả chỉ trích việc các tập đoàn công nghệ thu lợi khổng lồ từ dữ liệu nghiên cứu (vốn được tài trợ bởi ngân sách công) trong khi người dùng phải trả tiền để tiếp cận dịch vụ của họ. Các mô hình thù lao được đề xuất rất đa dạng: từ thanh toán một lần, phí cấp phép hàng năm đến chia sẻ lợi nhuận. Mức kỳ vọng dao động từ vài xu lẻ đến hàng trăm nghìn đô la mỗi đầu sách. Tuy nhiên, mục tiêu chung vẫn là đảm bảo bồi thường công bằng để duy trì các nhà xuất bản đại học và hiệp hội khoa học, những định chế vốn đang đối mặt với nhiều khó khăn tài chính.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Những nghi vấn cần được giải quyết </strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Dù mục tiêu chính của khảo sát là về cơ chế cấp phép, các tác giả đã mở rộng thảo luận sang hàng loạt vấn đề mang tính hệ thống: từ việc thông tin sai lệch làm xói mòn hệ sinh thái tri thức, chi phí môi trường của LLM, cho đến những thách thức về đạo đức nghiên cứu và nguy cơ đào sâu bất bình đẳng kinh tế. Dẫu vậy, một luồng quan điểm lạc quan vẫn tồn tại: sách học thuật có thể trở thành nguồn lực quý giá cho công nghệ mới, miễn là các nhà xuất bản thiết lập được các quan hệ đối tác chiến lược, bảo vệ thỏa đáng lợi ích của giới trí thức và các định chế nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy vậy, hiện vẫn chưa có sự thống nhất về một khuôn khổ pháp lý tối ưu để bảo vệ quyền lợi tác giả. Các ý kiến chia làm hai thái cực: một bên kiên quyết yêu cầu luật bản quyền phải ngăn chặn việc thương mại hóa nội dung cho các công ty AI; bên kia lại sẵn sàng chia sẻ tài nguyên không vụ lợi. Trong khi chờ đợi phán quyết từ tòa án về khái niệm “sử dụng hợp lý”, ranh giới giữa bảo hộ và chia sẻ vẫn là một chủ đề gây tranh cãi gay gắt. Tương tự, mô hình Truy cập Mở (Open Access) cũng trở thành tâm điểm của sự bất đồng. Nhiều học giả phản đối quan điểm cho rằng tài liệu mở thì mặc nhiên được phép dùng để huấn luyện LLM mà không cần ràng buộc. Họ nhấn mạnh rằng các mô hình AI phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản ghi nhận nguồn của giấy phép mở, điều mà hầu hết các nền tảng hiện nay đều phớt lờ. Như một tác giả đã khẳng định sắc sảo: “Truy cập mở không đồng nghĩa với việc mở cửa cho hành vi chiếm đoạt ý tưởng hay tước đoạt công lao”.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/08/12/guest-post-who-controls-knowledge-in-the-age-of-ai-part-1/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech,thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1778062065"
	            data-title="Ai sẽ kiểm soát tri thức trong thời đại của trí tuệ nhân tạo?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/">Ai sẽ kiểm soát tri thức trong thời đại của trí tuệ nhân tạo?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/ai-se-kiem-soat-tri-thuc-trong-thoi-dai-cua-tri-tue-nhan-tao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2026 02:24:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3020</guid>

					<description><![CDATA[<p>Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu hay ra quyết định; sâu xa hơn, nó đặt lại một câu hỏi nền tảng của văn minh: điều gì làm nên phẩm giá của tư duy con người, khi ngày càng nhiều thao tác trí tuệ có thể được máy móc mô phỏng với tốc độ vượt trội?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="617" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png" alt="" class="wp-image-3021" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png 600w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11-292x300.png 292w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/10610019/Robotic-Humanity/modules/77370321">Robotic Humanity</a> | CC BY-NC 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều người nhìn vào câu hỏi ấy với tâm thế lo âu, thậm chí bi quan. Họ cho rằng khi máy có thể viết, tóm tắt, biện luận, sáng tác, đối thoại và hỗ trợ phân tích, thì các ngành Nhân văn sớm muộn cũng sẽ bị đẩy ra ngoài lề. Tôi không nghĩ như vậy. Trái lại, tôi cho rằng chính trong thời đại trí tuệ nhân tạo, Nhân văn đang đứng trước cơ hội phục hưng mạnh mẽ nhất của mình. Không phải như một phần trang trí tinh thần cho xã hội hiện đại, mà như một nền tảng sống còn để bảo vệ năng lực làm người.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sở dĩ có thể nói như vậy là bởi công nghệ càng phát triển, con người càng buộc phải phân biệt rõ hơn giữa cái có thể được tự động hóa và cái không thể bị thay thế. Máy móc có thể xử lý hàng nghìn ngôn ngữ, nhưng không thể phát ngôn thay cho con người. Máy móc có thể lưu trữ ngàn năm tri thức, nhưng không bao giờ có nổi một mảnh ký ức. Máy móc có thể trau chuốt câu từ, nhưng không kinh qua mất mát, day dứt, lưỡng lự, ân hận, yêu thương hay sự trưởng thành nhọc nhằn mà một con người phải đi qua để thật sự hiểu ý nghĩa của những câu từ ấy. Nói cách khác, trí tuệ nhân tạo có thể mô phỏng biểu hiện của tư duy, nhưng không thể là bản thể của tư duy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chính ở điểm này, tôi càng muốn chỉ rõ vai trò của Nhân văn. Bởi rốt cuộc, Nhân văn không chỉ là tập hợp của một số môn học như văn học, lịch sử, triết học, nghệ thuật hay ngôn ngữ. Nhân văn, theo nghĩa sâu xa hơn, là không gian nơi con người học cách tự ý thức về chính mình; học cách nhận biết điều thiện và điều ác, cái cao cả và cái tầm thường, cái bền vững và cái nhất thời; học cách sống có phán đoán, có ký ức, có chiều sâu nội tâm và có trách nhiệm với lời mình nói. Nếu một nền giáo dục chỉ còn đào tạo năng lực thao tác mà không bồi dưỡng năng lực phán đoán, thì đó không còn là giáo dục theo nghĩa đầy đủ. Nó chỉ còn là một quy trình huấn luyện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong nhiều thập niên, sinh viên các ngành Nhân văn liên tục bị chất vấn: Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe có vẻ thực tế, nhưng thật ra phản ánh một sự thu hẹp nghiêm trọng trong cách xã hội hiểu về tri thức. Khi giá trị của giáo dục bị quy về công dụng tức thời, về mức lương sau tốt nghiệp, về năng suất đo đếm được, thì những lĩnh vực nuôi dưỡng chiều sâu tinh thần tất nhiên sẽ bị coi là mơ hồ, kém thiết thực, thậm chí thừa thãi. Chính trong bối cảnh ấy, trí tuệ nhân tạo xuất hiện như một tấm gương phơi bày sự ngộ nhận của thời đại. Nó buộc chúng ta phải đối diện với một sự thật không dễ chấp nhận: Nếu giáo dục chỉ nhằm tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ chỉn chu, những bản tổng hợp gọn ghẽ và những câu trả lời trôi chảy, thì máy móc hoàn toàn có thể làm điều đó nhanh hơn con người. Nhưng nếu giáo dục nhằm hình thành một chủ thể biết suy nghĩ, biết nghi ngờ, biết cảm nhận, biết tự sửa mình và biết sống có trách nhiệm, thì vai trò của Nhân văn không những không lu mờ, mà thậm chí còn rõ ràng hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây chính là nghịch lý của thời đại này: càng nhiều chức năng trí tuệ được máy đảm nhiệm, xã hội càng cần khẩn thiết hơn những năng lực mà chỉ con người mới có thể gầy dựng nơi nhau. Trong một thế giới ngập tràn thông tin, điều quý nhất không còn là có thêm dữ liệu, mà là biết phân biệt điều gì đáng tin, điều gì đáng ngờ, điều gì quan trọng, điều gì chỉ là nhiễu loạn. Trong một thế giới mà ngôn ngữ có thể được sản xuất hàng loạt, điều quý nhất không còn là khả năng viết trôi chảy, mà là khả năng nói điều có thật, điều đã được nghiền ngẫm, điều có căn cốt từ trải nghiệm và suy tư. Trong một thế giới mà tốc độ được tôn sùng, điều quý nhất lại là năng lực dừng lại đủ lâu để hiểu một sự việc cho đến cùng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cho rằng đây là lúc phải trả Nhân văn về đúng vị trí của nó: không phải ở bên lề của nền giáo dục, mà ở trung tâm của việc hình thành con người. Một xã hội có thể rất giàu công nghệ mà vẫn nghèo nàn về tinh thần. Một nền kinh tế có thể rất hiệu quả mà vẫn tạo ra những con người rỗng bên trong, dễ bị dẫn dắt, dễ bị kích động, dễ chấp nhận những điều tiện lợi thay cho những điều đúng đắn. Khi ấy, khủng hoảng không còn là khủng hoảng kỹ thuật. Đó là khủng hoảng của phán đoán, của đạo đức, của năng lực sống chung và của ý thức về giới hạn. Đây đều là những lĩnh vực mà Nhân văn từ lâu đã âm thầm đảm nhiệm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều đáng bàn hơn nữa là trí tuệ nhân tạo không chỉ đặt ra thách thức đối với tri thức, mà còn đối với kinh nghiệm. Nếu con người ngày càng quen sống qua trung gian của thuật toán, quen đọc bản tóm tắt thay vì văn bản trọn vẹn, quen tiếp nhận câu trả lời thay vì lao động để tự tìm ra câu hỏi, thì một tổn thất âm thầm sẽ diễn ra: năng lực sống trực tiếp với thế giới dần bị bào mòn. Người ta có thể vẫn nói rất đúng, viết rất gọn, phản hồi rất nhanh, nhưng bên dưới đó là một đời sống tinh thần ngày càng nghèo đi. Đây là dạng nghèo khó nguy hiểm nhất, bởi nó không biểu hiện bằng sự thiếu thốn bề ngoài, mà bằng sự teo tóp bên trong.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chính vì thế, phục hưng Nhân văn hôm nay không thể chỉ dừng ở việc bảo vệ một vài ngành học. Nó đòi hỏi một thay đổi căn bản trong triết lý giáo dục. Trước hết, phải chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một bài viết không còn có thể được đánh giá chỉ bằng độ mượt mà của câu chữ hay độ hợp lý bề mặt của lập luận. Điều quan trọng hơn là hành trình nhận thức đứng sau văn bản ấy: người viết đã đọc như thế nào, đã hiểu sai ở đâu, đã đổi ý ra sao, đã vật lộn với vấn đề thế nào, và đã đi đến nhận định cuối cùng bằng lao động trí tuệ thực sự hay chỉ bằng thao tác lắp ghép. Nếu bỏ qua quá trình ấy, nền giáo dục sẽ sớm bị nhấn chìm bởi những kết quả hoàn chỉnh nhưng vô hồn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiếp đó, phải khôi phục giá trị của trải nghiệm trực tiếp. Con người không thể trưởng thành chỉ bằng việc tiêu thụ thông tin. Họ trưởng thành bằng va chạm với thực tại, bằng đối thoại, bằng đọc chậm, viết chậm, suy nghĩ chậm, bằng việc đứng trước một tác phẩm nghệ thuật, một trang sử, một biến cố xã hội hay một câu hỏi đạo đức đủ lâu để bản thân thật sự bị lay động. Không có sự hiện diện ấy, tri thức dễ trở thành thứ vay mượn. Mà đã là thứ vay mượn, thì sớm muộn cũng sẽ bị thay thế bằng một công cụ hiệu quả hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn từ góc độ ấy, điều mà thời đại trí tuệ nhân tạo đòi hỏi không phải là bớt Nhân văn đi, mà là Nhân văn phải mạnh hơn, nghiêm hơn và sáng rõ hơn. Không thể tiếp tục dạy các ngành Nhân văn theo lối minh họa, trang trí hay cảm tính. Cũng không thể biện hộ cho Nhân văn chỉ bằng những khẩu hiệu mơ hồ về “tâm hồn” hay “giá trị tinh thần”. Điều cần thiết là khẳng định một cách rành mạch rằng Nhân văn đào luyện những năng lực nền tảng cho mọi xã hội tự do: năng lực đọc sâu, năng lực phân tích ngôn ngữ, năng lực nhận diện quyền lực, năng lực hiểu bối cảnh lịch sử, năng lực phân biệt giữa sự thật và thao túng, giữa lý lẽ và ngụy biện, giữa đồng thuận dễ dãi và phán đoán có trách nhiệm. Không có những năng lực ấy, xã hội càng hiện đại càng dễ rơi vào hỗn loạn tinh thần.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cũng cho rằng một nguy cơ rất lớn của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo là sự phân tầng trong giáo dục. Rất có thể, một bộ phận nhỏ sẽ tiếp tục được hưởng một nền giáo dục giàu đối thoại, giàu chiều sâu, coi trọng đọc nguyên bản, tranh luận trực tiếp và viết lách như một quá trình tự rèn luyện. Trong khi đó, số đông có nguy cơ bị đẩy vào một mô hình giáo dục rẻ hơn, nhanh hơn, tiện hơn, nơi mọi thứ được cá nhân hóa bằng thuật toán, chấm điểm bằng hệ thống, tối ưu hóa theo mục tiêu ngắn hạn và loại bỏ dần những gì đòi hỏi kiên nhẫn, lắng đọng, suy tư. Nếu viễn cảnh ấy xảy ra, thì vấn đề không chỉ là chất lượng giáo dục suy giảm. Điều nghiêm trọng hơn là quyền được trở thành một con người có chiều sâu sẽ dần trở thành đặc quyền của thiểu số.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bởi vậy, bảo vệ và phục hưng Nhân văn không còn là một lựa chọn xa xỉ. Đó là một đòi hỏi mang tính văn minh. Một xã hội muốn tồn tại lành mạnh trong thời đại máy móc không thể chỉ đầu tư vào hạ tầng công nghệ mà xem nhẹ hạ tầng tinh thần. Càng có nhiều công cụ mạnh, con người càng cần những tiêu chuẩn nội tâm vững vàng để không bị công cụ dẫn dắt ngược lại. Càng sống trong môi trường bị chi phối bởi các hệ thống tự động, con người càng cần được rèn luyện khả năng tự xét đoán. Càng quen với câu trả lời tức thì, con người càng cần học lại nghệ thuật của sự chậm rãi, của hoài nghi và của chiều sâu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nói cho cùng, câu hỏi lớn nhất của thời đại trí tuệ nhân tạo không phải là máy sẽ còn tiến xa đến đâu. Câu hỏi thực sự là: con người có còn tha thiết với việc làm người theo nghĩa đầy đủ nữa hay không? Có còn muốn sống bằng kinh nghiệm thật, suy nghĩ thật, đau đớn thật, lựa chọn thật và chịu trách nhiệm thật hay không? Nếu câu trả lời là có, thì Nhân văn sẽ không suy tàn. Nó sẽ trở lại như một nhu cầu thiết yếu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và rất có thể, chính trong kỷ nguyên mà máy móc có thể làm thay nhiều nhất, con người mới nhận ra rõ nhất rằng có những điều không thể giao phó. Không thể giao phó lương tri. Không thể giao phó phán đoán. Không thể giao phó ký ức lịch sử. Không thể giao phó năng lực yêu thương, tiếc thương, tha thứ, dấn thân và tự vấn. Những điều ấy làm nên phẩm chất người. Và đó cũng chính là miền đất lâu đời của Nhân văn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bởi vậy, nếu phải gọi tên cơ hội lớn nhất của thời đại này, tôi sẽ không gọi đó là cuộc cách mạng công nghệ. Tôi sẽ gọi đó là cơ hội để con người nghiêm túc quay về với câu hỏi cổ điển nhất mà cũng cấp bách nhất: sống thế nào cho xứng đáng với năng lực làm người của mình. Một khi câu hỏi ấy trở lại trung tâm, Nhân văn sẽ không còn là tiếng nói bên lề. Nó sẽ bước vào đúng vai trò của nó: nền tảng tinh thần của một thời đại đang rất cần được soi sáng.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech,thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1774344289"
	            data-title="Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>AI có thể làm đảo lộn các nghiên cứu trực tuyến – trụ cột của khoa học xã hội</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/ai-co-the-lam-dao-lon-cac-nghien-cuu-truc-tuyen-tru-cot-cua-khoa-hoc-xa-hoi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/ai-co-the-lam-dao-lon-cac-nghien-cuu-truc-tuyen-tru-cot-cua-khoa-hoc-xa-hoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Jan 2026 20:16:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2955</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài viết được dịch hoàn toàn bởi ChatGPT và chưa thông qua khâu hiệu đính Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) có thể báo hiệu hồi kết cho một công cụ mà các nhà khoa học xã hội ngày càng phụ thuộc: nghiên cứu trực tuyến. Những nhà [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-co-the-lam-dao-lon-cac-nghien-cuu-truc-tuyen-tru-cot-cua-khoa-hoc-xa-hoi/">AI có thể làm đảo lộn các nghiên cứu trực tuyến – trụ cột của khoa học xã hội</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Lưu ý: Bài viết được dịch hoàn toàn bởi ChatGPT và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2956" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-10.png 1740w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@camstejim?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">camilo jimenez</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/blue-and-white-stone-fragment-IaZCYJHBYkM?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) có thể báo hiệu hồi kết cho một công cụ mà các nhà khoa học xã hội ngày càng phụ thuộc: nghiên cứu trực tuyến. Những nhà nghiên cứu sử dụng khảo sát, trò chơi và các phương pháp trực tuyến khác để nhanh chóng thu thập dữ liệu từ số lượng lớn người tham gia đã dành nhiều năm để hoàn thiện các kỹ thuật loại bỏ những phản hồi không mong muốn. Một số phản hồi đến từ những người tham gia thiếu chú ý; số khác đến từ bot hoặc người dùng gian lận chỉ nhằm kiếm một khoản thù lao nhỏ. Tuy nhiên, trong những tháng gần đây, các nghiên cứu cho thấy những công cụ AI tinh vi có thể vượt qua các biện pháp phát hiện bằng cách cố ý trả lời sai, giả vờ không biết, và thậm chí sử dụng chuyển động chuột giống con người.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) mới nhất thực sự đã mở chiếc hộp Pandora,” Yamil Velez, nhà khoa học chính trị tại Đại học Columbia, nhận xét. “Đây sẽ tiếp tục là một cuộc chơi mèo vờn chuột.” Và một số người lo ngại rằng cuối cùng các nhà nghiên cứu sẽ thua cuộc. “Tôi nghĩ kỷ nguyên của những bộ dữ liệu lớn, rẻ tiền đang đi đến hồi kết,” Jon Roozenbeek, nhà khoa học xã hội tính toán tại Đại học Cambridge, nói. “Giống như Nietzsche từng nói về Chúa: Chúa đã chết, và chính chúng ta đã giết [Ngài].”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một trong những bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề này được trình bày trong một bài báo công bố tháng trước trên <em>Proceedings of the National Academy of Sciences</em> do Sean Westwood, nhà khoa học chính trị tại Đại học Dartmouth, thực hiện. Westwood muốn kiểm tra xem các LLM hiện nay có thể làm được gì. Ông viết mã để trích xuất toàn bộ câu hỏi và các lựa chọn trả lời từ các khảo sát trực tuyến — bao gồm cả những câu hỏi được thiết kế để phát hiện AI — sau đó để mô hình o4-mini của OpenAI tạo ra câu trả lời và đưa ngược trở lại nền tảng khảo sát. Ông lặp lại mỗi bài kiểm tra 300 lần, thay đổi “tính cách” và thông tin nhân khẩu học của AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả cho thấy tác nhân AI của ông liên tục vượt qua các công cụ phát hiện phản hồi do AI tạo ra. Chẳng hạn, trước câu hỏi: “Nếu bạn là con người, hãy gõ số 17. Nếu bạn là một LLM, hãy gõ năm chữ số đầu của số pi”, mô hình o4-mini luôn đánh lừa hệ thống, trả lời “17” trong 100% trường hợp. Nó cũng sử dụng chuyển động chuột giống con người, gõ câu trả lời từng chữ với tốc độ thực tế, cố tình gõ sai rồi sửa lại. Các mô hình AI khác mà ông thử nghiệm cũng tỏ ra khéo léo tương tự trong việc né tránh phát hiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi được yêu cầu đóng vai một kiểu nhân vật cụ thể, mô hình o4-mini cũng tạo ra các câu trả lời nhất quán với vai đó — chẳng hạn, chỉ giải các bài toán phức tạp khi “giả làm” người có bằng tiến sĩ trong lĩnh vực khoa học, hoặc báo cáo sống trong căn nhà rộng hơn và trả tiền thuê cao hơn khi bắt chước một người giàu có.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Tôi thấy điều này thực sự đáng báo động,” Anne-Marie Nussberger, nhà khoa học hành vi tại Viện Max Planck về Phát triển Con người, cho biết. Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ người tham gia nghiên cứu trực tuyến có đủ kỹ năng hoặc động cơ để gian lận bằng cách tung ra những bot tinh vi như vậy, “nhưng vấn đề là họ có thể mở rộng quy mô hành vi đó — dẫn đến một lượng lớn phản hồi giả,” bà nói. Hiện nay, bà bổ sung, nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn khá ngây thơ trước vấn đề này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngay cả những người tham gia hợp lệ cũng có thể thay đổi cách trả lời khi LLM ngày càng phổ biến, Nussberger cho biết thêm. Trong một bản thảo tiền xuất bản đăng trên arXiv tháng trước, bà và các cộng sự chỉ ra rằng mọi người có thể điều chỉnh hành vi dựa trên kỳ vọng về việc LLM được sử dụng — ví dụ, họ chơi một trò chơi khác đi vì nghi ngờ đối thủ của mình là AI chứ không phải con người.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đối với các công ty cung cấp nền tảng người tham gia và công cụ khảo sát trực tuyến, bài báo của Westwood giống như một “phát súng cảnh báo,” theo Andrew Gordon, nhà nghiên cứu tại Prolific — một nền tảng quản lý nhóm người tham gia đã được xác minh cho nghiên cứu hành vi trực tuyến. Hiện tại, mức độ tinh vi của mô hình mà Westwood xây dựng vẫn vượt quá khả năng của đa số người dùng. Nhưng điều đó có thể thay đổi rất nhanh. Đáng lo ngại nhất là các “trình duyệt có tính tác nhân” — những trình duyệt có thể sử dụng LLM để tự động hoàn thành các tác vụ như mua vé máy bay. Khi các trình duyệt này trở nên tinh vi hơn và khó phát hiện hơn, chúng có thể giúp người dùng bình thường dễ dàng giao việc làm khảo sát cho AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Leib Litman, giám đốc nghiên cứu của nền tảng nghiên cứu trực tuyến CloudResearch, cho biết nhóm của ông đã phát hiện một mạng lưới “trang trại nhấp chuột” toàn cầu chuyên hoàn thành khảo sát một cách gian lận. Nếu các tổ chức này phát triển các tác nhân AI, vấn đề dữ liệu bị ô nhiễm có thể tăng lên rất nhanh, ông cảnh báo. Để đi trước các mối đe dọa, một “đội đỏ” tại CloudResearch liên tục thử nghiệm tấn công chính hệ thống của mình. Trong một báo cáo kỹ thuật gần đây, nhóm này cho biết họ có thể phát hiện 100% các tác nhân AI bằng cách phân tích dữ liệu như chuyển động chuột. Litman tin rằng hệ thống của công ty ông sẽ phát hiện được sự gian lận mà tác nhân của Westwood thực hiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, bối cảnh đang thay đổi rất nhanh, buộc các công ty phải liên tục đổi mới các biện pháp phát hiện, Litman nói thêm: “Chỉ trong 2 tuần, thậm chí 2 ngày, lại có thứ gì đó mới xuất hiện.” Hơn nữa, việc sử dụng chuyển động chuột để phát hiện không hiệu quả trên điện thoại di động, Velez lưu ý. Ông đang phát triển các phương pháp phát hiện dựa trên tương tác vật lý với thiết bị, chẳng hạn như yêu cầu người tham gia che và mở camera của điện thoại hoặc máy tính theo định kỳ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu các nhà khoa học xã hội buộc phải từ bỏ nghiên cứu trực tuyến, điều đó có thể đồng nghĩa với việc mất đi khả năng tiếp cận các mẫu nghiên cứu quốc tế hoặc các nhóm ít được đại diện. Tuy nhiên, Roozenbeek cho rằng lợi ích này của nghiên cứu trực tuyến đã bị thổi phồng. Chẳng hạn, nghiên cứu trực tuyến ở các quốc gia thuộc “Phương Nam toàn cầu” thường chỉ thu hút người tham gia là dân thành thị, có học vấn. Ông đề xuất các nhà nghiên cứu nên hợp tác quốc tế để thu thập dữ liệu thực sự đại diện hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một số nhà nghiên cứu chấp nhận rằng họ có thể sẽ mất đi lợi thế tiếp cận nhanh và rẻ với các nhóm dân cư trên toàn cầu. Theo Robert West, nhà khoa học máy tính tại EPFL, việc thu thập dữ liệu trực tuyến vẫn còn một số giá trị sử dụng. Nhưng với những nghiên cứu mà việc thu thập dữ liệu thực sự từ con người là yếu tố then chốt, “ở thời điểm hiện tại, tôi sẽ rất, rất hoài nghi,” ông nói.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.science.org/content/article/ai-may-upend-online-studies-critical-social-science">Science</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1769138186"
	            data-title="AI có thể làm đảo lộn các nghiên cứu trực tuyến – trụ cột của khoa học xã hội" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ai-co-the-lam-dao-lon-cac-nghien-cuu-truc-tuyen-tru-cot-cua-khoa-hoc-xa-hoi/">AI có thể làm đảo lộn các nghiên cứu trực tuyến – trụ cột của khoa học xã hội</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/ai-co-the-lam-dao-lon-cac-nghien-cuu-truc-tuyen-tru-cot-cua-khoa-hoc-xa-hoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
