<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Khoa học - Giáo dục mở - ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/category/khoa-hoc-giao-duc-mo/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/category/khoa-hoc-giao-duc-mo/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 27 Jul 2026 07:41:35 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.1</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Khoa học - Giáo dục mở - ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/category/khoa-hoc-giao-duc-mo/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Để nội dung học thuật thực sự dành cho tất cả mọi người </title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/de-noi-dung-hoc-thuat-thuc-su-danh-cho-tat-ca-moi-nguoi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/de-noi-dung-hoc-thuat-thuc-su-danh-cho-tat-ca-moi-nguoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bùi Ngọc Khánh Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2026 07:41:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3240</guid>

					<description><![CDATA[<p>Xuất bản học thuật đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, nơi khả năng tiếp cận thông tin không chỉ đơn thuần là yêu cầu tuân thủ mà còn là vấn đề đạo đức và cơ hội đổi mới. Dù phong trào truy cập mở đã giúp nghiên cứu khoa học tiếp cận được nhiều [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/de-noi-dung-hoc-thuat-thuc-su-danh-cho-tat-ca-moi-nguoi/">Để nội dung học thuật thực sự dành cho tất cả mọi người </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Xuất bản học thuật đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, nơi khả năng tiếp cận thông tin không chỉ đơn thuần là yêu cầu tuân thủ mà còn là vấn đề đạo đức và cơ hội đổi mới. Dù phong trào truy cập mở đã giúp nghiên cứu khoa học tiếp cận được nhiều độc giả hơn, khả năng tiếp cận thực sự còn rộng hơn rất nhiều: nó liên quan đến việc mọi người, bất kể điều kiện thể chất hay nhận thức, đều có thể tiếp cận và sử dụng tri thức học thuật một cách hiệu quả.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="684" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2-684x1024.jpeg" alt="" class="wp-image-3241" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2-684x1024.jpeg 684w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2-200x300.jpeg 200w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2-768x1151.jpeg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2-1025x1536.jpeg 1025w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/image-2.jpeg 1367w" sizes="(max-width: 684px) 100vw, 684px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/photos/peoples-walking-on-pedestrian-lane-X53e51WfjlE">Peoples walking on pedestrian lane</a> via Unsplash | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy một khoảng cách lớn giữa mục tiêu phổ cập tri thức và con số thực tiễn: chỉ khoảng 2,4% tập tài liệu PDF đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về khả năng truy cập. Trong khi đó, có tới một phần tư dân số thế giới được chẩn đoán gặp các vấn đề về thị giác và gần 10% mắc chứng khó đọc, những đối tượng lẽ ra cần được ưu tiên tiếp cận lại bị loại trừ bởi hạn chế của các định dạng. Đáng chú ý, khoảng 80% người khuyết tật trên toàn cầu sống tại các quốc gia đang phát triển, nơi các học giả có thu nhập thấp và trung bình phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc tiếp cận nghiên cứu tự do. Vì vậy, khả năng truy cập không chỉ đơn giản là gỡ bỏ rào cản chi phí, mà còn là việc loại bỏ những trở ngại về kỹ thuật, ngôn ngữ và định dạng để xây dựng một hệ sinh thái học thuật thực sự bao trùm.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Những thách thức và chiến lược xây dựng nội dung học thuật dễ tiếp cận</strong></h2>



<h3 class="wp-block-heading"><strong><em>Thách thức xóa bỏ rào cản</em></strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy làm thế nào để xóa bỏ những rào cản ấy? Chúng ta cần bắt đầu từ việc thấu hiểu và đồng cảm với đa dạng nhu cầu của độc giả. Khi đó, những trở ngại mà các cá nhân gặp phải trong quá trình tiếp cận nội dung sẽ được nhận diện và loại bỏ, từ đó xây dựng một môi trường học thuật cởi mở và công bằng.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thực tế, một trong những rào cản lớn nhất của accessibility lại nằm ở chính định dạng học thuật truyền thống. PDF, định dạng phổ biến nhất trong xuất bản học thuật, thường khó tương thích với các công nghệ hỗ trợ như screen reader nếu không được gắn thẻ và mô tả đầy đủ. Vì vậy, ngành xuất bản đang chuyển dần sang mô hình “born-accessible”, tức là thiết kế nội dung dễ tiếp cận ngay từ đầu thay vì chỉnh sửa sau này. Các định dạng như HTML hay EPUB3 được xem là tiêu chuẩn mới vì chúng linh hoạt hơn với nhiều thiết bị và nhu cầu đọc khác nhau. Bên cạnh đó, accessibility không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn gắn liền với nguyên tắc thiết kế phổ quát . Nội dung học thuật cần được xây dựng theo hướng phục vụ phạm vi người dùng rộng nhất có thể, bất kể khác biệt về thể chất, nhận thức hay khả năng tiếp cận công nghệ.&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong><em>Chiến lược </em>xây<em> dựng nội dung học thuật dễ tiếp cận</em></strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực này là sự ra đời của Đạo luật Tiếp cận Châu Âu (European Accessibility Act – EAA). Kể từ ngày 28/06/2025, các nội dung số như ebook, website và nền tảng thương mại điện tử hoạt động tại Liên minh Châu Âu bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn accessibility dành cho người khuyết tật, dù các tạp chí học thuật hiện vẫn được miễn trừ một phần.<strong> </strong>Quy định này buộc tất cả các tổ chức hoạt động kinh doanh với mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận tại Liên minh Châu Âu thực hiện các yêu cầu sau:&nbsp;</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Đăng tải các tuyên bố về khả năng tiếp cận trên trang web và nội dung trực tuyến</li>



<li>Áp dụng nguyên tắc POUR (Có thể nhận biết &#8211; Perceivable , Có thể vận hành &#8211; Operable, Có thể hiểu &#8211; Understandable và Có tính ổn định &#8211; Robust) trong các lĩnh vực phân phối nội dung và triển khai nền tảng </li>



<li>Đảm bảo tuân thủ quy định trên tất cả các nền tảng số </li>
</ol>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, EAA hoạt động như một khung chỉ thị thay vì bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi quốc gia thành viên có thể triển khai các quy định khác nhau khi luật hóa đạo luật này. Vì vậy, nhiều chuyên gia khuyến nghị các tổ chức nên áp dụng thêm những tiêu chuẩn quốc tế đã được công nhận rộng rãi như WCAG 2.2 AA hoặc EN 301 549 để đảm bảo tính nhất quán khi tuân thủ trong thực tiễn.</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="487" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Anh-man-hinh-2026-07-27-luc-14.41.01-1024x487.png" alt="" class="wp-image-3242" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Anh-man-hinh-2026-07-27-luc-14.41.01-1024x487.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Anh-man-hinh-2026-07-27-luc-14.41.01-300x143.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Anh-man-hinh-2026-07-27-luc-14.41.01-768x365.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Anh-man-hinh-2026-07-27-luc-14.41.01.png 1376w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tương lai của khả năng truy cập trong xuất bản học thuật </strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Xây dựng một tương lai cho xuất bản học thuật dễ tiếp cận đòi hỏi sự đổi mới không ngừng về công nghệ đi đôi với tinh thần chia sẻ tri thức và kinh nghiệm thực tiễn. Thành công của lộ trình này không chỉ nằm ở việc xóa bỏ rào cản về chi phí, mà còn nằm ở sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục, nhà tài trợ và tổ chức xuất bản để tháo gỡ đồng thời các nút thắt về kỹ thuật, ngôn ngữ và định dạng. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại là các tổ chức quy mô nhỏ thường bị bỏ lại phía sau trong các cuộc thảo luận chính sách toàn diện. Do đó, khả năng tiếp cận và tính bao trùm không nên bị xem là yếu tố bổ sung hay gánh nặng phát sinh, mà cần phải trở thành một phần mặc định trong quy trình làm việc và tiêu chuẩn nghề nghiệp của mọi đơn vị trong hệ sinh thái này.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bối cảnh kỷ nguyên số với hàng chục công cụ AI mới ra mắt mỗi ngày, các cá nhân và tổ chức có cơ hội rất lớn để chủ động thử nghiệm và tìm ra giải pháp tối ưu cho mục tiêu của mình. Một minh chứng tiêu biểu là NotebookLM của Google, trợ lý AI hỗ trợ nghiên cứu với khả năng phân tích và tái cấu trúc các tài liệu học thuật khô khan thành những định dạng dễ tiếp nhận hơn, chẳng hạn như các cuộc trao đổi chuyên sâu theo phong cách podcast. Sự bùng nổ của AI không chỉ đơn thuần là sự tiến bộ về mặt kỹ thuật, mà còn là công cụ mạnh mẽ giúp tri thức trở nên sống động và gần gũi hơn, cho phép mỗi độc giả có thể tùy chỉnh cách thức tiếp cận thông tin phù hợp nhất với nhu cầu và năng lực cá nhân.&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quan trọng hơn hết, khả năng tiếp cận thực chất sẽ không bao giờ đạt được nếu thiếu đi sự tham gia của cộng đồng ở mọi giai đoạn. Thay vì duy trì lối tư duy thiết kế cho người dùng, chúng ta cần chuyển dịch sang hướng thiết kế cùng với họ. Việc lắng nghe và đặt trải nghiệm sống của người khuyết tật hay nhóm đa dạng về khả năng vào vị trí trung tâm là điều cốt yếu để định hình các chính sách và công cụ thực sự hiệu quả thay vì chỉ mang tính hình thức. Con đường phía trước đòi hỏi sự cam kết song hành giữa năng lực kỹ thuật và sự thấu cảm con người; đó không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là nghĩa vụ đạo đức để xây dựng một nền xuất bản học thuật nhân văn, nơi tri thức thực sự phục vụ cho tất cả mọi người.&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="http://google.com/url?q=https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/08/19/guest-post-beyond-open-access-part-1-make-academic-content-truly-accessible-for-all/&amp;sa=D&amp;source=docs&amp;ust=1777971653328403&amp;usg=AOvVaw1GcsDlm1crZ4ah7diA9ZOd">The Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1785163293"
	            data-title="Để nội dung học thuật thực sự dành cho tất cả mọi người " 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/de-noi-dung-hoc-thuat-thuc-su-danh-cho-tat-ca-moi-nguoi/">Để nội dung học thuật thực sự dành cho tất cả mọi người </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/de-noi-dung-hoc-thuat-thuc-su-danh-cho-tat-ca-moi-nguoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lê Hiếu An Hà]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2026 07:06:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3197</guid>

					<description><![CDATA[<p>Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Vương quốc Anh (thường được gọi là UKRI) là đơn vị phân bổ nguồn tài trợ nghiên cứu và đổi mới của chính phủ Anh trên tất cả các lĩnh vực, với tổng số tiền lên tới 8 tỷ bảng Anh mỗi năm, cơ quan này thực sự [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/">Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="723" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1024x723.png" alt="" class="wp-image-3200" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1024x723.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-300x212.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-768x542.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10-1536x1084.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/Screenshot-2026-07-03-at-14.05.10.png 2034w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.flickr.com/photos/biblioteekje/6325328112">Open Access cookie</a> via Flickr | CC BY-NC-SA 2.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Vương quốc Anh (thường được gọi là UKRI) là đơn vị phân bổ nguồn tài trợ nghiên cứu và đổi mới của chính phủ Anh trên tất cả các lĩnh vực, với tổng số tiền lên tới 8 tỷ bảng Anh mỗi năm, cơ quan này thực sự là một thế lực đáng gờm ở Anh và trên toàn thế giới. Chính sách truy cập mở (OA) của UKRI được thiết kế theo định hướng của cOAlition S nhằm tăng tính đồng bộ, đồng thời giảm bớt gánh nặng tuân thủ khi các nhà hoa học phải đối mặt với con số choáng váng: 1.155 chính sách và quy định OA hiện hành trên toàn thế giới (theo ROARMAP). Chính sách này áp dụng cho các bài báo nghiên cứu được bình duyệt do UKRI tài trợ (bao gồm cả bài tổng quan và bài báo hội nghị), cũng như các sách chuyên khảo, chương sách và tuyển tập có biên tập. Để tuân thủ quy định về truy cập mở, các tác giả có hai lộ trình: Mở truy cập ngay lập tức đối với một phiên bản đầy đủ (Version of Record) (áp dụng ngay với tạp chí và trong vòng 12 tháng đối với sách); hoặc, nếu xuất bản trên tạp chí có phí, tác giả phải nộp ngay bản thảo được chấp nhận (hoặc một phiên bản được nhà xuất bản cho phép) vào một kho lưu trữ của trường/viện hoặc kho dữ liệu chuyên ngành ngay khi bài báo lên sóng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều yêu cầu kỹ thuật trong chính sách chỉ có thể được đáp ứng hoặc được chứng minh thông qua các trường siêu dữ liệu như thông tin bản quyền, mã định danh thường trực (PIDs) cho các bài viết và tác giả, liên kết dẫn đến các khoản tài trợ hay mối quan hệ giữa các phiên bản khác nhau của bài báo. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, thực trạng quản lý siêu dữ liệu hiện nay vẫn chưa đồng bộ với các yêu cầu kỹ thuật được đặt ra trong chính sách truy cập mở của UKRI, khiến cho những cá nhân và tổ chức rất khó tuân thủ đầy đủ (và càng khó để chứng minh mình đã thực hiện theo đúng quy định). Tình trạng này thấy rõ nhất ở các đơn vị hạn chế về nguồn lực, chẳng hạn như các nhà xuất bản nhỏ và các trường đại học ít tập trung vào nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để có thể bóc tách những vướng mắc và tìm được ra hướng giải quyết, UKRI đã mời MoreBrains&nbsp; phân tích văn bản chính sách (đặc biệt là các yêu cầu kỹ thuật). Nhiệm vụ của MoreBrains là xác định các trường siêu dữ liệu cần có cho cả hai lộ trình OA, đối chiếu với các tiêu chuẩn đang dùng trong cộng đồng xuất bản (cho lộ trình 1) và cộng đồng lưu trữ (cho lộ trình 2) để xem mỗi bên đang có hay thiếu những gì. Đối với các dữ liệu hiện có, tổ chức này đánh giá chất lượng thông tin và đo lường mức độ thiếu hụt từ phía các nhà xuất bản và kho lưu trữ. Minh chứng cụ thể được lấy từ tần suất xuất hiện của các siêu dữ liệu liên quan trong các nghiên cứu thuộc Vương quốc Anh trên hệ thống Crossref (đối với tạp chí) và CORE (đối với các kho lưu trữ)..</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong số 16 yêu cầu về siêu dữ liệu của UKRI – từ các tuyên bố truy cập dữ liệu (DAS) và thông tin bản quyền cho đến các mã định danh thường trực cho vô số đối tượng – MoreBrains chỉ tìm thấy hai trường siêu dữ liệu được cung cấp và mô tả rõ ràng với mức độ áp dụng rộng rãi. Trong đại đa số các trường hợp còn lại, các trường siêu dữ liệu một là có sẵn nhưng bị dùng sai cách, hai là hoàn toàn trống trơn và không hề có cơ chế nào để giám sát mức độ tuân thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước thực trạng này, một chuỗi các buổi tham vấn cộng đồng đã được tổ chức. Diễn ra trong vài tháng cuối năm 2023, hoạt động này đã thu hút 145 đại diện đến từ hơn 40 tổ chức nghiên cứu trên toàn cầu, bao gồm các nhà xuất bản, đơn vị quản lý kho dữ liệu, nhà cung cấp hạ tầng/dịch vụ, v.v. Thông qua các buổi thảo luận bàn tròn, thảo luận nhóm và hội thảo, tổ chức MoreBrains đã mổ xẻ các thách thức, tìm kiếm giải pháp và xây dựng một lộ trình thực tế. Mục tiêu là giúp các tác giả nhận tài trợ của UKRI vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, vừa có thể chứng minh việc tuân thủ một cách dễ dàng nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cụ thể hơn, họ đề xuất rằng:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>UKRI cần đi đầu làm gương bằng cách đăng ký Mã số Tài trợ (Grant IDs) cho các khoản tài trợ nghiên cứu của riêng mình</li>



<li>Các bên liên quan nên hợp tác để thực hiện các chương trình tiếp cận và truyền thông có mục tiêu cụ thể</li>



<li>Các nguồn tài nguyên kỹ thuật hiện có nên được sử dụng bởi các nhà xuất bản, các nhà cung cấp công nghệ xuất bản, và cộng đồng lưu trữ dữ liệu.</li>



<li>Cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn về những rào cản trong việc tuân thủ quy định mà cộng đồng xuất bản và lưu trữ dữ liệu đang phải đối mặt</li>



<li>Cần phát triển các tiện ích mở rộng (plugins) dành cho các kho lưu trữ, chẳng hạn như để hỗ trợ việc tích hợp mã định danh thường trực</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Hầu hết những quá trình này sẽ cần sự đóng góp từ nhiều nhóm bên liên quan khác nhau, trong đó UKRI phải đóng vai trò của mình, ví dụ như tạo những can thiệp trực tiếp, tổ chức và vận hành các buổi trao đổi, thực hiện các nghiên cứu bổ sung, và đưa ra đề xuất để cập nhật những tiêu chuẩn và dịch vụ toàn cầu. Những đề xuất này sẽ mất nhiều thời gian để áp dụng, và đa số sẽ cần ý kiến, đóng góp, và nỗ lực của cộng đồng, nhưng chúng tôi đã xác nhận được một vài thành công nhỏ. Ví dụ như, ma trận PID này (được phát triển như một phần công việc chúng tôi thực hiện cho Ủy ban Cố vấn Định danh Bền vững Canada) cung cấp một hệ thống tiêu chí đánh giá mã định danh bền vững có thể được áp dụng bởi các quốc gia khác. Tương tự, một dự án ngắn hạn để xác định những đặc tính của một kho lưu trữ dữ liệu phù hợp sẽ là một bước tiến nhanh chóng và hiệu quả, và có thể được sử dụng bởi nhiều bên liên quan.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một buổi hội thảo trực tuyến vào tháng 9 về một bản báo cáo chúng tôi đã viết, các diễn giả Catriona McCallum (Wiley và OASPA), Melissa Harrison (Viện Tin sinh học Châu Âu), và Agustina Martinez-Garcia (Hội đồng Nghiên cứu và Lưu trữ Mở của Vương quốc Anh, hay được gọi là UKCORE) đã chia sẻ ý kiến của mình về những đề xuất này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bà Catriona bắt đầu bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng thiết yếu của tác động cộng đồng và việc chính sách của UKRI dựa vào từng cá nhân tham gia quá trình bàn luận nghiên cứu để tạo ra và chia sẻ siêu dữ liệu một cách nhất quán, đáng tin cậy, và được tiêu chuẩn hoá. Bà nhấn mạnh rằng không chỉ các nhà xuất bản và kho lưu trữ phải đóng vai trò của mình; các nhà tài trợ cũng có vị trí quan trọng cần thực hiện bằng cách thu thập siêu dữ liệu ngay từ lúc bắt đầu nghiên cứu. Và bà khen ngợi việc bản báo cáo tập trung vào cách tất cả các bên liên quan có thể hợp tác với nhau để đối mặt với những thách thức về siêu dữ liệu. Đồng thời, bà Catriona nhận thức rõ về việc các tổ chức nhỏ hơn và những tổ chức trong cộng đồng có nguồn lực hạn chế hơn sẽ khó khăn hơn để áp dụng những biện pháp thay đổi cần thiết. Cuối cùng, bà bày tỏ niềm hy vọng rằng UKRI sẽ dẫn đầu trong những nghiên cứu bổ sung cần thiết, cũng như thực hiện hai dự án tiếp theo được đề xuất về việc lựa chọn PID và các đặc điểm của một kho lưu trữ dữ liệu phù hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Diễn giả Melissa tập trung vào một số khía cạnh cụ thể của bản báo cáo. Đầu tiên, bà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng PIDs thay vì sử dụng Mã định danh tài liệu số (DOIs), vì hầu hết các cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực của bà đều sử dụng số hiệu truy cập thay vì DOI. Ví dụ, Cơ sở dữ liệu Nucleotide Châu Âu có hơn 3,8 tỷ số hiệu truy cập so với 164,24 triệu DOI đã đăng ký của Crossref (tại thời điểm đó). Vì vậy, mặc dù DOIs là giải pháp tốt nhất cho nhiều nhà xuất bản, nhưng, như bao điều khác, không có giải pháp nào phù hợp với tất cả. Tiếp đến, bà Melissa nêu lên vấn đề sử dụng giấy phép CC BY. Dù đã thừa nhận rằng việc tái sử dụng nghiên cứu có vô số vấn đề, nhưng bà nhấn mạnh rằng cơ sở hạ tầng mở và việc tái sử dụng nội dung mang lại lợi ích rõ ràng cho xã hội. Cuối cùng, bà Melissa nói về tầm quan trọng của các tiêu chuẩn trong việc đảm bảo một cách tiếp cận nhất quán toàn cầu. Bà tập trung cụ thể vào bộ thẻ đánh dấu dành cho bài báo tạp chí (Journal Article Tag Suite &#8211; JATS); các nhóm công tác tại đây, tập trung vào những yếu tố như DOI của các khoản tài trợ và chỉ số truy cập mở, giúp các nhà xuất bản gắn thẻ gắn thẻ ngữ nghĩa cho các ấn phẩm của mình theo cách thống nhất nhất có thể, từ đó một khối lượng nội dung lớn hơn có thể được tái sử dụng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bà Agustina phát biểu từ góc nhìn của UKCoRR, và bà chỉ ra rằng UKRI có thể dẫn đầu bằng một vài hoạt động liên quan trực tiếp đến quản lý kho lưu trữ dữ liệu. Tuy nhiên, giống như diễn giả Catriona, bà cũng lưu ý rằng nhiều tổ chức của họ đang phải đối mặt với tình hình tài chính eo hẹp, khiến cho việc thực hiện thêm công việc trở nên khó khăn. Bà Agustina nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận và giáo dục về PID và sự cần thiết của các hướng dẫn phù hợp về cách thức triển khai chúng, cũng như dự định tăng cường sự tham gia của lãnh đạo cấp cao tại các tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đầu tư vào PID. Bà đề xuất rằng mở rộng thông điệp này để nhấn mạnh sự cần thiết của việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho lưu trữ nói chung. Bà Agustina lưu ý rằng sự không đồng nhất trong các phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn siêu dữ liệu và việc tạo siêu dữ liệu trong các kho lưu trữ nói chung đang đặt ra nhiều thách thức. Bà cảm thấy UKRI có thể giúp đỡ bằng cách đề xuất và chứng thực việc áp dụng một khung tiêu chuẩn cụ thể, cũng như hỗ trợ kho lưu trữ của các tổ chức trong quá trình triển khai những tiêu chuẩn này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tất cả các diễn giả – cũng như chính UKRI – đều khẳng định rằng giá trị của công việc này không chỉ giới hạn trong phạm vi UKRI và các nhà xuất bản hay kho lưu trữ đang công bố các kết quả nghiên cứu do UKRI tài trợ. Một hệ sinh thái thông tin hoàn thiện hơn cũng sẽ mang lại lợi ích cho hoạt động nghiên cứu nói chung, chẳng hạn như tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu quả vận hành của các đơn vị xuất bản, và giảm gánh nặng hành chính cho các trường đại học. Quan trọng hơn, nhiều bài học rút ra từ quá trình phân tích chuyên sâu về những thách thức và cơ hội cải thiện liên quan đến việc triển khai kỹ thuật chính sách truy cập mở của UKRI cũng có thể được áp dụng cho các chính sách truy cập mở khác trên thế giới. Những bài học này sẽ góp phần mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu ở khắp mọi nơi.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2026/01/14/open-access-policies-the-devils-in-the-details/"><em>Scholarly Kitchen</em></a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1783087591"
	            data-title="Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/">Chính sách Truy cập Mở – Thành bại tại chi tiết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/chinh-sach-truy-cap-mo-thanh-bai-tai-chi-tiet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khi quyền trả phí xuất bản trở thành một thứ để mặc cả</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/khi-quyen-tra-phi-xuat-ban-tro-thanh-mot-thu-de-mac-ca/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/khi-quyen-tra-phi-xuat-ban-tro-thanh-mot-thu-de-mac-ca/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 14 May 2026 15:34:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên cứu mới]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3086</guid>

					<description><![CDATA[<p>Truy cập mở, hay Open Access, từ lâu đã được trình bày như một câu chuyện về sự công bằng. Ý tưởng ban đầu rất rõ ràng và đáng ủng hộ: kết quả nghiên cứu, phần lớn được tạo ra bằng tiền công, nên được mọi người đọc miễn phí, thay vì nằm sau những [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khi-quyen-tra-phi-xuat-ban-tro-thanh-mot-thu-de-mac-ca/">Khi quyền trả phí xuất bản trở thành một thứ để mặc cả</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Truy cập mở, hay Open Access, từ lâu đã được trình bày như một câu chuyện về sự công bằng. Ý tưởng ban đầu rất rõ ràng và đáng ủng hộ: kết quả nghiên cứu, phần lớn được tạo ra bằng tiền công, nên được mọi người đọc miễn phí, thay vì nằm sau những bức tường phí đăng ký đắt đỏ. Để hiện thực hóa điều đó trong mô hình phổ biến nhất hiện nay, ai đó phải trả một khoản phí xử lý bài báo, thường gọi tắt là APC, và khoản này với nhiều tạp chí dao động từ vài trăm tới vài nghìn đô la cho một bài (Borrego, 2023).</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-1024x683.png" alt="" class="wp-image-3087" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/05/image-8-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://pix4free.org/photo/8166/open-source.html">Open Source</a> via pix4free | CC BY-SA 3.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Một bài viết công bố tháng 4 năm 2026 trên tạp chí Accountability in Research, của nhóm Giovanni Spitale, Federico Germani và Nikola Biller-Andorno thuộc Đại học Zurich, chỉ ra rằng chính cơ chế tài chính tưởng như trung lập này đang tạo ra một rủi ro liêm chính ít được nói tới. Họ gọi nó là sự trích rút giá trị trong truy cập mở (value extraction in Open Access) và định nghĩa là việc dùng quyền tiếp cận nguồn chi trả phí APC như một đòn bẩy để giành quyền tác giả, hoặc quyền tác giả liên hệ, mà không có đóng góp trí tuệ tương xứng (Spitale et al., 2026).</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Một cơ chế, không phải vài cá nhân</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Lập luận của nhóm tác giả bắt đầu từ một thay đổi cấu trúc. Khi phí APC còn do từng nhà nghiên cứu hoặc nhà tài trợ của họ trực tiếp chi trả, mô hình đó tuy bất công nhưng minh bạch, và quan trọng hơn, nó tách bạch khá rõ trách nhiệm tài chính với câu chuyện ai xứng đáng được đứng tên (Spitale et al., 2026). Người đọc nhìn vào là biết ai trả tiền, và việc trả tiền không bị nhầm lẫn với việc đóng góp ý tưởng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các thỏa thuận giữa nhà xuất bản và các trường đại học đã làm thay đổi bức tranh đó. Phí APC ngày càng được chi trả ở cấp tổ chức, được quản lý tập trung và thường vô hình với từng tác giả. Hệ quả, theo nhóm tác giả, là quyền tiếp cận nguồn tiền này biến thành một loại tài sản của tổ chức, một dạng vốn học thuật phân bố không đều giữa các cơ sở, các quốc gia và các giai đoạn sự nghiệp (Spitale et al., 2026). Người làm việc tại một trường có thỏa thuận tốt có thể xuất bản gần như không vướng bận gì về chi phí. Người ở một trường nhỏ hơn, hoặc ở khu vực Nam bán cầu, thì không như vậy (Kwon, 2022).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ chênh lệch đó nảy sinh một logic giao dịch. Quyền chi trả phí APC có thể được đưa ra như một đóng góp đủ để biện minh cho việc đứng tên, hoặc để nắm quyền kiểm soát quá trình xuất bản. Nhóm tác giả nhấn mạnh rằng vị trí tác giả liên hệ đặc biệt dễ bị nhắm tới. Đây là đầu mối làm việc với nhà xuất bản, với ban biên tập và với quy trình thanh toán APC, đồng thời là vị trí mang ý nghĩa biểu trưng về vai trò dẫn dắt và quyền sở hữu công trình. Khi vị trí ấy được trao chủ yếu vì một người lo được khoản phí, ranh giới giữa hỗ trợ hậu cần và lãnh đạo trí tuệ trở nên mờ nhạt (Spitale et al., 2026).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điểm mấu chốt trong cách nhìn của họ là không nên quy hiện tượng này về vài cá nhân cá biệt. Nó được nuôi dưỡng bởi cả một cấu trúc gồm ba yếu tố hội tụ. Văn hóa công bố hay là chết tưởng thưởng số lượng bài và uy tín tạp chí. Các thỏa thuận Open Access tập trung quyền xuất bản về cấp tổ chức. Và các vị trí tác giả, nhất là tác giả liên hệ, mang giá trị biểu trưng cũng như giá trị sự nghiệp lớn một cách không cân xứng (Hicks et al., 2015; Spitale et al., 2026). Khi ba yếu tố này gặp nhau, quyền tác giả có nguy cơ trở thành một thứ tiền tệ có thể tích lũy và đem trao đổi.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Một khoảng trống trong các bộ quy tắc</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một phần khiến hiện tượng này khó xử lý là các bộ quy tắc hiện hành về quyền tác giả không được thiết kế để nhìn thấy nó. Hướng dẫn của ICMJE và COPE đều giới hạn tư cách tác giả ở đóng góp trí tuệ và loại trừ rõ ràng đóng góp tài chính, dựa trên một giả định rằng chuyện tiền bạc nằm bên ngoài các thương lượng về quyền tác giả (Spitale et al., 2026). Giả định đó từng hợp lý. Nhưng khi quyền tiếp cận hạ tầng tài chính trở thành một dạng quyền lực có khả năng định hình một cách hệ thống ai được đứng tên, thì việc đơn giản loại trừ đóng góp tài chính khỏi định nghĩa lại khiến các bộ quy tắc bỏ sót chính cơ chế đang vận hành.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là điều mà nhóm tác giả mô tả như một điểm mù đạo đức. Các hệ thống đánh giá thường tưởng thưởng kết quả đầu ra, gồm số bài, số trích dẫn, uy tín tạp chí, nhưng gần như không xét tới quá trình tạo ra những kết quả đó, cụ thể là các vị trí tác giả đã được giành lấy bằng cách nào (Moher et al., 2018; Spitale et al., 2026). Trong khoảng trống giữa việc tuân thủ về mặt hình thức và sự công bằng về mặt thực chất, một hành vi có thể hoàn toàn đúng câu chữ của quy định mà vẫn khai thác được sự bất cân xứng của hệ thống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hệ quả phân bổ của hiện tượng này cũng đáng lưu tâm. Những người dễ tổn thương nhất, theo nhóm tác giả, là các nhà nghiên cứu trẻ chịu sức ép công bố lớn nhưng có ít vị thế thương lượng; các nhà nghiên cứu ở những cơ sở thiếu nguồn lực; và giới học giả ở Nam bán cầu, nơi việc được hỗ trợ phí APC vẫn còn chắp vá bất chấp những lời lẽ về tính bao trùm toàn cầu (Spitale et al., 2026). Trong những bối cảnh đó, một lời mời được gói trong ngôn ngữ hỗ trợ hoặc hợp tác trên thực tế có thể là một lựa chọn mang tính ép buộc: chấp nhận một thỏa thuận đứng tên bất cân xứng, hoặc chịu thiệt về cơ hội công bố. Nhóm tác giả lưu ý rằng điều này có nguy cơ tái tạo lại đúng cái động lực mà Open Access lẽ ra muốn xóa bỏ, khi lao động trí tuệ chảy từ vùng ngoại vi còn tín nhiệm thì dồn về những nơi kiểm soát hạ tầng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Vấn đề không nằm ở Open Access</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Cần nói rõ một điều mà chính nhóm tác giả cũng nhấn mạnh. Vấn đề không phải là Open Access, mà là cách việc thể chế hóa nó có thể bị khai thác trong một hệ thống khuyến khích đang lệch (Spitale et al., 2026). Phần lớn các thỏa thuận hỗ trợ phí xuất bản ra đời với mục tiêu chính đáng, và rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng chúng một cách hoàn toàn ngay thẳng. Điều bài viết chỉ ra là một rủi ro mang tính cấu trúc, chứ không phải một cáo buộc nhắm vào mô hình hay vào bất kỳ ai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhóm tác giả đề xuất các biện pháp ở ba cấp độ. Ở cấp cơ sở, các trường và viện có thể nêu rõ rằng việc tiếp cận nguồn chi trả phí APC, hay việc hỗ trợ thủ tục xuất bản, tự nó không đủ để biện minh cho tư cách tác giả nếu thiếu đóng góp trí tuệ thực chất. Một cách làm cụ thể là tách bạch về quy trình, sao cho phần kê khai đóng góp của từng tác giả được xem xét độc lập với khâu phê duyệt kinh phí, và ghi nhận vai trò các tác giả từ sớm bằng một khung phân vai chuẩn như CRediT, trước khi bàn tới chuyện ai lo phí (Allen et al., 2019; Spitale et al., 2026).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ở cấp nhà xuất bản, nhóm tác giả lưu ý rằng các nhà xuất bản, nhờ nhìn được mẫu hình tác giả trải rộng nhiều tạp chí và nhiều cơ sở, có vị trí thuận lợi để nhận ra những bất thường có hệ thống mà từng cơ sở khó thấy. Họ cũng có thể đưa vào những tuyên bố minh thị rằng việc chi trả phí APC không đóng vai trò gì trong các quyết định về quyền tác giả, dù bản thân nhóm tác giả thừa nhận những tuyên bố như vậy chủ yếu có tác dụng thiết lập chuẩn mực hơn là răn đe mạnh (Spitale et al., 2026).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ở cấp hệ thống, điểm mấu chốt vẫn quay về cách đánh giá. Chừng nào một công bố, và cụ thể hơn là một vị trí tác giả liên hệ, còn được dùng quá trực tiếp làm thước đo cho năng lực và vai trò lãnh đạo trong tuyển dụng, thăng tiến và cấp kinh phí, chừng đó vẫn còn động lực để biến quyền kiểm soát hạ tầng xuất bản thành lợi thế về mặt chỉ số (Spitale et al., 2026). Các phong trào cải cách đánh giá nghiên cứu, như DORA, được nhóm tác giả nhắc tới như một hướng nên tích hợp thêm những biện pháp tách quyền tiếp cận hạ tầng ra khỏi tín nhiệm học thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối cùng, nhóm tác giả nhắc rằng mô hình thu phí APC chỉ là một nhánh trong cả một hệ sinh thái truy cập mở. Vẫn còn những hướng khác, như mô hình kim cương không thu phí tác giả, hay việc phổ biến qua các kho lưu trữ, có thể giảm bớt mức độ mà hạ tầng xuất bản bị biến thành một nguồn lực để mặc cả (Spitale et al., 2026).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cũng cần cẩn trọng ở chiều ngược lại. Nghiên cứu của nhóm Zurich chủ yếu mang tính khái niệm. Nó nêu ra một rủi ro và lý giải cơ chế, chứ chưa đo lường mức độ phổ biến của hiện tượng. Bản thân các tác giả nói rõ rằng các dấu hiệu bất thường trong mẫu hình đồng tác giả, chẳng hạn những liên kết hợp tác thưa thớt hoặc sự tập trung lặp lại của vị trí tác giả liên hệ, không phải là bằng chứng của sai phạm, bởi chúng cũng có thể phản ánh hợp tác liên ngành hợp lệ, các consortium lớn, hoặc đơn thuần là lỗi dữ liệu trong việc định danh tác giả (Spitale et al., 2026). Họ đề xuất rằng những tín hiệu như vậy chỉ nên được dùng như bước sàng lọc ban đầu cho một quá trình kiểm tra kỹ hơn, chứ không phải để kết luận.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giá trị của bài viết nằm ở chỗ nó đặt tên cho một cơ chế sớm, khi hiện tượng còn chưa kịp trở thành một nếp quen khó gỡ. Open Access được xây dựng để tháo bỏ rào cản và mở rộng sự tiếp cận. Việc nó được triển khai trong những hệ thống đánh giá nặng về chỉ số, và không mấy để ý tới quyền lực gắn với hạ tầng, có thể khiến nó vô tình củng cố lại chính những thứ bậc mà nó muốn xóa bỏ. Nhìn thấy điều đó trước vẫn tốt hơn là nhận ra nó sau.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Allen, L., O&#8217;Connell, A., &amp; Kiermer, V. (2019). <a href="https://doi.org/10.1002/leap.1210">How can we ensure visibility and diversity in research contributions? How the Contributor Role Taxonomy (CRediT) is helping the shift from authorship to contributorship</a>. <em>Learned Publishing, 32</em>(1), 71–74.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Borrego, Á. (2023). <a href="https://doi.org/10.1002/leap.1558">Article processing charges for open access journal publishing: A review</a>. <em>Learned Publishing, 36</em>(3), 359–378. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Hicks, D., Wouters, P., Waltman, L., de Rijcke, S., &amp; Rafols, I. (2015). <a href="https://doi.org/10.1038/520429a">Bibliometrics: The Leiden Manifesto for research metrics</a>. <em>Nature, 520</em>(7548), 429–431. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Kwon, D. (2022, ngày 16 tháng 2). <a href="https://doi.org/10.1038/d41586-022-00342-w">Open-access publishing fees deter researchers in the Global South</a>. <em>Nature</em>. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Moher, D., Naudet, F., Cristea, I. A., Miedema, F., Ioannidis, J. P. A., &amp; Goodman, S. N. (2018). <a href="https://doi.org/10.1371/journal.pbio.2004089">Assessing scientists for hiring, promotion, and tenure</a>. <em>PLoS Biology, 16</em>(3), e2004089. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Spitale, G., Germani, F., &amp; Biller-Andorno, N. (2026). <a href="https://doi.org/10.1080/08989621.2026.2661668">The phenomenon of &#8216;value extraction&#8217; in Open Access</a>. <em>Accountability in Research</em>. </p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo,nghien-cuu-moi" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1778798074"
	            data-title="Khi quyền trả phí xuất bản trở thành một thứ để mặc cả" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khi-quyen-tra-phi-xuat-ban-tro-thanh-mot-thu-de-mac-ca/">Khi quyền trả phí xuất bản trở thành một thứ để mặc cả</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/khi-quyen-tra-phi-xuat-ban-tro-thanh-mot-thu-de-mac-ca/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đi thật xa để trở về với Wikipedia</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/di-that-xa-de-tro-ve-voi-wikipedia/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/di-that-xa-de-tro-ve-voi-wikipedia/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Jan 2026 07:09:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2962</guid>

					<description><![CDATA[<p>Wikipedia vừa tròn 25 tuổi. Bách khoa toàn thư lớn nhất thế giới đã kỷ niệm sinh nhật vào ngày 15 tháng 1. Đây là một cột mốc đáng chú ý, không chỉ vì website này đã tồn tại bền bỉ và vẫn giữ vai trò quan trọng, mà còn vì Wikipedia vẫn trung thành [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/di-that-xa-de-tro-ve-voi-wikipedia/">Đi thật xa để trở về với Wikipedia</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Wikipedia vừa tròn 25 tuổi. Bách khoa toàn thư lớn nhất thế giới đã kỷ niệm sinh nhật vào ngày 15 tháng 1. Đây là một cột mốc đáng chú ý, không chỉ vì website này đã tồn tại bền bỉ và vẫn giữ vai trò quan trọng, mà còn vì Wikipedia vẫn trung thành với những giá trị ban đầu. Những giá trị đó đáng được nhắc lại: Wikipedia miễn phí cho mọi người sử dụng, khuyến khích sự tham gia rộng rãi và hướng tới tính minh bạch cao trong nội dung. Khoảng 65 triệu bài viết của nền tảng này (và vẫn đang tăng) đều kèm theo nguồn tài liệu để người dùng có thể kiểm chứng. “Wikipedia là sự tôn vinh của tri thức chuyên môn,” đồng sáng lập Jimmy Wales nói trong một cuộc phỏng vấn với Nature ngày 12 tháng 1.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-1024x768.png" alt="" class="wp-image-2963" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-1024x768.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-300x225.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-768x576.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-1536x1152.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-12-2048x1536.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@veryinformed?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Oberon Copeland @veryinformed.com</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/a-computer-screen-with-a-list-EtCxIuaG-zU?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Sự cam kết với bằng chứng và minh bạch ấy rất đáng được ghi nhận và ủng hộ, đặc biệt trong bối cảnh tri thức đang đối mặt với nhiều mối đe dọa. Khi thuật toán mạng xã hội tiếp tay cho các quan điểm cực đoan, và Internet tràn ngập thông tin kém chất lượng, ngày càng nhiều nội dung còn được tạo ra bằng AI, thế giới cần Wikipedia nhiều không kém, thậm chí còn hơn so với thời điểm nền tảng này ra đời.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đầu thế kỷ 21 là giai đoạn tràn đầy lạc quan về sức mạnh của Internet trong việc chia sẻ tri thức và đưa thông tin đến với số đông. Lần đầu tiên trong lịch sử, một công nghệ có thể mang toàn bộ kho tàng hiểu biết của nhân loại đến bất kỳ ai, chỉ cần có kết nối mạng. Người ở doanh nghiệp, gia đình, thư viện công cộng, trường học hay đại học đều có thể tiếp cận những điều trước đây chỉ dành cho một nhóm nhỏ. Các công cụ tìm kiếm như AltaVista, Yahoo và Google trở thành con đường chính để khám phá tri thức. Amazon cũng góp phần trong vai trò nhà bán sách trực tuyến. Và Wikipedia cũng xuất hiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn trên màn hình, trang chủ Wikipedia đến nay vẫn chủ yếu là chữ. Nhưng sự đơn giản đó dễ gây nhầm lẫn. Trang này dẫn tới hơn 300 phiên bản ngôn ngữ khác nhau. Tương tự trang chủ gọn gàng của Google, một thanh tìm kiếm mở ra cả thế giới với hàng triệu bài viết. Riêng phiên bản tiếng Anh đã có khoảng 500 bài mới mỗi ngày. Và đó còn chưa kể Wiktionary, Wikidata hay Wikimedia, những dự án đi kèm cung cấp từ điển đa ngôn ngữ, dữ liệu mở và kho hình ảnh, âm thanh, video miễn phí.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quỹ Wikimedia, tổ chức phi lợi nhuận tại San Francisco điều hành Wikipedia, có khoảng 700 nhân viên. Tuy nhiên, phần lớn trong gần 280.000 biên tập viên thường xuyên lại là tình nguyện viên. Để duy trì một dự án hợp tác quy mô lớn như vậy, Wikipedia đã phát triển các nguyên tắc làm việc được tóm gọn trong năm “trụ cột”. Nổi tiếng nhất là nguyên tắc “quan điểm trung lập”. Nguyên tắc này yêu cầu biên tập viên phải chính xác và công bằng. Ví dụ, bài viết về biến đổi khí hậu khẳng định rõ sự nóng lên toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ hoạt động của con người, nhưng đồng thời cũng đề cập đến các thông tin sai lệch dẫn đến việc phủ nhận biến đổi khí hậu. Trụ cột này gắn liền với một nguyên tắc quan trọng khác: khả năng kiểm chứng. Mỗi thông tin hay nhận định đều phải dựa trên nguồn đáng tin cậy đã được công bố. Wikipedia tự nó không thể được xem là nguồn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mỗi bài viết cũng có một trang “thảo luận”, nơi người dùng có thể theo dõi trao đổi giữa các biên tập viên và thấy được nội dung đã thay đổi ra sao theo thời gian. Điều đó cho thấy bài viết luôn là một cuộc đối thoại đang tiếp diễn, chứ không phải lời kết luận cuối cùng. Các biên tập viên đến từ nhiều nền tảng và quan điểm khác nhau, nên tranh luận là điều không tránh khỏi. Wikipedia cũng yêu cầu mọi người phải tôn trọng và giữ thái độ văn minh. Một nghiên cứu cho thấy cách xuất bản này đang tạo ra thông tin chất lượng cao.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều quy trình của Wikipedia phản ánh đúng cách tri thức khoa học nên được hình thành, hoàn thiện và truyền đạt. Vì vậy, chúng tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu, nếu chưa tham gia, hãy cân nhắc đóng góp cho Wikipedia. Những biên tập viên công bằng, có hiểu biết về bằng chứng và giữ được tinh thần văn minh đang rất cần thiết, nhất là khi truyền thông mạng xã hội và các kênh khác ngày càng phân cực, còn bằng chứng thì ngày càng được đưa ra thiếu minh bạch.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc các công cụ tìm kiếm hiển thị tóm tắt do AI tạo ra đang khiến website này kém nổi bật hơn trước. Đây có thể trở thành mối đe dọa sống còn đối với nền tảng. Nhiều mô hình AI đứng sau các kết quả tìm kiếm này đã được huấn luyện từ chính nội dung Wikipedia, thường không ghi nhận hay bồi thường. Đầu tháng này, Quỹ Wikimedia thông báo đang làm việc với các công ty công nghệ để đảm bảo nội dung của họ được sử dụng có trách nhiệm và có sự đền bù phù hợp. Wikipedia chủ yếu tồn tại nhờ các khoản đóng góp nhỏ từ khoảng tám triệu nhà tài trợ mỗi năm. Jimmy Wales từng nói rằng “họ không quyên góp để trợ cấp cho những tập đoàn AI khổng lồ”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Wikipedia, xét trên mọi phương diện, là một thành tựu đặc biệt. Và nó xứng đáng nhận được sự ủng hộ bằng mọi cách có thể.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-026-00074-1">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo,the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1769695783"
	            data-title="Đi thật xa để trở về với Wikipedia" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/di-that-xa-de-tro-ve-voi-wikipedia/">Đi thật xa để trở về với Wikipedia</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/di-that-xa-de-tro-ve-voi-wikipedia/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khoa học mở có thực sự mang lại lợi ích?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-mo-co-thuc-su-mang-lai-loi-ich/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-mo-co-thuc-su-mang-lai-loi-ich/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 23 Jan 2026 20:10:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2951</guid>

					<description><![CDATA[<p>Việc đo lường các tác động xã hội và kinh tế của việc miễn phí hóa bài báo và dữ liệu là điều không hề đơn giản, các nhà nghiên cứu cho biết. Phong trào khoa học mở, với mục tiêu giúp các sản phẩm nghiên cứu như bài báo, dữ liệu và phần mềm [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-mo-co-thuc-su-mang-lai-loi-ich/">Khoa học mở có thực sự mang lại lợi ích?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Việc đo lường các tác động xã hội và kinh tế của việc miễn phí hóa bài báo và dữ liệu là điều không hề đơn giản, các nhà nghiên cứu cho biết.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="682" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9-682x1024.png" alt="" class="wp-image-2952" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9-682x1024.png 682w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9-200x300.png 200w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9-768x1152.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9-1024x1536.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-9.png 1287w" sizes="(max-width: 682px) 100vw, 682px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@nickolasnikolic?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Nickolas Nikolic</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/gold-padlock-on-brown-wooden-surface-H-HEAERo_fk?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Phong trào khoa học mở, với mục tiêu giúp các sản phẩm nghiên cứu như bài báo, dữ liệu và phần mềm được đọc và tái sử dụng miễn phí, được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều lợi ích, như đẩy nhanh tiến bộ khoa học và nâng cao hiểu biết khoa học trong xã hội. Nhưng liệu những lợi ích đó có thực sự xuất hiện? Theo một trong những nghiên cứu toàn diện và đa chiều nhất về chủ đề này, câu trả lời là “có, nhưng ở mức độ hạn chế”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chẳng hạn, các bài báo truy cập mở thường được trích dẫn nhiều hơn trong các công trình khoa học khác cũng như trong các hồ sơ xin cấp bằng sáng chế. Bên cạnh đó, những người dân tham gia nghiên cứu — thường được gọi là “nhà khoa học công dân” — có xu hướng hiểu sâu hơn về chủ đề mà họ tham gia nhờ các thực hành khoa học mở.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là một số kết luận chính được công bố vào tháng trước từ dự án Open Science Impact Pathways (PathOS). Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu liên ngành có trụ sở tại châu Âu cũng nhấn mạnh rằng họ chỉ tìm thấy rất ít bằng chứng thuyết phục cho thấy khoa học mở trực tiếp tạo ra các tác động lâu dài, trên diện rộng đối với hoạt động nghiên cứu, cũng như mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các học giả nghiên cứu về khoa học mở đánh giá cao công trình của PathOS, được trình bày trong một loạt báo cáo tổng kết. “Không nhiều nghiên cứu có thể đưa ra một bức tranh toàn cảnh 360 độ về ý nghĩa thực sự của khoa học mở,” Lidia Borrell-Damián, tổng thư ký của Science Europe — hiệp hội các tổ chức tài trợ nghiên cứu tại châu Âu — nhận xét. Bà cho rằng đây là “một phân tích rất trung thực”, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những khoảng trống còn tồn tại trong bằng chứng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Ioanna Grypari, điều phối viên dự án PathOS và là nhà kinh tế học tại Trung tâm Nghiên cứu Athena (Athens, Hy Lạp), nhóm nghiên cứu cũng bất ngờ khi không tìm thấy nhiều bằng chứng rõ ràng hơn về lợi ích có thể đo lường của nội dung mở. Tuy nhiên, bà cho biết việc xác định tác động riêng của việc cho phép truy cập tự do đối với một bài báo hay bộ dữ liệu là rất khó, bởi những tác động này thường đan xen với các yếu tố khác, như chất lượng nghiên cứu. Các thử nghiệm có đối chứng hầu như không tồn tại, và người dùng các kho lưu trữ công cộng thường không để lại thông tin về danh tính hay cách họ sử dụng tài nguyên. Dù vậy, Grypari nói rằng đến cuối dự án, nhóm đã xác định rõ hơn “chúng ta chưa biết gì và cần nghiên cứu tiếp theo hướng nào”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong hơn hai thập kỷ qua, những người ủng hộ khoa học mở liên tục nhấn mạnh lợi ích của nó, và các tác giả đã chi trả hàng tỷ đô la cho các nhà xuất bản để bài báo được truy cập mở. Hiện nay, khoảng một nửa số bài báo khoa học mới được công bố có thể đọc miễn phí ngay lập tức — tăng từ chưa đến một phần tư vào năm 2000. Ngoài ra, nhiều nguồn lực cũng được đầu tư để xây dựng các kho dữ liệu công cộng, từ dữ liệu protein đến trầm tích đáy biển. Tuy nhiên, ngày càng nhiều nhà hoạch định chính sách, đặc biệt ở châu Âu, đặt câu hỏi liệu những khoản đầu tư này có mang lại hiệu quả tương xứng hay không.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo các học giả, PathOS đã mở ra một cách tiếp cận mới bằng việc kết hợp các phân tích định lượng quy mô lớn và tổng quan tài liệu với các phương pháp định tính chi tiết, như thảo luận nhóm và sáu nghiên cứu tình huống đa dạng. Ví dụ, một nhóm nghiên cứu đã phân tích người dùng kho lưu trữ HAL của Pháp thông qua nhật ký máy chủ, cho thấy người truy cập đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau — bao gồm công nghệ thông tin, hành chính công và xuất bản — và tổng số lượt truy cập từ các ngành này gần tương đương với các cơ sở giáo dục.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Tôi thực sự ấn tượng với PathOS như một phương pháp phân tích kết nối được quy mô nhỏ với quy mô lớn, và cái địa phương với cái tổng thể,” Cameron Neylon, một nhà nghiên cứu độc lập liên kết với Đại học Curtin, người không tham gia dự án, nhận xét.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Năm 2021, UNESCO kêu gọi cộng đồng quốc tế đo lường tác động của khoa học mở. Tuy nhiên, theo Tony Ross-Hellauer, nhà khoa học thông tin tại Know-Center (Áo), phần lớn các nghiên cứu hiện nay còn quá ngắn hạn và tập trung chủ yếu vào những chỉ số dễ đo, như số lượng trích dẫn hoặc tỷ lệ bài báo truy cập mở. “Chúng ta cần ngừng đo những gì dễ đo và bắt đầu tìm kiếm những điều thực sự quan trọng,” ông nhấn mạnh tại một hội nghị UNESCO vào tháng 7.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để bổ sung bằng chứng còn thiếu, một số nghiên cứu tình huống của PathOS (bắt đầu từ năm 2022) đã thử nghiệm các cách tiếp cận mới nhằm đo lường tác động nghiên cứu, kinh tế và xã hội ở giai đoạn sau của tài nguyên mở. Chẳng hạn, một nghiên cứu phân tích hơn 115.000 bài báo về COVID-19 được công bố trong giai đoạn 2020–2021 có chia sẻ dữ liệu hoặc mã phần mềm mở. Những bài mà có bằng chứng cho thấy dữ liệu hoặc mã được tái sử dụng — sau khi đã kiểm soát nhiều yếu tố khác — trung bình được trích dẫn nhiều hơn trong các hồ sơ xin bằng sáng chế, và các tác giả cũng có nhiều hợp tác với doanh nghiệp hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, những bài báo này lại không nhận thêm trích dẫn từ các hướng dẫn lâm sàng hoặc báo cáo thử nghiệm lâm sàng. Nhóm PathOS cho rằng điều này có thể phản ánh sự thận trọng của giới lâm sàng khi sử dụng các kết quả nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến an toàn bệnh nhân. Dù vậy, một nhóm nhỏ các bài có chất lượng cao và được công bố sớm trong đại dịch vẫn nhận được nhiều trích dẫn hơn, ngay cả trong các báo cáo thử nghiệm. Điều này cho thấy dữ liệu hoặc mã mở “đóng vai trò khuếch đại tác động của nghiên cứu chất lượng cao, hơn là tự thân tạo ra tác động”, theo kết luận của nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dự án PathOS cũng chỉ ra rằng việc bắt buộc áp dụng khoa học mở có thể mang lại hệ quả tiêu cực — thể hiện qua những phàn nàn ngày càng nhiều về các khoản phí mà tác giả hoặc nhà tài trợ phải chi trả để bài báo được đọc miễn phí. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy một số bằng chứng cho thấy dữ liệu mở có thể mang lại lợi ích tài chính. Một nghiên cứu về cơ sở dữ liệu UniProt cho thấy người dùng tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với công sức họ bỏ ra để truy cập và cập nhật dữ liệu. Lợi ích ròng ước tính đạt từ 3.513 đến 5.475 euro mỗi người dùng mỗi năm, và tổng giá trị thời gian tiết kiệm được cao gấp bảy lần thời gian đã đầu tư.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những kết quả này cho thấy nhu cầu cải thiện việc tuyển chọn và quản lý dữ liệu, bởi mức độ dễ sử dụng của các bộ dữ liệu hiện nay rất khác nhau, theo Grypari. Nhiều bộ dữ liệu còn thiếu mã phần mềm và thông tin cần thiết để người dùng có thể khai thác hiệu quả.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ameet Doshi, thủ thư tại Đại học Princeton, cho rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu như PathOS để hiểu rõ ai đang sử dụng các kho bài báo và dữ liệu công cộng, cũng như cách họ sử dụng chúng. “Việc sử dụng thông tin rất đa dạng và phụ thuộc mạnh vào bối cảnh,” ông nói. Trong một nghiên cứu năm 2022, Doshi và cộng sự phân tích hơn 1 triệu bình luận của người tải báo cáo từ Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ, và phát hiện rằng hơn một nửa số báo cáo được dùng cho các mục đích ngoài nghiên cứu, như hỗ trợ cựu chiến binh xin trợ cấp hoặc giúp các tuyên úy bệnh viện cải thiện công việc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để hỗ trợ các tổ chức tài trợ và cơ sở nghiên cứu đánh giá tác động của khoa học mở một cách nhất quán hơn, PathOS đã xây dựng một sổ tay gồm 31 chỉ số. Tuy nhiên, các trưởng nhóm dự án cho biết vẫn còn nhiều chỉ số cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt là các chỉ số liên kết khoa học mở với tăng trưởng kinh tế và các lợi ích xã hội rộng hơn, như phát triển các phương pháp điều trị y khoa mới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Doshi nhận định rằng việc đánh giá lợi ích và hạn chế của khoa học mở ngày càng trở nên quan trọng, trong bối cảnh công chúng ngày càng mong muốn được tiếp cận tự do với tri thức khoa học. “Việc mở rộng khả năng tiếp cận với các nghiên cứu đáng tin cậy có thể giúp giảm bớt những mặt tiêu cực của môi trường thông tin hiện nay, như ‘bong bóng lọc’ và mạng xã hội,” ông nói. Theo ông, PathOS là “một khởi đầu rất tốt” cho việc quan tâm nhiều hơn đến tác động và bối cảnh sử dụng của khoa học mở.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.science.org/content/article/open-science-delivering-benefits-major-study-finds-proof-sparse">Science</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1769224203"
	            data-title="Khoa học mở có thực sự mang lại lợi ích?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-mo-co-thuc-su-mang-lai-loi-ich/">Khoa học mở có thực sự mang lại lợi ích?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-mo-co-thuc-su-mang-lai-loi-ich/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tôi và nhà xuất bản hàng đầu thế giới cạch mặt!</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/toi-va-nha-xuat-ban-hang-dau-the-gioi-cach-mat/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/toi-va-nha-xuat-ban-hang-dau-the-gioi-cach-mat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 18 Jan 2026 21:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<category><![CDATA[Kỹ năng nghiên cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2918</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nhiều học giả Việt Nam gần đây truy cập trang của Sage thì phát hiện mình không thể vào được nữa. Trang web hiện thông báo không cho phép truy cập, hoặc đơn giản là không tải được nội dung. Điều này khiến nhiều người lo lắng và đặt câu hỏi liệu mình có làm [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/toi-va-nha-xuat-ban-hang-dau-the-gioi-cach-mat/">Tôi và nhà xuất bản hàng đầu thế giới cạch mặt!</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Nhiều học giả Việt Nam gần đây truy cập trang của Sage thì phát hiện mình không thể vào được nữa. Trang web hiện thông báo không cho phép truy cập, hoặc đơn giản là không tải được nội dung. Điều này khiến nhiều người lo lắng và đặt câu hỏi liệu mình có làm gì sai, có bị theo dõi hay có bị ảnh hưởng gì lâu dài đến việc học tập và nghiên cứu hay không. Thực tế, trong hầu hết các trường hợp, chuyện này không phải do lỗi cá nhân của người dùng và cũng không phải vì bạn bị nhắm đến một cách riêng lẻ. Nguyên nhân nằm ở cách các nhà xuất bản học thuật lớn, trong đó có Sage, quản lý và bảo vệ hệ thống truy cập của họ.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="678" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.24.46-1024x678.png" alt="" class="wp-image-2919" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.24.46-1024x678.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.24.46-300x199.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.24.46-768x509.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.24.46.png 1304w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Minh hoạ đường truyền mạng bị Sage chặn</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Có thể hình dung đơn giản rằng mỗi đường mạng truy cập vào Sage sẽ được xem như một mã định danh. Đường mạng này có thể là mạng cá nhân, mạng từ quán cà phê, mạng từ trường đại học&#8230; Khi có dấu hiệu cho thấy đường truy cập này bị sử dụng theo cách mà nhà xuất bản không cho phép, họ sẽ truy ra và chặn mã định danh của đường truyền ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sci-hub hoạt động bằng cách lấy bài báo trực tiếp từ các trang xuất bản học thuật. Các nhà xuất bản biết rõ điều này và luôn giám sát hệ thống của họ để phát hiện những cách truy cập bất thường. Khi họ nhận thấy có quá nhiều bài bị lấy trong thời gian ngắn, hoặc các yêu cầu truy cập không giống với hành vi đọc bình thường của con người, hệ thống sẽ tự động kích hoạt cơ chế chặn.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="597" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-1024x597.png" alt="" class="wp-image-2920" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-1024x597.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-300x175.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-768x448.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-1536x895.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.25.49-2048x1194.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Trang chủ Sci-hub</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Điều quan trọng là hệ thống này không phân biệt được đâu là Sci-hub, đâu là người dùng bình thường. Nó chỉ nhìn thấy rằng đường truy cập đó có liên quan đến việc lấy bài không hợp lệ. Vì vậy, nếu nhà khoa học tình cờ sử dụng cùng đường truy cập đó, họ cũng sẽ bị chặn theo, dù bản thân không hề có ý định hay hành vi gì sai. Việc bị chặn thường xảy ra ngay sau khi truy cập Sci-hub là vì các tín hiệu bất thường xuất hiện rất rõ trong khoảng thời gian ngắn. Hệ thống của Sage được thiết kế để phản ứng nhanh và hoàn toàn tự động, giống như một cánh cửa cuốn đóng lại ngay khi phát hiện dấu hiệu không an toàn, mà không cần con người ngồi kiểm tra từng trường hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều người lo rằng mình có bị ghi sổ đen hay bị theo dõi cá nhân hay không. Trong thực tế, điều này hầu như không xảy ra. Việc chặn chỉ áp dụng tạm thời cho đường truy cập, chứ không gắn với danh tính cá nhân, không ảnh hưởng đến hồ sơ học tập, nghiên cứu hay uy tín học thuật. Khi đổi sang một đường truy cập khác hoặc sau một thời gian nhất định, quyền truy cập thường sẽ tự động được khôi phục. Một dấu hiệu dễ nhận biết là nhà khoa học chỉ không vào được Sage khi dùng một mạng cụ thể, trong khi chuyển sang mạng khác thì mọi thứ lại bình thường. Thậm chí, đôi khi ngay cả những bài báo miễn phí cũng không mở được nếu đường truy cập đang bị chặn.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Giải pháp</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trong nhiều trường hợp, việc không truy cập được Sage sau khi vào Sci-hub chỉ mang tính tạm thời và có thể được khắc phục khá đơn giản. Một trong những cách thường được áp dụng là khởi động lại modem mạng. Đối với những kết nối internet sử dụng địa chỉ mạng thay đổi theo thời gian, việc khởi động lại modem có thể giúp hệ thống cấp một đường truy cập mới, từ đó cho phép người dùng truy cập lại các trang học thuật như bình thường. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây không phải là giải pháp triệt để. Nếu tiếp tục truy cập Sci-hub trên cùng đường mạng đó, khả năng bị Sage tự động chặn trở lại là rất cao.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="670" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-1024x670.png" alt="" class="wp-image-2922" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-1024x670.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-300x196.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-768x502.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-1536x1005.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-3-2048x1340.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Minh hoạ modem mạng</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Vì lý do này, một lựa chọn an toàn hơn là hạn chế trực tiếp truy cập Sci-hub và thay vào đó nhờ sự hỗ trợ từ những người có quyền truy cập hợp pháp vào các cơ sở dữ liệu học thuật. Hiện nay có nhiều cộng đồng học thuật hoạt động rất tích cực trong việc hỗ trợ chia sẻ bài báo khoa học giữa các nhà nghiên cứu. Một số cộng đồng được nhiều người biết đến có thể kể đến như <a href="https://www.facebook.com/groups/1399029171486412/">PhD Hub</a>, <a href="https://www.facebook.com/groups/vietphd/">VietPhD</a>, <a href="https://www.facebook.com/groups/2165637410370130">Research Coach in Social Sciences</a>, hoặc trang web <a href="https://www.pidantuan.com/">Science hub Mutual Aid</a>. Thông qua các kênh này, nhà khoa học có thể tiếp cận tài liệu cần thiết mà không làm gián đoạn khả năng truy cập vào các trang xuất bản chính thống.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="794" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-1024x794.png" alt="" class="wp-image-2923" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-1024x794.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-300x233.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-768x596.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-1536x1191.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/Screenshot-2026-01-18-at-15.27.43-2048x1588.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Trang chủ Science hub Mutual Aid</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Một giải pháp khác mà nhiều người nhắc tới là sử dụng các dịch vụ VPN. Về mặt nguyên lý, VPN tạo ra một đường truy cập internet khác so với đường mạng đang bị chặn, từ đó có thể giúp truy cập lại các trang như SAGE. Tuy nhiên, cần hiểu rằng đây chỉ là một biện pháp mang tính kỹ thuật, không giải quyết gốc rễ của vấn đề. Nếu tiếp tục có những hoạt động bị hệ thống của nhà xuất bản đánh giá là bất thường, việc bị chặn vẫn có thể lặp lại. Ngoài ra, việc sử dụng VPN cũng cần được cân nhắc cẩn trọng để không vi phạm quy định của cơ quan, trường đại học hoặc tổ chức mà nhà khoa học đang công tác. Trong phạm vi bài viết này, tác giả không quảng bá cho các phần mềm VPN nào. Người đọc có thể tham khảo những công cụ VPN được Google đánh kiểm định và đánh giá.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2924" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/image-4-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Minh hoạ VPN</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn chung, giải pháp bền vững nhất vẫn là ưu tiên các con đường tiếp cận tài liệu hợp pháp và mang tính cộng đồng. Việc dựa vào mạng lưới học thuật, trao đổi trực tiếp với đồng nghiệp hoặc tác giả, và tận dụng các nguồn mở giúp giảm rủi ro bị gián đoạn truy cập, đồng thời tránh những phiền toái không đáng có trong quá trình nghiên cứu.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo,ky-nang-nghien-cuu" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1768795200"
	            data-title="Tôi và nhà xuất bản hàng đầu thế giới cạch mặt!" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/toi-va-nha-xuat-ban-hang-dau-the-gioi-cach-mat/">Tôi và nhà xuất bản hàng đầu thế giới cạch mặt!</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/toi-va-nha-xuat-ban-hang-dau-the-gioi-cach-mat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Làm sao để dữ liệu khoa học dễ dàng tiếp cận, tìm kiếm và hữu ích?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/lam-sao-de-du-lieu-khoa-hoc-de-dang-tiep-can-tim-kiem-va-huu-ich/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/lam-sao-de-du-lieu-khoa-hoc-de-dang-tiep-can-tim-kiem-va-huu-ich/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngô Quỳnh Hương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 08 Dec 2025 02:13:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Dữ liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2869</guid>

					<description><![CDATA[<p>Miguel Acevedo là một nhà sinh thái học hoang dã tại Đại học Florida. Ông có một đề tài nghiên cứu về sốt rét ở thằn lằn, là một mô hình nghiên cứu về sinh thái và tiến hóa của bệnh truyền qua vector (vật trung gian). Một đồng nghiệp của ông cũng đã từng [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lam-sao-de-du-lieu-khoa-hoc-de-dang-tiep-can-tim-kiem-va-huu-ich/">Làm sao để dữ liệu khoa học dễ dàng tiếp cận, tìm kiếm và hữu ích?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="450" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-4.png" alt="" class="wp-image-2870" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-4.png 800w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-4-300x169.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-4-768x432.png 768w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: </em><a href="https://www.behance.net/gallery/186262979/The-World-of-Arcelik/modules/1053035191"><em>The World of Arçelik</em></a><em> via Behance | CC BY–NC–ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Miguel Acevedo là một nhà sinh thái học hoang dã tại Đại học Florida. Ông có một đề tài nghiên cứu về sốt rét ở thằn lằn, là một mô hình nghiên cứu về sinh thái và tiến hóa của bệnh truyền qua vector (vật trung gian). Một đồng nghiệp của ông cũng đã từng thực hiện chủ đề nghiên cứu này tại cùng một địa điểm ở Puerto Rico từ những năm 1990, và Acevedo muốn kết hợp dữ liệu cũ của đồng nghiệp với dữ liệu mới của mình để thực hiện một phân tích dài hạn.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nói thì dễ hơn làm. Trong khi dữ liệu của Acevedo được nhập bằng mẫu chuẩn hóa, dữ liệu của vị đồng nghiệp được ghi chép trong sổ tay, bảng Excel và bản đồ vẽ tay. Các cột không nhất quán, đơn vị khác nhau, và không rõ các điểm lấy mẫu. Cuối cùng, việc đáng ra chỉ mất một buổi sáng lại kéo dài đến “sáu hoặc bảy tháng”, Acevedo nói. “Có rất nhiều việc, và chẳng có gì thú vị.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dữ liệu không chỉ được dùng một lần bởi người thu thập chúng, mà còn có thể được các nhà nghiên cứu khác tái sử dụng cho nghiên cứu mới. Càng ngày càng nhiều nhà nghiên cứu nộp dữ liệu kèm theo bài báo của họ, do yêu cầu từ các quỹ tài trợ, nhà xuất bản cùng với sự tập trung ngày càng lớn vào khoa học mở và khả năng tái lập nghiên cứu. Chính sách dữ liệu nghiên cứu của Springer Nature, nhà xuất bản của Nature, “vô cùng khuyến khích tất cả các tập dữ liệu hỗ trợ phân tích và kết luận của bài báo được công khai vào thời điểm xuất bản” và bắt buộc “chia sẻ các loại dữ liệu được cộng đồng công nhận”. Tuy nhiên, không phải tạp chí nào cũng yêu cầu tác giả cung cấp dữ liệu. Một số tác giả còn từ chối vì sợ bị “cướp” ý tưởng hoặc do thiếu thời gian.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy làm sao để công bố một bộ dữ liệu có thể sử dụng và có chất lượng?</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>1. Soạn thảo siêu dữ liệu (Metadata)</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu có một thứ giúp tối đa hóa giá trị dữ liệu, đó là “siêu dữ liệu, siêu dữ liệu, siêu dữ liệu”, theo Patricia Soranno, nhà khoa học môi trường tại Đại học Bang Michigan.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Siêu dữ liệu là dữ liệu mô tả dữ liệu, ví dụ như dấu thời gian và vị trí lưu với ảnh từ điện thoại. Siêu dữ liệu giải thích ý nghĩa dữ liệu và là chìa khóa để làm cho dữ liệu FAIR &#8211; dễ tìm (findable), dễ truy cập (accessible), có thể tương tác (interoperable) và tái sử dụng (reusable). “Dữ liệu mà không có siêu dữ liệu giống như bộ Lego mà không có hướng dẫn”, Acevedo chia sẻ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tùy từng thí nghiệm mà siêu dữ liệu cần sử dụng là khác nhau. Theo Sarah Supp, nhà sinh thái học tại Đại học Denison, có thể chỉ cần một tệp README liệt kê thời gian, địa điểm và cách dữ liệu được thu thập, người thu thập, giấy phép mà theo đó dữ liệu được công bố, mức độ hoàn thiện và tình trạng dữ liệu (như còn thô hay đã xử lý).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nên có một “codebook” &#8211; bản tổng hợp các mã &#8211; bao gồm định nghĩa các biến thí nghiệm, đơn vị, từ viết tắt, khoảng giá trị dự kiến và cách biểu thị dữ liệu bị thiếu (ví dụ như dùng “NA”). Nếu có nhiều bảng hoặc tệp, hãy giải thích mối quan hệ giữa chúng. Nếu phần mềm được sử dụng để xử lý dữ liệu, hãy nêu chi tiết công cụ, số phiên bản và tham số chạy, theo Anne Brown, nhà khoa học phát triển sản phẩm tại Bayer US Crop Science. Các mẫu tệp README, từ điển dữ liệu và tóm tắt dự án đã được Crystal Lewis, chuyên gia tư vấn quản lý dữ liệu nghiên cứu tại St. Louis, Missouri, chia sẻ trên <a href="https://x.com/Cghlewis/status/1666797320350973952">X</a>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đối với Acevedo, việc thực hành tốt siêu dữ liệu đã giúp dự án sốt rét ở thằn lằn của ông có thể duy trì. Ông nói: “Nó giống như học hỏi từ một chấn thương.”</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>2. Chia sẻ nhiều hơn</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Với những con số thô, các thử nghiệm thăm dò thất bại và tập dữ liệu cuối cùng đã được xử lý, “vào cuối mỗi dự án, thực ra có hàng nghìn phiên bản dữ liệu,” Ciera Martinez, nhà khoa học dữ liệu nghiên cứu tại Trung tâm Eric và Wendy Schmidt về Khoa học Dữ liệu và Môi trường, cho biết. Vậy các nhà khoa học nên công bố phiên bản nào?</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Nếu có thể, bạn hãy chia sẻ cả dữ liệu thô và dữ liệu đã xử lý”, theo Karthik Ram, nhà khoa học dữ liệu tại Viện Khoa học Dữ liệu Berkeley. Dữ liệu đã xử lý là cơ sở của phân tích, nhưng dữ liệu thô cho phép các nhà nghiên cứu khác kiểm tra giả định và chiến lược xử lý của bạn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, dữ liệu thô có thể cồng kềnh và tốn kém để lưu trữ. Khi đó, Martinez cho rằng một “nguyên tắc hợp lý” là công bố dữ liệu được sử dụng để tạo ra các hình minh họa trong bài báo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngoài ra, theo Brown, việc công bố dữ liệu không phải để cho xong mà nên phục vụ cộng đồng khoa học. Vì vậy, bạn có thể tự hỏi mình liệu người khác có thể cần gì từ dữ liệu này và họ sẽ sử dụng chúng như thế nào. “Biết điều đó giúp bạn hiểu rằng, OK, nếu các nhà nghiên cứu khác sẽ sử dụng dữ liệu này thì tôi cần đảm bảo họ có thể hiểu nó.”</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>3. Tuân thủ chuẩn mực</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Mỗi dự án đều khác nhau, kì vọng về dữ liệu nào nên được công bố và cách thức công bố cũng khác nhau. Vì vậy, hãy tìm hướng dẫn từ các cộng đồng lớn. Nhiều ngành có kho dữ liệu chuyên biệt, chẳng hạn như GenBank cho chuỗi DNA và Protein DataBank cho cấu trúc protein. Dữ liệu cũng có thể được đăng lên các kho lưu trữ chung như Zenodo, Figshare và Dryad. Theo Brown, bạn hãy hỏi nhà xuất bản (hoặc bên tài trợ) xem họ có nơi lưu trữ và định dạng tệp ưa thích không. Jacqueline Campbell, nhà di truyền học thực vật tại USDA, Ames, Iowa gợi ý bạn có thể tham khảo thủ thư tài nguyên của tổ chức bạn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các bộ dữ liệu nhỏ có thể được đưa lên GitHub, nhưng điều này không đảm bảo tính lâu dài. Ethan White, nhà khoa học dữ liệu môi trường tại Đại học Florida, cảnh báo rằng dữ liệu có thể bị xóa hoặc sửa đổi bất cứ lúc nào, vì vậy hãy lưu trữ dữ liệu tại các trang chính thức.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Không bao giờ đăng dữ liệu lên các trang web cá nhân” theo Tracy Chen, nhà phân tích khoa học tại Viện Khoa học Ngoại hành tinh NASA. Nếu bạn thay đổi công việc hoặc nghỉ hưu, liên kết đến trang cá nhân có thể trở nên lỗi thời.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>4. Xem xét định dạng&nbsp;</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Dữ liệu nên ở định dạng tệp mở, không độc quyền; nếu không thì người khác có thể không đọc được, theo Ellen Bledsoe, giảng viên khoa học dữ liệu sinh thái tại Đại học Arizona. Bledsoe đã gặp vấn đề này khi phải trích xuất dữ liệu từ Lotus 1-2-3 &#8211; một phần mềm bảng tính thương mại nay đã lỗi thời.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các định dạng tệp văn bản, chẳng hạn CSV (giá trị phân tách bằng dấu phẩy), có thể được đọc bởi nhiều công cụ và ngôn ngữ lập trình, đáp ứng tiêu chí ‘I’ trong dữ liệu FAIR. Không giống như tệp nhị phân, cách tệp văn bản thay đổi theo thời gian rất dễ theo dõi. Trên hết, tránh sử dụng tệp PDF cho bảng dữ liệu, vì bảng tính có thể dễ dàng nhập vào phần mềm, trong khi bảng trong PDF phải nhập thủ công &#8211; một quá trình chậm chạp, đau khổ và dễ lỗi.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>5. Bao gồm code</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu bạn sử dụng code để phân tích dữ liệu, hãy công bố chúng cùng với dữ liệu. Code cho thấy các bước mà bạn đã thực hiện và quyết định của bạn, và cung cấp một phiên bản chi tiết hơn của phần phương pháp. Trước khi công bố, hãy kiểm tra xem code có chạy trong một môi trường tính toán sạch (không có đối tượng trong bộ nhớ) không. Xóa các yếu tố phụ thuộc vào máy tính, chẳng hạn như đường dẫn tệp cố định. Thêm chú thích để giải thích những gì bạn đang làm và chi tiết cách chạy mã, theo John Guerra Gómez, nhà khoa học máy tính tại Đại học Northeastern. “Hãy nghĩ như một nhà du hành thời gian. Tôi muốn phiên bản John trong tương lai biết gì về điều này?”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kari Jordan, giám đốc điều hành của The Carpentries, cho rằng nên tìm một đối tác cùnglập trình. The Carpentries, có trụ sở tại Oakland, California, tổ chức các hội thảo về tính toán khoa học và phân tích dữ liệu, và một trong những điểm nhấn của khóa đào tạo giảng viên là “không bao giờ dạy một mình”. Jordan nói: “Không bao giờ dạy một mình, không học một mình, đừng làm bất cứ điều gì một mình.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ví dụ, bạn có thể nhờ một lập trình viên có trình độ cao hơn cung cấp phản hồi: “Có điểm nào quan trọng mà bạn có thể làm để code dễ hiểu hơn không?” Phản hồi điển hình của White là đề xuất chia các khối code dài thành các hàm rời rạc, loại bỏ code lặp, đảm bảo tên hàm và biến có tính mô tả. Supp nói, nếu một bên thứ ba có thể hiểu và chạy code của bạn, “bạn có lẽ đã làm khá tốt trong việc làm cho code dễ đọc”.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>6. Nghĩ đến khả năng truy cập</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Các dự án dữ liệu lớn thường yêu cầu một mức cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhất định từ phía người dùng tiềm năng. Và họ thường đưa ra giả định về cách mọi người sẽ truy cập, truy vấn và thao tác với dữ liệu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những giả định này thường không đúng, Sabina Leonelli, giảng viên triết học và lịch sử khoa học tại Đại học Exeter, Vương quốc Anh nói. “Ý tưởng rằng bạn đang tạo ra các nền tảng có thể sử dụng phổ biến, có thể tái sử dụng vô hạn, trên thực tế lại thất bại vì không tính đến việc có nhiều nhóm trên thế giới đang làm việc trong các điều kiện khác nhau.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lời khuyên của Leonelli: hãy tham khảo các tổ chức như <a href="https://www.rd-alliance.org/">Liên minh Dữ liệu Nghiên cứu</a> hoặc <a href="https://codata.org/">Ủy ban Dữ liệu của Hội đồng Khoa học Quốc tế</a> để nhận phản hồi về các tiêu chuẩn và giả định dữ liệu của bạn. Và, nếu có thể, hãy cân nhắc “các giải pháp công nghệ thấp”, bà nói. Chẳng hạn, bạn có thể phát triển cơ sở dữ liệu phiên bản băng thông thấp hoặc phát hành hình ảnh với cả độ phân giải thấp và cao.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu không xem xét một loạt các yêu cầu, Leonelli cho rằng, kết quả sẽ là một tài nguyên mà chỉ bạn và những người như bạn mới có thể sử dụng. “Bạn có nguy cơ tạo ra một tài nguyên không tính đến bất kỳ nhu cầu nào trong số đó.”</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>7. Hãy bắt đầu</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Bledsoe, khoa học mở không phải trò chơi “tất cả hoặc không gì cả”; điều gì bạn làm cũng đều mang lại giá trị. “Ngay cả khi không đạt được đúng chuẩn, làm được 20% cũng quý giá.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vì vậy, hãy công bố dữ liệu của bạn &#8211; điều đó giúp người tiêu thụ dữ liệu phân tích được nhiều hơn và cho người cung cấp dữ liệu nhiều cơ hội hợp tác hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Supp thừa nhận, việc chia sẻ cũng đáng sợ, vì nó đồng nghĩa với việc phơi bày bản thân ra cho mọi người soi xét. “Điều đó có một mức độ gây tổn thương nhất định,” bà nói. “Nhưng đó cũng là cách chúng ta tiến bộ.”</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://www.nature.com/articles/d41586-023-01929-7#ref-CR2"><em>Nature</em></a></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="du-lieu,khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1765185206"
	            data-title="Làm sao để dữ liệu khoa học dễ dàng tiếp cận, tìm kiếm và hữu ích?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lam-sao-de-du-lieu-khoa-hoc-de-dang-tiep-can-tim-kiem-va-huu-ich/">Làm sao để dữ liệu khoa học dễ dàng tiếp cận, tìm kiếm và hữu ích?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/lam-sao-de-du-lieu-khoa-hoc-de-dang-tiep-can-tim-kiem-va-huu-ich/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không chỉ là về khả năng tiếp cận: Tháo gỡ vấn đề bản quyền trên các tạp chí truy cập mở ở châu Á</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/khong-chi-la-ve-kha-nang-tiep-can-thao-go-van-de-ban-quyen-tren-cac-tap-chi-truy-cap-mo-o-chau-a/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/khong-chi-la-ve-kha-nang-tiep-can-thao-go-van-de-ban-quyen-tren-cac-tap-chi-truy-cap-mo-o-chau-a/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tạ Hà Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Oct 2025 00:44:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2787</guid>

					<description><![CDATA[<p>Truy cập mở (OA) thường được tôn vinh như một thành công toàn cầu, nhưng đằng sau lời hứa về sự cởi mở là một vấn đề dai dẳng: sự nhầm lẫn về giấy phép và bản quyền. Đặc biệt, ở châu Á, vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn khi việc áp [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khong-chi-la-ve-kha-nang-tiep-can-thao-go-van-de-ban-quyen-tren-cac-tap-chi-truy-cap-mo-o-chau-a/">Không chỉ là về khả năng tiếp cận: Tháo gỡ vấn đề bản quyền trên các tạp chí truy cập mở ở châu Á</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph">Truy cập mở (OA) thường được tôn vinh như một thành công toàn cầu, nhưng đằng sau lời hứa về sự cởi mở là một vấn đề dai dẳng: sự nhầm lẫn về giấy phép và bản quyền. Đặc biệt, ở châu Á, vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn khi việc áp dụng OA đang tăng tốc nhưng khung pháp lý và cấu trúc hỗ trợ vẫn còn lỏng lẻo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong khi thế giới đang tập trung vào việc đạt được các thỏa thuận lớn, phát triển mô hình đọc-và-xuất bản (read-and-publish), và tuân thủ Kế hoạch S (Plan S), các tạp chí ở châu Á lại vật lộn với câu hỏi cơ bản hơn: “mở” thực sự có nghĩa là gì? Các nghiên cứu từ Trung Quốc đã cho thấy những lỗ hổng pháp lý đang làm suy yếu tính toàn vẹn của OA. Dù Nhật Bản và Hàn Quốc đã có nhiều tiến bộ, nhưng nhiều khu vực vẫn đang loay hoay. Nghiên cứu của Ming Ni và Linhui Wang (xem Hình 1) đã phơi bày sự lộn xộn trong lĩnh vực xuất bản y sinh, cho thấy rõ bức tranh này.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="997" height="737" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-10.png" alt="" class="wp-image-2788" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-10.png 997w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-10-300x222.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-10-768x568.png 768w" sizes="(max-width: 997px) 100vw, 997px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1: Phân loại OA, thỏa thuận bản quyền và giấy phép CC của các tạp chí OA y sinh tại Thượng Hải, Trung Quốc | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Tình hình tại các quốc gia châu Á</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc áp dụng truy cập mở (OA) trên khắp châu Á đang tăng lên, nhưng lại thiếu đi chính sách và hạ tầng đồng bộ. Một nghiên cứu năm 2023 trên tạp chí Online Information Review chỉ ra rằng nhiều tạp chí ở các nước khu vực Nam Á được lưu trữ trên các kho lưu trữ của cơ sở nhưng lại không có tuyên bố cấp phép cố định hay xác định rõ ràng quyền tái sử dụng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Đông Nam Á, khi báo cáo của Asia OA Observatory năm 2024 cho thấy chưa đến 30% các tạp chí OA được lập chỉ mục sử dụng giấy phép Creative Commons tiêu chuẩn. Ngay cả ở thị trường đã phát triển như Nhật Bản, việc áp dụng giấy phép cho tác phẩm phái sinh vẫn còn thiếu nhất quán. Các tạp chí y khoa Hàn Quốc được lập chỉ mục trên PubMed Central cũng thường thiếu minh bạch về phí xử lý bài viết (APC) hoặc quyền tái sử dụng của tác giả.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Riêng tại Singapore, tính đến cuối năm 2024, có 50 tạp chí OA được lập chỉ mục trên DOAJ. Trong số đó, 38,0% được lập chỉ mục trên Web of Science và phần lớn nằm ở nhóm Q3 và Q4. Tích cực hơn, 76,0% tạp chí OA sử dụng giấy phép CC BY và 16,0% sử dụng CC BY-NC. Thêm vào đó, 78% tạp chí Singapore trong DOAJ công nhận tác giả giữ bản quyền mà không hạn chế. Tuy nhiên, các chi tiết về thỏa thuận chuyển giao bản quyền vẫn chưa được phân tích.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Ảo ảnh về truy cập mở Đồng (Bronze OA): Khi truy cập mở không thực sự mở</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bài viết &#8220;The Development Status and Countermeasures of Biomedical OA Journals in China&#8221; (Tình trạng phát triển và các biện pháp đối phó của các tạp chí OA y sinh ở Trung Quốc), Linhui Wang và cộng sự đã thực hiện một phân tích thống kê chi tiết về các tạp chí y sinh trên PubMed Central và DOAJ. Những phát hiện chính cho thấy đa phần các tạp chí:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Ít sử dụng giấy phép tiêu chuẩn: Nhiều tạp chí không sử dụng giấy phép Creative Commons, gây ra sự mơ hồ về quyền tái sử dụng.</li>



<li>Thiếu minh bạch về phí xử lý bài viết (APC): Một số tạp chí thu APC nhưng không công bố rõ ràng về giá hoặc các chính sách miễn giảm.</li>



<li>Thiếu chuyên môn: Nhiều tạp chí thuộc các trường đại học hoặc nhà xuất bản chính phủ nhưng lại thiếu chuyên môn về chính sách truy cập mở (OA).</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Những điểm này cho thấy sự thiếu kết nối giữa kỳ vọng của khoa học mở và thực tế của xuất bản OA.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một nghiên cứu khác bằng tiếng Trung, có tựa đề &#8220;Hiện trạng và các chiến lược cải thiện bản quyền của các tạp chí OA y sinh tại Thượng Hải&#8221;, tiến sĩ Ni Ming và đồng tác giả Linhui Wang đã khảo sát 112 tạp chí OA y sinh. Mặc dù bài báo được viết bằng tiếng Trung, nhưng phần tóm tắt bằng tiếng Anh đã chỉ ra những điểm nổi bật. Một điều chỉnh sau đó đã được đưa ra: tỉ lệ tạp chí Bronze OA ban đầu được báo cáo là 33%, nhưng con số chính xác là 24%.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những vấn đề xuất hiện nhiều lần bao gồm:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Thiếu tuyên bố rõ ràng: Các tạp chí Bronze OA thường không có tuyên bố OA hoặc giấy phép công khai.</li>



<li>Hợp đồng mơ hồ: Hợp đồng bản quyền không rõ ràng, thiếu các điều khoản quan trọng như quyền phân phối, trách nhiệm khi vi phạm, hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp.</li>



<li>Mâu thuẫn giữa giấy phép và hợp đồng: Có sự không nhất quán giữa giấy phép Creative Commons và nội dung hợp đồng, đặc biệt là về quyền tạo tác phẩm phái sinh.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Những lỗ hổng này không chỉ gây nhầm lẫn cho tác giả và độc giả mà còn đặt các tạp chí vào rủi ro pháp lý và có thể làm tổn hại đến danh tiếng của họ.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Mơ hồ pháp lý trong các thỏa thuận bản quyền</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Tại Trung Quốc, các phát hiện của Wang và Ni cho thấy một mô hình đáng lo ngại: ngay cả khi một tạp chí tuyên bố sử dụng giấy phép Creative Commons (CC), các thỏa thuận với tác giả thường thiếu các điều khoản quan trọng về phát hành kỹ thuật số. Một số hợp đồng chỉ có chữ ký của tác giả mà không có chữ ký của nhà xuất bản.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiêm trọng hơn, có những hợp đồng mâu thuẫn trực tiếp với giấy phép CC đã công bố, chẳng hạn như cấp quyền độc quyền cho tạp chí dù đã ghi rõ là giấy phép CC BY. Việc một số tạp chí sử dụng đồng thời cả thỏa thuận cấp phép và thỏa thuận chuyển giao bản quyền cũng dẫn đến nội dung không nhất quán.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vấn đề này không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, một số tạp chí đại học vẫn sử dụng thỏa thuận chuyển giao bản quyền truyền thống cho nội dung truy cập mở (OA). Điều này hạn chế quyền của tác giả trong việc lưu trữ preprint hoặc chia sẻ công khai bài viết—đi ngược lại tinh thần phổ biến tri thức của OA.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hậu quả của những vấn đề này rất rõ ràng: các tạp chí có chính sách bản quyền không rõ ràng có nguy cơ bị loại khỏi các chỉ mục uy tín như DOAJ, PubMed Central, hoặc Scopus. Tác giả có thể ngần ngại nộp bài vì sợ mất quyền sở hữu trí tuệ, trong khi độc giả cũng không chắc chắn liệu họ có thể sử dụng lại tài liệu một cách hợp pháp, ngay cả cho mục đích giảng dạy hay dịch thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Khoảng trống siêu dữ liệu: Khi OA trở nên vô hình</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Độ chính xác của siêu dữ liệu là một thách thức lớn. Nhiều tạp chí gán nhãn bài viết là truy cập mở (OA) nhưng lại không mã hóa thông tin giấy phép một cách chuẩn xác. Điều này làm cho các công cụ như Unpaywall và OpenAlex không thể phát hiện và xác minh nội dung.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một nghiên cứu của Initiative for Open Abstracts (I4OA) cũng nhấn mạnh rằng các tạp chí châu Á, đặc biệt là các tạp chí không dùng tiếng Anh, thường thiếu chuẩn hóa siêu dữ liệu về giấy phép, gây cản trở nghiêm trọng cho việc tiếp cận và tái sử dụng nội dung.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Hướng đến sự rõ ràng trong cấp phép: Cần thay đổi những gì?</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Để khắc phục những thiếu sót này, cần một cách tiếp cận đa chiều.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Xây dựng chính sách OA cấp quốc gia: Chính phủ và các tổ chức học thuật nên yêu cầu không chỉ quyền truy cập mở, mà còn phải quy định rõ ràng về giấy phép Creative Commons (CC), quyền tác giả và các quy tắc tái sử dụng.</li>



<li>Nâng cao năng lực cho biên tập viên và nhà xuất bản: Các khóa đào tạo về truy cập mở ở châu Á thường chỉ tập trung vào kỹ thuật lập chỉ mục hoặc quy trình APC mà bỏ qua khía cạnh pháp lý. Các chương trình từ INASP hay Asian Council of Science Editors có thể cung cấp kiến thức phù hợp với từng khu vực.</li>



<li>Sử dụng công cụ kiểm toán và tăng tính minh bạch: Các nền tảng như quy trình đánh giá của DOAJ hoặc công cụ siêu dữ liệu giấy phép của Crossref nên được tích hợp vào khung chính sách quốc gia. Việc tuân thủ &#8220;Các nguyên tắc minh bạch và thực hành tốt trong xuất bản học thuật&#8221; cũng là một bước quan trọng.</li>



<li>Các chỉ mục toàn cầu cần hiểu bối cảnh khu vực: Việc chuẩn hóa là cần thiết, nhưng các nền tảng toàn cầu cũng không nên quá khắt khe với các tạp chí còn hạn chế về nguồn lực trong quá trình chuyển đổi sang OA.</li>



<li>Xây dựng chính sách OA và nộp hồ sơ vào cơ sở dữ liệu: Đăng ký vào DOAJ không chỉ giúp tạp chí có chính sách chuẩn mà còn tăng khả năng tiếp cận. Từ đầu năm 2025, DOAJ đã bắt đầu lập chỉ mục các tạp chí theo mô hình Subscribe-to-Open (S2O), mở ra hy vọng cho việc lập chỉ mục các tạp chí Hybrid trong tương lai.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Trong các quốc gia có tạp chí được lập chỉ mục bởi DOAJ, Indonesia đang dẫn đầu về số lượng. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, tỉ lệ tạp chí Gold OA và Diamond OA được lập chỉ mục vẫn còn thấp, trong khi các tạp chí Bronze OA lại chiếm ưu thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Kết luận: &#8220;Mở&#8221; thôi chưa đủ, phải &#8220;rõ ràng&#8221;</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Truy cập mở mà thiếu nền tảng pháp lý vững chắc giống như một cây cầu không có lan can: có thể đưa các tạp chí đến nơi, nhưng không đảm bảo an toàn. Khi cơ sở hạ tầng học thuật ở châu Á mở rộng, việc đầu tư vào tính minh bạch và tính bền vững về mặt pháp lý là điều cần thiết.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những phát hiện của Wang cho thấy một thực tế rõ ràng: các tạp chí ở các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực chuyển đổi sang OA nhưng lại thiếu một &#8220;la bàn pháp lý&#8221;. Đã đến lúc các tổ chức tài trợ, viện nghiên cứu và nhà cung cấp hạ tầng ưu tiên không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng thực sự của nội dung truy cập mở.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/07/23/guest-post-beyond-access-untangling-copyright-confusion-in-asian-open-access-journals/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1761032642"
	            data-title="Không chỉ là về khả năng tiếp cận: Tháo gỡ vấn đề bản quyền trên các tạp chí truy cập mở ở châu Á" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khong-chi-la-ve-kha-nang-tiep-can-thao-go-van-de-ban-quyen-tren-cac-tap-chi-truy-cap-mo-o-chau-a/">Không chỉ là về khả năng tiếp cận: Tháo gỡ vấn đề bản quyền trên các tạp chí truy cập mở ở châu Á</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/khong-chi-la-ve-kha-nang-tiep-can-thao-go-van-de-ban-quyen-tren-cac-tap-chi-truy-cap-mo-o-chau-a/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Có ai thật sự hiểu các Giấy phép Creative Commons hoạt động như thế nào không?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/co-ai-that-su-hieu-cac-giay-phep-creative-commons-hoat-dong-nhu-the-nao-khong/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/co-ai-that-su-hieu-cac-giay-phep-creative-commons-hoat-dong-nhu-the-nao-khong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Nguyễn Bảo Châu]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 09 Oct 2025 03:35:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2726</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nhìn chung, những giấy phép này được thiết kế rất rõ ràng và dễ hiểu, lại còn có sẵn rất nhiều hướng dẫn giải thích về chúng (dù đi sâu vào chi tiết thì chúng vẫn có phần nào phức tạp hơn một chút). Dù là tác giả, nhà xuất bản, nhà tài trợ hay [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/co-ai-that-su-hieu-cac-giay-phep-creative-commons-hoat-dong-nhu-the-nao-khong/">Có ai thật sự hiểu các Giấy phép Creative Commons hoạt động như thế nào không?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="682" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4-1024x682.png" alt="" class="wp-image-2727" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4-1024x682.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4-1536x1023.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-4.png 1600w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: </em><a href="https://unsplash.com/photos/a-close-up-of-a-sign-on-a-sidewalk-lhJrm1BRVV0"><em>creative commons CC BY-NC-ND</em></a><em> via Unsplash | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn chung, những giấy phép này được thiết kế rất rõ ràng và dễ hiểu, lại còn có sẵn rất nhiều hướng dẫn giải thích về chúng (dù đi sâu vào chi tiết thì chúng vẫn có phần nào phức tạp hơn một chút). Dù là tác giả, nhà xuất bản, nhà tài trợ hay độc giả, đáng ra họ cần hiểu những gì đang diễn ra khi lựa chọn &#8211; hoặc bị buộc phải áp dụng giấy phép mở cho công trình nghiên cứu của mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, thực tế lại khác biệt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một khảo sát tác giả gần đây do Hiệp hội vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ (American Association for the Advancement of Science &#8211; AAAS) thực hiện đã mang lại nhiều phát hiện thú vị. Khảo sát này không tập trung tìm hiểu về tiếp cận mở nói chung, mà còn nhấn mạnh vào quyền tái sử dụng theo giấy phép mở, cũng như mức độ hiểu biết và quan ngại của tác giả khi tác phẩm của họ được cấp phép dưới dạng mở.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuộc khảo sát đã đặt ra cho các tác giả những câu hỏi như sau:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Bạn có chia sẻ kết quả nghiên cứu chưa được bình duyệt trên các dịch vụ tiền xuất bản (pre-print), blog hay các nền tảng tương tự khác không?</li>



<li>Vui lòng xếp hạng các tiêu chí bạn sử dụng để lựa chọn nơi công bố kết quả nghiên cứu đã được bình duyệt của mình.</li>



<li>Bạn quen thuộc với giấy phép Creative Commons đến mức nào?</li>



<li>Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giấy phép để xuất bản công trình của bạn?</li>



<li>Bạn có phấn khích hay lo lắng về tiềm năng sử dụng thương mại nào đối với nghiên cứu đã công bố không?</li>



<li>Nếu bạn thấy có sự xuyên tạc hoặc lạm dụng tác phẩm đã công bố của mình, bạn mong đợi chúng sẽ được khắc phục như thế nào và bởi ai?</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Như có thể thấy từ báo cáo đã công bố, những phản hồi mà AAAS nhận được rất đáng chú ý. Bao gồm:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>48% &#8211; gần một nửa số người được hỏi tự đánh giá mình chưa quen thuộc với cách thức hoạt động của giấy phép mở.</li>



<li>75% chia sẻ kết quả nghiên cứu của họ ở các địa điểm khác ngoài các tạp chí được bình duyệt chính thức.</li>



<li>42% số người được hỏi đánh giá “phạm vi tiếp cận độc giả và mức độ phù hợp với độc giả” là yếu tố quan trọng nhất khi chọn địa điểm xuất bản; “Tạo khả năng tiếp cận tác phẩm, bao gồm cả công chúng nói chung” là yếu tố được đánh giá cao thứ hai, tiếp theo là “hệ số tác động của tạp chí”. (Thật không may, cả hai lựa chọn phản hồi phổ biến nhất đều gộp chung hai tiêu chí rất khác nhau: tính đặc thù của độc giả và phạm vi độc giả.)</li>



<li>Tiêu chí lựa chọn ít quan trọng nhất là “giảm giá APC hiện có hoặc các thỏa thuận chuyển đổi”.</li>



<li>Các tác giả khá mơ hồ về việc tái sử dụng thương mại các công trình học thuật của họ, với 36% bày tỏ “hứng thú” về việc sử dụng như vậy và 63% bày tỏ “lo ngại”. Một số người được hỏi cho biết họ cảm thấy cả hai. Họ cũng bày tỏ cả sự hứng thú và lo ngại về việc các công ty trí tuệ nhân tạo sử dụng học thuật được cấp phép mở.</li>



<li>40% bày tỏ lo ngại về việc thiếu biện pháp khắc phục trong trường hợp sử dụng sai hoặc trình bày sai lệch tác phẩm được cấp phép mở của họ. (Mặc dù điều gì có thể cấu thành &#8220;sử dụng sai&#8221; nghiên cứu được công bố theo giấy phép chỉ ghi nguồn là một câu hỏi thú vị.)</li>



<li>28% số người được hỏi nói chung (53% số người được hỏi trong độ tuổi từ 60 đến 70) bày tỏ lo ngại về việc tác phẩm của họ có thể bị tái sử dụng theo giấy phép CC BY, trong khi 29% tổng số người được hỏi tin rằng không nên có bất kỳ hạn chế nào đối với việc tái sử dụng nghiên cứu đã công bố.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Những phản hồi này, cùng với sự thất vọng dai dẳng của những người ủng hộ khoa học mở, phản ánh một tình trạng rất khó để cân bằng: một mặt, chúng ta có thể không muốn các tác giả được quyền kiểm soát các báo cáo và dữ liệu nghiên cứu của họ đến mức những người diễn giải chúng một cách thiện chí bị ngăn cản khỏi việc phát triển các cách hiểu của riêng họ; mặt khác, chúng ta lại muốn các tác giả có quyền ngăn chặn việc ai đó trình bày sai lệch nghiêm trọng tác phẩm của họ, hoặc bị tái sử dụng bởi những người có mục tiêu mà họ cho là phản cảm. (Giấy phép CC BY cho phép tác giả yêu cầu những người tái sử dụng tác phẩm của họ không cần ghi nguồn ở&nbsp; các phiên bản phái sinh; tuy nhiên, điều khoản này được đặt ở phần chữ nhỏ và không được đề cập trong phần mô tả tóm tắt dễ tìm thấy hơn của giấy phép. Và nó chỉ giải quyết vấn đề không muốn công khai gắn tên với tác phẩm phái sinh đó; nó không giải quyết vấn đề muốn không hỗ trợ hoặc không đóng góp cho tác phẩm đó.)</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và tất cả những điều trên vẫn chưa chạm đến một câu hỏi còn tinh tế và phức tạp hơn, chẳng hạn là liệu tác giả có nên có quyền hạn chế việc tái sử dụng tác phẩm của họ cho mục đích thương mại (bao gồm việc sử dụng tác phẩm của họ để huấn luyện các mô hình ngôn ngữ lớn cho trí tuệ nhân tạo), hay việc tạo ra các phiên bản phái sinh của công trình hay không. Giấy phép Creative Commons cho phép tác giả thực hiện những giới hạn như vậy, nhưng để lựa chọn giữa các giấy phép phù hợp một cách hiệu quả, họ phải hiểu rõ các loại giấy phép &#8211; và tất nhiên, họ phải được phép sử dụng chúng. Việc tước bỏ mọi quyền kiểm soát của tác giả đối với việc sử dụng công trình của họ là nguyên tắc nền tảng của phong trào truy cập mở. Liệu chúng ta có nên ngạc nhiên khi các tác giả thấy mâu thuẫn về điều này?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tất nhiên, việc giữ lại các đặc quyền độc quyền của bản quyền, cũng như lựa chọn các giấy phép mở hạn chế hơn CC BY, không thể ngăn chặn việc người khác diễn giải sai hoặc trình bày sai tác phẩm. Tuy nhiên, việc giữ lại một phần hoặc toàn bộ các đặc quyền đó sẽ mang lại cho tác giả hoặc nhà xuất bản một mức độ kiểm soát đáng kể đối với việc tái sử dụng công trình đó, cũng như có cơ sở pháp lý để can thiệp nếu công trình bị chiếm dụng trái phép – trong khi giấy phép CC BY được thiết kế nhằm cho phép mọi hình thức tái sử dụng. Nếu như tác giả gốc chưa bảo lưu bất cứ quyền tác giả nào, thì họ đã cấp phép cho mọi hình thức tải sử dụng. Mục đích của giấy phép chính là như vậy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi hệ sinh thái truyền thông học thuật tiếp tục phát triển, những vấn đề này sẽ ngày càng phiền toái và khó khăn. Điều này đặc biệt áp dụng với các tác giả &#8211; những người ngày càng bị giằng xé giữa các mục tiêu và yêu cầu liên tục thay đổi và đôi khi mâu thuẫn của các nhà tài trợ, chính phủ, người ủng hộ phong trào, nhà xuất bản và các tổ chức.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ </em><a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/07/15/confused-and-ambivalent-scholarly-authors-and-creative-commons-licenses/"><em>The Scholarly Kitchen</em></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1760006139"
	            data-title="Có ai thật sự hiểu các Giấy phép Creative Commons hoạt động như thế nào không?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/co-ai-that-su-hieu-cac-giay-phep-creative-commons-hoat-dong-nhu-the-nao-khong/">Có ai thật sự hiểu các Giấy phép Creative Commons hoạt động như thế nào không?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/co-ai-that-su-hieu-cac-giay-phep-creative-commons-hoat-dong-nhu-the-nao-khong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Từng bước nhập môn Khoa học Mở</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tung-buoc-nhap-mon-khoa-hoc-mo/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tung-buoc-nhap-mon-khoa-hoc-mo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 01 Aug 2025 00:09:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Glossary]]></category>
		<category><![CDATA[Khoa học - Giáo dục mở]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2532</guid>

					<description><![CDATA[<p>Truy cập Mở (OA) bao gồm việc cung cấp miễn phí và cho phép truy cập trực tuyến các bài báo nghiên cứu học thuật, qua đó tăng cường việc chia sẻ tri thức và hợp tác. Hình thức này bao gồm các loại như OA Xanh, trong đó tác giả lưu trữ các bản [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tung-buoc-nhap-mon-khoa-hoc-mo/">Từng bước nhập môn Khoa học Mở</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="600" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/08/image.png" alt="" class="wp-image-2533" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/08/image.png 600w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/08/image-300x300.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/08/image-150x150.png 150w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/41477559/Schluss" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Schluss</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Truy cập Mở (OA) bao gồm việc cung cấp miễn phí và cho phép truy cập trực tuyến các bài báo nghiên cứu học thuật, qua đó tăng cường việc chia sẻ tri thức và hợp tác. Hình thức này bao gồm các loại như OA Xanh, trong đó tác giả lưu trữ các bản thảo đã được chấp nhận (bản hậu thẩm định) của mình tại các kho lưu trữ của tổ chức hoặc kho lưu trữ chuyên ngành, và OA Vàng. Theo mô hình sau này, các bài báo được xuất bản trên các tạp chí OA, được cung cấp và có thể truy cập ngay sau khi được chấp nhận/xuất bản, và có áp dụng Phí Xử lý Bài báo (APCs). OA Kim cương cấp quyền truy cập thông qua nguồn tài trợ của tổ chức mà không thu bất kỳ khoản APC nào từ tác giả. OA Lai cung cấp quyền truy cập mở có chọn lọc cho các bài báo trên tạp chí thuê bao bằng cách thu phí APC.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ý nghĩa của OA nằm ở việc dân chủ hóa thông tin, đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, và gia tăng tầm ảnh hưởng của nghiên cứu. Quy trình nộp các bản thảo trước thẩm định (preprint) lên các kho lưu trữ preprint đang ngày càng phổ biến. Việc chia sẻ công trình đang thực hiện để tìm kiếm phản hồi và khẳng định quyền ưu tiên hiện đang được tiến hành thường xuyên. Các ví dụ nổi bật về máy chủ preprint là arXiv và bioRxiv. Danh mục các Tạp chí Truy cập Mở (DOAJ) là cơ sở dữ liệu toàn diện nhất do cộng đồng quản lý về các tạp chí OA. Để biết thêm thông tin về OA và phong trào OA, hãy tham khảo các trang web của SPARC và Tuần lễ Truy cập Mở, và để đưa ra quyết định sáng suốt về việc xuất bản bài báo trên các tạp chí, có thể tham khảo trang ThinkCheckSubmit.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tầm ảnh hưởng và Các Số liệu Đo lường Mở</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Phong trào OA có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho một môi trường nghiên cứu dung hợp và hợp tác hơn, từ đó mang lại sự tiến bộ và khả năng tiếp cận. Việc xuất bản nghiên cứu trên các tạp chí OA mang đến một cơ hội hấp dẫn để nâng cao mức độ hiển thị và tầm ảnh hưởng của công trình học thuật. Các nhà nghiên cứu có thể lựa chọn một cách có chiến lược các tạp chí OA uy tín phù hợp với lĩnh vực cụ thể và đối tượng độc giả mục tiêu của họ, qua đó đảm bảo lượng độc giả rộng hơn, số lượt trích dẫn tăng lên và các cơ hội hợp tác tiềm năng. Để tối đa hóa tầm ảnh hưởng của công trình, các tác giả có thể áp dụng các phương pháp thực hành tốt nhất góp phần vào sự tiến bộ của cả giới học thuật và xã hội. Để khai thác hiệu quả tiềm năng của OA, các nhà nghiên cứu nên tự làm quen với các nguyên tắc, chính sách và yêu cầu tài trợ liên quan đến lĩnh vực và tổ chức của họ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các số liệu đo lường mở cung cấp các phương pháp minh bạch và dễ tiếp cận để đánh giá tầm ảnh hưởng của nghiên cứu học thuật. Chúng vượt ra ngoài các số liệu đo lường truyền thống dựa trên trích dẫn bằng cách bao hàm một phạm vi chỉ số rộng hơn phản ánh sức ảnh hưởng của nghiên cứu và tác động xã hội. Các chỉ số này tính đến các yếu tố như lượt đề cập trên mạng xã hội, lượt tải xuống và lượt trích dẫn. Các số liệu đo lường mở đặc biệt quan trọng trong bối cảnh OA, vì chúng phù hợp với các nguyên tắc về tính minh bạch và cởi mở. Chúng cung cấp cái nhìn toàn diện về tầm ảnh hưởng của nghiên cứu, cho phép có được sự thấu hiểu toàn cục vượt ra ngoài các thước đo dựa trên tạp chí. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu, tổ chức, nhà tài trợ và nhà hoạch định chính sách đánh giá hiệu quả giá trị xã hội và phạm vi tiếp cận của nghiên cứu. Các nền tảng như Altmetric.com và Plum Analytics cung cấp cho các nhà nghiên cứu sự thấu hiểu toàn diện về phạm vi tiếp cận và sức ảnh hưởng của các sản phẩm nghiên cứu của họ, vượt ra ngoài các số liệu đo lường dựa trên trích dẫn thông thường.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Nghiên cứu (DORA) công nhận tầm quan trọng của việc đánh giá các sản phẩm học thuật và các nhà nghiên cứu dựa trên giá trị nội tại của chúng. Tuyên bố này nhấn mạnh rằng các số liệu đo lường không nên thay thế việc đánh giá chất lượng của từng nghiên cứu riêng lẻ. Hơn nữa, DORA nhấn mạnh sự cần thiết phải xem xét bối cảnh và phương pháp luận của các số liệu đo lường tạp chí khi sử dụng chúng để định hướng cho các lựa chọn xuất bản.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Bản quyền và Cấp phép Mở</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Bản quyền đóng một vai trò then chốt trong giao tiếp học thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực OA. Mặc dù bản quyền bảo vệ các ý tưởng độc đáo, các quy định quá khắt khe có thể cản trở dòng chảy tri thức và gây trở ngại cho khả năng tiếp cận nghiên cứu. Mô hình xuất bản truyền thống, vốn bao gồm việc chuyển giao bản quyền cho các nhà xuất bản, hạn chế quyền truy cập và làm tăng chi phí. OA đóng vai trò là một giải pháp cho vấn đề này bằng cách cung cấp quyền truy cập không giới hạn. Giấy phép Creative Commons, vốn hoạt động trong khuôn khổ luật bản quyền, cho phép tác giả giữ lại quyền của mình trong khi vẫn cấp các quyền hạn. Khi lựa chọn xuất bản mở, các nhà nghiên cứu phải tự làm quen với các chính sách bản quyền và việc cấp phép. Giấy phép mở cho phép các nhà nghiên cứu chỉ định rõ các quyền sử dụng và khai thác, đảm bảo sự sẵn có không giới hạn để người khác có thể đọc, tái sử dụng, điều chỉnh và ghi nhận công lao cho công trình của họ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong giao tiếp học thuật, việc cấp phép mở đóng một vai trò then chốt trong việc giúp công trình có thể được truy cập mở trong khi vẫn bảo toàn được các quyền và quyền kiểm soát. Giấy phép mở tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến, hợp tác và trao đổi tri thức bằng cách mang lại sự rõ ràng và giảm bớt các rào cản truy cập. Chúng thúc đẩy tính minh bạch và có thể được áp dụng cho nhiều sản phẩm nghiên cứu khác nhau, hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc của OA. Việc cấp phép mở mở rộng các quyền hạn vượt ra ngoài luật bản quyền mặc định, cho phép người sáng tạo xác định cách người khác có thể truy cập, tương tác, chia sẻ và phát triển dựa trên công trình của họ. Giấy phép Creative Commons là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Các Phương pháp Thực hành Tốt nhất trong Xuất bản OA</strong></h2>



<figure class="wp-block-pullquote"><blockquote><p>Giấy phép mở, chẳng hạn như Creative Commons, có vai trò quan trọng đối với việc xuất bản các sản phẩm nghiên cứu.</p></blockquote></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Các phương pháp thực hành tốt nhất đối với OA bao gồm một loạt các yếu tố cần cân nhắc mà các nhà nghiên cứu nên xem xét. Trước hết và quan trọng nhất, nên ưu tiên các tạp chí OA hoặc máy chủ preprint, những nền tảng phù hợp với các nguyên tắc của OA, qua đó đảm bảo rằng nghiên cứu có được sự hiển thị rộng rãi. Việc tải các bản preprint lên máy chủ cho phép phổ biến nhanh chóng và nhận được phản hồi sớm, điều này thúc đẩy tính minh bạch và sự hợp tác trong các nỗ lực nghiên cứu. Việc áp dụng các phương pháp chia sẻ dữ liệu và mã nguồn mở còn giúp tăng cường hơn nữa tính minh bạch, khả năng tái lập và sự hợp tác, tạo điều kiện cho việc thẩm định của đồng nghiệp và phân tích chuyên sâu. Giấy phép mở, chẳng hạn như Creative Commons, có vai trò quan trọng đối với việc xuất bản các sản phẩm nghiên cứu, vì chúng chỉ định rõ các quyền hạn và khuyến khích việc phát triển các tác phẩm phái sinh. Để cải thiện cả khả năng tái lập và tính toàn diện, việc cung cấp công khai các tài liệu bổ sung là rất quan trọng. Sự tham gia tích cực vào các cộng đồng OA cung cấp một nền tảng cho sự hợp tác hiệu quả với các nhà nghiên cứu cùng chí hướng, góp phần vào các sáng kiến OA rộng lớn hơn. Cuối cùng, việc duy trì các phương pháp xuất bản có đạo đức là điều tối quan trọng – điều này bao gồm việc giữ vững các tiêu chuẩn đạo đức, tránh các tạp chí đáng ngờ (tạp chí săn mồi), tuân thủ các quy tắc trích dẫn đúng đắn, ngăn chặn đạo văn, và nhận lãnh trách nhiệm của tác giả có đạo đức. Uy tín, mức độ hiển thị và tầm ảnh hưởng của các đóng góp học thuật của nhà nghiên cứu trong bối cảnh OA có thể được nâng cao đáng kể bằng việc áp dụng các phương pháp này.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Giấy phép Creative Commons</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp một bộ công cụ miễn phí, dựa trên cơ sở pháp lý để người sáng tạo chia sẻ các tác phẩm của mình với người khác trong khi vẫn giữ lại một số quyền nhất định. Mục đích chính của giấy phép Creative Commons là nhằm cho phép một cách tiếp cận linh hoạt và cởi mở hơn đối với bản quyền, cho phép người sáng tạo chỉ định rõ cách tác phẩm của họ có thể được người khác sử dụng. Có một vài loại giấy phép Creative Commons, mỗi loại được biểu thị bằng một tổ hợp các ký hiệu và chữ cái, chỉ ra các mức độ cho phép khác nhau. Các giấy phép này cung cấp cho người sáng tạo nhiều tùy chọn khác nhau để xác định cách người khác có thể sử dụng tác phẩm của họ, dù có cho mục đích thương mại hay không, cho phép sửa đổi, hay chỉ đơn giản là chia sẻ kèm theo ghi nhận tác giả phù hợp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các giấy phép Creative Commons chính bao gồm:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Ghi công (CC BY):</strong> Giấy phép này cho phép người khác sử dụng, phối lại, sửa đổi và phân phối tác phẩm, ngay cả cho mục đích thương mại, miễn là họ ghi công tác giả gốc một cách phù hợp.</li>



<li><strong>Ghi công-Chia sẻ tương tự (CC BY−SA):</strong> Tương tự như CCBY, giấy phép này cho phép phối lại, sửa đổi và phân phối, với điều kiện các tác phẩm phái sinh phải được chia sẻ theo các điều khoản giấy phép tương tự.</li>



<li><strong>Ghi công-Không phái sinh (CC BY−ND):</strong> Giấy phép này cho phép người khác phân phối lại tác phẩm cho cả mục đích thương mại và phi thương mại, nhưng cấm thay đổi hoặc tạo ra các tác phẩm phái sinh.</li>



<li><strong>Ghi công-Phi thương mại (CC BY−NC):</strong> Giấy phép này cho phép người khác sử dụng, phối lại và sửa đổi tác phẩm, ngoại trừ cho các mục đích thương mại. Việc ghi công phù hợp là bắt buộc.</li>



<li><strong>Ghi công-Phi thương mại-Chia sẻ tương tự (CC BY−NC−SA):</strong> Tương tự như CCBY−SA, giấy phép này hạn chế việc sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.</li>



<li><strong>Ghi công-Phi thương mại-Không phái sinh (CC BY−NC−ND):</strong> Là giấy phép khắt khe nhất, nó cho phép người khác tải xuống và chia sẻ tác phẩm kèm theo ghi công phù hợp, nhưng ngăn cản mọi thay đổi hoặc sử dụng cho mục đích thương mại.</li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph">Các tác giả có thể chọn giấy phép phù hợp nhất với ý định của họ đối với tác phẩm. Các giấy phép này cung cấp một khuôn khổ pháp lý cho việc chia sẻ và hợp tác trong thời đại kỹ thuật số trong khi vẫn tôn trọng quyền của người sáng tạo. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù giấy phép Creative Commons là một công cụ mạnh mẽ để chia sẻ nội dung, chúng không thay thế luật bản quyền; thay vào đó, chúng hoạt động trong khuôn khổ hiện có để cung cấp các tùy chọn linh hoạt hơn cho người sáng tạo và người sử dụng các tác phẩm sáng tạo.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><strong>Kết luận</strong></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Bằng cách áp dụng các phương pháp xuất bản đúng đắn, các nhà nghiên cứu thúc đẩy các nguyên tắc của OA, mang lại lợi ích cho cộng đồng khoa học và toàn xã hội. Việc họ lựa chọn các tạp chí hoặc nền tảng OA uy tín phù hợp với trọng tâm nghiên cứu và đối tượng độc giả mục tiêu là điều cấp thiết. Các yếu tố cần cân nhắc như chất lượng bình duyệt, việc lập chỉ mục, các tùy chọn cấp phép và mức độ hiển thị là rất quan trọng. Các tùy chọn cấp phép, chẳng hạn như giấy phép Creative Commons, truyền đạt một cách hiệu quả các quyền hạn và hạn chế đối với các sản phẩm nghiên cứu. OA cách mạng hóa hoạt động nghiên cứu bằng cách thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ tri thức và gia tăng tầm ảnh hưởng. Việc lựa chọn một nền tảng xuất bản phù hợp theo định hướng OA, kết hợp với việc sử dụng các công cụ thích hợp, sẽ khuếch đại tầm ảnh hưởng của nghiên cứu và khuyến khích sự hợp tác liên ngành. OA dân chủ hóa tri thức, tối đa hóa tầm ảnh hưởng của nghiên cứu và thúc đẩy tiến bộ khoa học. Các nhà nghiên cứu có thể mở rộng đối tượng độc giả của mình, thúc đẩy sự hợp tác và đề cao tính minh bạch, qua đó nuôi dưỡng một hệ sinh thái nghiên cứu dung hợp và đổi mới.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://sgutam.wordpress.com/2023/11/11/open-access-best-practices-and-licensing/">sgutam</a></em></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="glossary,khoa-hoc-giao-duc-mo" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1754032171"
	            data-title="Từng bước nhập môn Khoa học Mở" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tung-buoc-nhap-mon-khoa-hoc-mo/">Từng bước nhập môn Khoa học Mở</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tung-buoc-nhap-mon-khoa-hoc-mo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
