<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 13 Apr 2026 05:39:16 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 13 Apr 2026 05:39:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3043</guid>

					<description><![CDATA[<p>Giáo dục đại học tại Úc vốn là niềm tự hào của quốc gia, nhưng giờ đây nó không còn là lĩnh vực duy nhất phải nếm trải nỗi cay đắng từ cuộc khủng hoảng niềm tin đang lan rộng. Một thực trạng đáng báo động đang hiện hữu: người dân xứ sở chuột túi [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/">Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Giáo dục đại học tại Úc vốn là niềm tự hào của quốc gia, nhưng giờ đây nó không còn là lĩnh vực duy nhất phải nếm trải nỗi cay đắng từ cuộc khủng hoảng niềm tin đang lan rộng. Một thực trạng đáng báo động đang hiện hữu: người dân xứ sở chuột túi đang dần quay lưng với các giảng đường, và cái sự nhạt tình này lại diễn ra mạnh mẽ nhất ở nhóm những người chưa từng cầm trên tay tấm bằng cử nhân.</p>



<figure class="wp-block-image size-full"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="958" height="690" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17.png" alt="" class="wp-image-3044" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17.png 958w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17-300x216.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/Screenshot-2026-04-13-at-12.38.17-768x553.png 768w" sizes="(max-width: 958px) 100vw, 958px" /></figure>



<p>Sự rạn nứt này không diễn ra trong ngày một ngày hai mà là kết quả của một quá trình tụt dốc kéo dài. Theo những con số biết nói từ cuộc khảo sát ANUPoll, nếu như trước khi đại dịch COVID-19 ập đến, có tới gần 80% người dân vẫn dành trọn niềm tin cho các trường đại học, thì đến cuối năm 2025, con số này đã rơi tự do xuống chỉ còn khoảng 62%. Tuy nhiên, nếu nhìn sang các trụ cột khác của xã hội, chúng ta mới thấy giáo dục đại học thực tế vẫn còn&#8230; khá khẩm. Bởi lẽ, niềm tin vào các trường phổ thông cũng đã sụt giảm nghiêm trọng, trong khi sự tín nhiệm dành cho chính phủ liên bang thậm chí còn thê thảm hơn khi hiếm khi vượt qua được ngưỡng 40%. Rõ ràng, sự disenchantment (sự vỡ mộng) này là một căn bệnh chung của cả hệ thống thiết chế công tại Úc.</p>



<p>Nguyên nhân dẫn đến cái nhìn khắt khe của công chúng bắt nguồn từ hàng loạt lùm xùm bủa vây các ngôi trường danh tiếng. Từ những hoài nghi về tính minh bạch trong quản trị, các thỏa thuận thương mại đầy mùi tiền, cho đến những báo cáo gây sốc về tình trạng lạm dụng và phân biệt đối xử ngay trong khuôn viên trường học. Đáng nói hơn, những vấn đề này đôi khi còn bị giới chính trị gia thổi phồng nhằm hướng mũi dùi dư luận đi nơi khác, biến đại học thành bia đỡ đạn cho những yếu kém của chính hệ thống chính trị. Dù thực tế cho thấy môi trường học thuật vẫn là nơi ít xảy ra tệ nạn hơn so với xã hội bên ngoài, nhưng dưới sức ép của truyền thông và những narratives (kịch bản) được dàn dựng sẵn, hình ảnh về một tháp ngà thanh cao đã bị hoen ố đáng kể.</p>



<p>Một điểm mấu chốt khác làm trầm trọng thêm hố sâu ngăn cách này chính là sự phân hóa dựa trên trình độ học vấn. Trình độ học vấn giờ đây đã trở thành thước đo chính yếu để dự báo quan điểm của một cá nhân đối với các thiết chế xã hội. Những người đã từng trải qua đời sinh viên với những kỷ niệm đẹp thường có xu hướng bảo vệ nhà trường trước các cáo buộc về nhồi sọ hay lý thuyết suông. Ngược lại, những người không có bằng cấp lại ngày càng cảm thấy xa lạ và hoài nghi về giá trị thực sự của đại học. Thậm chí, ngay cả với những người khao khát cái chữ, cửa vào đại học cũng đang hẹp lại một cách tàn nhẫn khi chi phí và rào cản kinh tế khiến phần lớn sinh viên nghèo cảm thấy bị bỏ lại phía sau, bất chấp những lời hứa hẹn hoa mỹ về sự công bằng.</p>



<p>Cuối cùng, tư duy thực dụng đã hoàn toàn lấn lướt những mục tiêu cao cả của giáo dục. Thay vì coi đại học là nơi nuôi dưỡng trí tuệ hay giám sát quyền lực chính phủ, phần lớn người dân Úc giờ đây chỉ xem đó là một lò luyện nghề không hơn không kém. Khi mà chỉ có 30% công chúng coi trọng vai trò dân sự của đại học, trong khi một nửa dân số chỉ quan tâm đến việc ra trường có làm được việc hay không, thì việc họ ưu tiên đổ tiền vào các trường nghề hay trường phổ thông là điều hoàn toàn dễ hiểu. Có lẽ, đã đến lúc các nhà quản lý giáo dục phải tỉnh mộng: đại học không còn là một vùng đặc quyền mặc định được tin tưởng, mà phải tự thân vận động để chứng minh giá trị của mình trong một xã hội ngày càng thực tế và đầy rẫy sự hoài nghi.</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://www.timeshighereducation.com/news/universities-trusted-more-governments-and-schools">Times Higher Education</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/">Vị thế của các trường đại học tại Úc đang lung lay trước cơn bão hoài nghi</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/vi-the-cua-cac-truong-dai-hoc-tai-uc-dang-lung-lay-truoc-con-bao-hoai-nghi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thu hẹp khoảng cách đào tạo &#8211; việc làm: Cần bắt đầu từ đâu?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Hiệp]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 08 Apr 2026 04:52:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3040</guid>

					<description><![CDATA[<p>Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã trao đổi vấn đề này với Tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô. PV:&#160;Thưa Tiến sĩ, thực tế hiện nay, có khoảng 30% sinh viên không làm đúng ngành, thậm chí [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau/">Thu hẹp khoảng cách đào tạo &#8211; việc làm: Cần bắt đầu từ đâu?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>VOV.VN &#8211; Tấm bằng đại học từng được xem là “tấm vé” đảm bảo cho một tương lai nghề nghiệp ổn định nhưng không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp lại loay hoay giữa ngã rẽ nghề nghiệp. Sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thực tế là bài toán lớn cần lời giải từ cả nhà trường lẫn thị trường.</em></p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img decoding="async" width="850" height="850" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-2.png" alt="" class="wp-image-3041" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-2.png 850w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-2-300x300.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-2-150x150.png 150w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-2-768x768.png 768w" sizes="(max-width: 850px) 100vw, 850px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/55464245/Mind-the-gap">一个人的地铁站（Mind the gap)</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p>Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã trao đổi vấn đề này với Tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô.</p>



<p><strong>PV:</strong>&nbsp;<em>Thưa Tiến sĩ, thực tế hiện nay, có khoảng 30% sinh viên không làm đúng ngành, thậm chí hàng trăm nghìn cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái chuyên môn mỗi năm. Theo ông, nguyên nhân chính nằm ở đâu?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:&nbsp;</strong>Chúng ta đang sống ở một giai đoạn mà giáo dục đại học là đại chúng. Bởi vậy, việc sinh viên ra trường không kết nối được ngay với thị trường lao động cũng là điều bình thường. Đây là hiện tượng chung trên toàn cầu, thậm chí ở các nước khác, con số đo lường thậm chí còn cao hơn ở Việt Nam. Ở góc độ kinh tế học lao động, tỷ lệ nhất định thất nghiệp và nhất định làm trái ngành cũng là động lực cho sự phấn đấu của xã hội nói chung, chứ không nên đòi hỏi con số này phải bằng 0.</p>



<p>Tuy nhiên, chúng ta nên so sánh con số này của năm nay so với năm trước và của năm nay so với cách đây 5 &#8211; 10 năm. Nếu con số đó có xu hướng tăng thì đó là vấn đề mà các nhà làm chính sách, các nhà phân tích cần phải xem xét.</p>



<p>Việc sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc phải làm trái ngành được đào tạo, nguyên nhân đầu tiên là do thị trường lao động không tạo đủ việc làm, còn các trường đại học chỉ là nguyên nhân thứ hai. Nếu thị trường tạo ra được nhiều công ăn việc làm thì sẽ không có chuyện sinh viên ra trường thất nghiệp.</p>



<p><strong>PV:&nbsp;</strong><em>Có nhiều ý kiến cho rằng, giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của thị trường lao động vẫn có khoảng cách. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính dẫn đến khoảng cách này?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:&nbsp;</strong>Đầu tiên, phải khẳng định rằng, không thể yêu cầu nhà trường trong vòng 4 năm đào tạo với 120 &#8211; 130 tín chỉ mà đáp ứng hết được những yêu cầu của thị trường lao động. Trường đại học có chuẩn của nó, còn thị trường lao động thì thay đổi, từ công ty này sang công ty kia cũng thay đổi. Vì vậy, đòi hỏi nhà trường phải đáp ứng hết mọi yêu cầu của doanh nghiệp là điều không thể, mà phải có những mẫu số chung do hai bên cùng thống nhất.</p>



<p>Chưa kể đôi khi chúng ta không thể bóc tách được nguyên nhân của việc sinh viên ra trường làm trái ngành hoặc không xin được việc làm ngay là do trường đại học đào tạo không đủ tốt, sinh viên không đủ cố gắng hay thị trường đang không tạo đủ việc làm. Tất nhiên từ phía các bên liên quan đều phải có hành động, biện pháp để khắc phục những vấn đề của họ, nhưng thực tế thì không phải lúc nào cũng được như kỳ vọng.</p>



<p>Nguyên nhân nữa là do thị trường lao động thay đổi rất nhiều và nhanh, nhất là trong bối cảnh xã hội có những thay đổi mạnh mẽ trong 5 &#8211; 7 năm gần đây: Covid-19, AI, những cuộc chiến trên thế giới, giá xăng dầu,… ảnh hưởng lập tức tới toàn bộ các ngành kinh tế. Trong khi đó, đặc thù của giáo dục là tạo ra một sản phẩm và hình dung về sản phẩm đó phải từ 4 năm trước, nhưng 4 năm sau sinh viên mới ra trường, thì rõ ràng cái hình dung về sản phẩm từ 4, 5 năm trước có thể không cập nhật kịp.</p>



<p>Ngoài ra, cần nói đến vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp. Bây giờ, các doanh nghiệp nói là sinh viên thiếu kỹ năng này kia, nhưng doanh nghiệp có trả tiền cho trường để đào tạo những kỹ năng đó đâu. Quay trở lại câu chuyện là phải có chuẩn nghề nghiệp, có danh mục nghề nghiệp và bản mô tả công việc cho từng ngành, trong đó nói rõ cần kỹ năng gì, để từ đó nhà trường, sinh viên có căn cứ điều chỉnh. Bản mô tả công việc đó phải được cập nhật, điều chỉnh hằng năm hoặc 2 năm 1 lần. Nhưng ở ta hiện nay hoàn toàn không có danh sách về thị trường lao động và bản mô tả công việc như vậy. Thông tin về thị trường, về lao động thì rời rạc, không có tính phổ quát. Và hiện có mấy ngành nghề có được những chuẩn đào tạo về kiến thức, kỹ năng của đúng ngành?</p>



<p>Trong câu chuyện này, cần phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp, các đơn vị có tính chất liên minh kết nối giữa nhà trường và các tổ chức nghề nghiệp.</p>



<p><strong>PV:</strong><em>&nbsp;Theo ông, các trường đại học cần thay đổi thế nào để chương trình đào tạo tiệm cận hơn với thực tế công việc?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:&nbsp;</strong>Các mô hình để rút ngắn khoảng cách giữa chương trình đào tạo với thực tế đều đã có. Ví dụ, mô hình về học mà nhúng với môi trường làm việc, phương pháp làm việc dựa trên dự án hoặc những chương trình chất lượng mà trong đó yêu cầu chặt chẽ về thực tập, về kết nối doanh nghiệp,… Vấn đề là các trường triển khai như thế nào, có thực sự muốn điều chỉnh chương trình để đáp ứng nhu cầu thị trường, hay chỉ làm cho đủ giấy tờ?</p>



<p>Ở góc độ quản lý nhà nước thì phải minh bạch về thông tin thị trường lao động, và những thông tin đó phải được kết nối để so sánh được với nhau. Đôi khi chúng ta cứ nhìn vào con số sau 1 năm ra trường thế nào, thấy nhiều người làm trái ngành, hoặc thất nghiệp, thành ra lo lắng. Nhưng biết đâu 10 năm sau, tình hình lại tốt lên? Tuổi trẻ mới ra trường, phải để các bạn ấy trải nghiệm cuộc sống. Quan trọng là thông tin, dữ liệu thực tế phải đầy đủ thì mới có cơ sở cho nhà nghiên cứu phân tích, và nhà trường cũng có căn cứ để thay đổi, bổ sung chương trình đào tạo cho phù hợp.</p>



<p>Việc thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế là câu chuyện của bốn bên: Nhà tuyển dụng &#8211; nhà nước &#8211; nhà trường &#8211; người lao động. Nhà nước cần đưa ra những chính sách phù hợp để tạo động lực, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp gắn kết hơn với nhà trường, gắn kết được lợi ích của hai bên với nhau.</p>



<p><strong>PV:&nbsp;</strong><em>Việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế và mang tính hình thức. Cần làm gì để mối liên kết này trở nên thực chất hơn, thưa ông?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:</strong>&nbsp;Đầu tiên phải có những quy định, chính sách. Ví dụ, Nhà nước ra quy định mức tối thiểu mà doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu phát triển, cho lao động trẻ, và khoản chi đấy được ưu đãi về thuế.</p>



<p>Hiện nay, các trường đại học đều đã chủ động kết nối với doanh nghiệp, rồi tổ chức những cuộc hội thảo, tọa đàm, làm hội chợ, mô hình mời doanh nhân đến giảng bài, mời nhà tuyển dụng đến, nhưng khó nhất là làm tốt đến đâu. Bởi vấn đề lớn nhất là các trường đại học không phải lúc nào cũng đủ tự chủ và nguồn lực tài chính để mời doanh nghiệp về.</p>



<p><strong>PV:</strong>&nbsp;<em>Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi cao, theo ông, những kỹ năng mềm nào sinh viên cần được trang bị ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, để không bị “hụt hơi” và thích nghi được ngay khi bước vào môi trường làm việc thực tế?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:</strong>&nbsp;Ngoài năng lực, cần có 3 kỹ năng cốt lõi, xuyên suốt trong tất cả các ngành, đó là tiếng Anh để tiếp cận được tài liệu trên toàn thế giới, công nghệ để tiếp cận được những tiến bộ công nghệ và kỹ năng học tập suốt đời để trong bất kỳ tình huống nào cũng đáp ứng được sự thay đổi mới của thị trường lao động.</p>



<p>Doanh nghiệp cũng cần cho sinh viên một độ trễ nhất định, tức là không thể nào yêu cầu một sinh viên vừa ra trường đã phải có kinh nghiệm, khả năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống tốt.</p>



<p><strong>PV:&nbsp;</strong><em>Ngoài kiến thức chuyên môn, yếu tố “va chạm thực tế” được nhắc đến nhiều. Vậy làm thế nào để sinh viên có thể tích lũy vốn sống một cách hiệu quả, thưa ông?</em></p>



<p><strong>Tiến sĩ Phạm Hiệp:</strong>&nbsp;Phải tăng số giờ thực tập. Sinh viên phải được đi thực tập ngay từ khoảng học kỳ II. Việc thực tập phải nhúng vào môi trường làm việc, sinh viên phải được sống và làm việc thật sự. Và người hỗ trợ sinh viên trong quá trình thực tập cũng phải được đào tạo về sư phạm, chứ không phải cứ giao việc rồi để họ muốn làm gì thì làm. Việc này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp, và cần có chính sách.</p>



<p>Về phía giảng viên cũng phải có trải nghiệm, kinh nghiệm với thị trường lao động. Điều này giúp họ cập nhật xu thế thị trường, sự phát triển của các ngành nghề, đời sống kinh tế, sản xuất để quay lại giảng dạy, nghiên cứu.</p>



<p><strong>PV:&nbsp;</strong><em>Xin cảm ơn ông!</em></p>



<p class="has-text-align-right"><em>Đăng lại từ <a href="https://vov.vn/xa-hoi/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau-post1280762.vov">VOV</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Thu hẹp khoảng cách đào tạo &#8211; việc làm: Cần bắt đầu từ đâu?" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau/">Thu hẹp khoảng cách đào tạo &#8211; việc làm: Cần bắt đầu từ đâu?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/thu-hep-khoang-cach-dao-tao-viec-lam-can-bat-dau-tu-dau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Minh Thông]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 06 Apr 2026 04:10:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3034</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trong thế giới học thuật, việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín (như được chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Sciences &#8211; WOS) không chỉ là minh chứng cho giá trị khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển danh tiếng cá [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/">“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Trong thế giới học thuật, việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín (như được chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Sciences &#8211; WOS) không chỉ là minh chứng cho giá trị khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển danh tiếng cá nhân cho tác giả. Tuy nhiên, đối với nhiều nhà khoa học, nhất là nhà khoa học trẻ/mới vào nghề, toàn bộ quá trình từ lúc gửi bản thảo đến khi nhận quyết định cuối cùng vẫn thường bị coi là một &#8220;chiếc hộp đen&#8221; đầy mơ hồ. Việc vén màn những gì diễn ra trong “chiếc hộp đen” (black box) – nơi biên tập viên (editor) và người phản biện (reviewer) phối hợp đánh giá sẽ giúp tác giả chủ động hơn và chỉnh sửa, nâng cấp bản thảo để vượt qua các vòng sàng lọc khắt khe. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải mã quy trình biên tập và phản biện kể trên, làm rõ các tiêu chí sàng lọc của biên tập viên và phản biện; đồng thời cung cấp những chiến lược, khuyến nghị giúp các nhà nghiên cứu tăng khả năng vượt qua &#8220;chiếc hộp đen&#8221; để công bố thành công trên các tạp chí quốc tế.</em></p>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Từ bản thảo đến phán quyết</strong></h2>



<p>Quy trình phản biện đồng cấp (peer review) là nền tảng của việc kiểm soát chất lượng trong xuất bản học thuật. Nó được xây dựng như một hệ thống nhiều lớp nhằm sàng lọc và chỉ cho phép những nghiên cứu thực sự có giá trị được công bố (Ware, 2008). Khi bản thảo được gửi đi, bước đầu tiên là khâu kiểm tra hành chính bởi trợ lý biên tập (assistant editor): định dạng, số chữ, cấu trúc bài, trích dẫn, cũng như các yêu cầu kỹ thuật khác. Đây là lớp sàng lọc cơ bản nhưng nghiêm túc, vì biên tập viên không muốn lãng phí thời gian vào những bản thảo không đáp ứng tiêu chuẩn hình thức tối thiểu.</p>



<p>Sau khi vượt qua lớp kiểm tra hành chính, bản thảo được chuyển đến tổng biên tập (chief editor hoặc editor-in-chief); từ đó, tổng biên tập sẽ chuyển đến biên tập viên phụ trách (editor, associate editor hoặc member of editorial board &#8211; tên gọi tùy theo từng tạp chí). Ở giai đoạn này, biên tập viên thực hiện đánh giá như:</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Mức độ phù hợp</em>: Đánh giá tính mới của bản thảo và sự tương thích với mục tiêu, phạm vi (Aims and Scope) cũng như đối tượng độc giả của tạp chí.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Loại bản thảo và dữ liệu</em>: Xác định bản thảo có thuộc loại hình nghiên cứu (ví dụ: thực nghiệm, bán thực nghiệm) hoặc sử dụng loại dữ liệu/phương pháp mà tạp chí chấp nhận hay không.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Tiêu chuẩn chất lượng</em>: Xét duyệt tính thuyết phục của dữ liệu, sự chặt chẽ của phương pháp luận, nền tảng lý thuyết và văn phong học thuật chuyên nghiệp.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Đạo đức nghiên cứu</em>: Rà soát các khai báo bắt buộc về phê duyệt đạo đức (Institutional Review Board &#8211; IRB) và tính minh bạch trong việc sử dụng công cụ AI.</p>



<p>&#8211;&nbsp;<em>Định hướng nội bộ</em>: Cân nhắc dựa trên tỷ lệ chấp nhận (acceptance rate) của tạp chí hoặc các yếu tố “ngầm” nhằm đảm bảo tính đa dạng, như việc tránh đăng quá nhiều bài cùng chủ đề, phương pháp nghiên cứu hoặc quá nhiều tác giả đến từ cùng một quốc gia trong cùng một năm xuất bản.</p>



<p>Vòng này cũng chính là vòng quyết định liệu bản thảo có đáng để đầu tư thời gian của các phản biện hay không (Nicholas et al., 2014). Nếu được đánh giá là có tiềm năng, bản thảo sẽ được gửi đến hai hoặc ba nhà khoa học có chuyên môn phù hợp trong lĩnh vực liên quan. Các phản biện sẽ đánh giá độc lập, khuyết danh và từ đó đưa ra khuyến nghị: chấp nhận (rất hiếm ở ngay vòng đầu tiên), chấp nhận với chỉnh sửa nhỏ (minor revision), yêu cầu chỉnh sửa lớn (major revision), hoặc từ chối (rejection). Cuối cùng, biên tập viên tổng hợp, cân nhắc nội dung, chất lượng, độ nhất quán giữa các phản biện và đưa ra quyết định cuối cùng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Vòng sát hạch ban đầu: Vì sao bản thảo bị từ chối ngay lập tức?</strong></h2>



<p>Để hiểu rõ hơn về cách thức vận hành của các nhóm tiêu chí vừa nêu, chúng ta cần đi sâu vào thực tế khắt khe tại các tòa soạn quốc tế thông qua các chỉ số cụ thể.</p>



<p>Một thực tế mà mọi tác giả cần chấp nhận là các tạp chí quốc tế đều duy trì chỉ số kết quả (KPI &#8211; Key Performance Indicators) nội bộ khắt khe về tỷ lệ chấp nhận bài, thường chỉ ở mức 15-20%, thậm chí thấp hơn. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu: khoảng 60-70% bản thảo sẽ bị từ chối ngay từ vòng sơ loại (desk reject) trước khi có cơ hội được chuyển đến các chuyên gia phản biện.</p>



<p>Ở giai đoạn trên, biên tập viên chỉ mất vài phút để sàng lọc nhanh. Bên cạnh những yếu tố về định dạng hay sự phù hợp với tôn chỉ mục tiêu của tạp chí, chất lượng nội dung chưa đạt chuẩn chính là rào cản lớn nhất khiến bài viết bị loại sớm.</p>



<p>Chất lượng này được soi chiếu qua tính thuyết phục của dữ liệu và sự chặt chẽ của phương pháp luận. Những bản thảo thiếu nhóm đối chứng khi thiết kế thực nghiệm, phân bổ mẫu ngẫu nhiên không rõ ràng hoặc có phân tích thống kê yếu thường bị đánh giá là không đủ độ tin cậy. Thêm vào đó, sự thiếu liên kết logic giữa các phần và kỹ năng viết chưa đạt chuẩn học thuật, như cách đặt vấn đề vòng vo, câu văn dài dòng, sẽ dễ khiến thông điệp cốt lõi của nghiên cứu bị mờ nhạt. Đáng chú ý, mỗi tạp chí đều có &#8220;khẩu vị&#8221; riêng về phương pháp ưu tiên và phong cách hành văn. Do đó, việc nghiên cứu kỹ các bài viết gần đây để điều chỉnh bản thảo cho phù hợp là một bước đi chiến lược không thể bỏ qua.</p>



<p>Thực tế, tỷ lệ &#8220;desk reject&#8221; ở nhiều tạp chí uy tín hiện nay thường duy trì ở mức cao, dao động từ 30% đến hơn 70% (Chen, 2025). Trong đó, sự không phù hợp với mục tiêu, phạm vi của tạp chí (chiếm 55-72%) và sự thiếu hụt tính mới trong đóng góp khoa học (khoảng 52%) chính là hai rào cản phổ biến nhất khiến bản thảo bị loại sớm (Menon và cộng sự, 2020; Wu và cộng sự, 2024). Đáng chú ý, sự sàng lọc này càng trở nên quyết liệt hơn trong bối cảnh học thuật hiện đại, khi các vấn đề về đạo đức nghiên cứu và tính minh bạch của AI đang trở thành tâm điểm của quan ngại. Việc thiếu khai báo phê duyệt đạo đức (IRB), không công bố việc sử dụng công cụ AI, hay bất kỳ nghi vấn nào về tính chính danh của ý tưởng đều có thể dẫn đến quyết định từ chối gần như ngay lập tức ở các tạp chí uy tín (COPE, 2019).</p>



<p>Biên tập viên thường chỉ cần một lý do hợp lệ và rõ ràng để bấm nút từ chối. Vì vậy, nguyên tắc cốt lõi là hãy dành thời gian loại bỏ mọi điểm yếu nhỏ nhất có thể, từ định dạng, trích dẫn, framing vấn đề, đến việc làm rõ đóng góp, để không vô tình trao cho họ một cái cớ dễ dàng để loại bài.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chọn người phản biện: Họ là ai và họ tìm gì?</strong></h2>



<p>Khi bản thảo vượt qua vòng sơ loại, biên tập viên sẽ bắt đầu tìm kiếm và mời người phản biện. Quy trình này không có một công thức duy nhất mà phụ thuộc vào phong cách cá nhân và định hướng của từng tạp chí. Trong khi một số tạp chí thường ưu tiên nguồn phản biện từ cơ sở dữ liệu chuyên gia nội bộ (Hình 1) hoặc mạng lưới đồng nghiệp uy tín, các tạp chí mới hoặc các số chuyên đề (Special Issue) có xu hướng linh hoạt hơn khi tìm kiếm từ danh sách tác giả vừa công bố, thậm chí là các nghiên cứu sinh xuất sắc để đảm bảo tính cập nhật và tốc độ xử lý.</p>



<p>Về chiến lược mời phản biện, biên tập viên thường cân nhắc giữa hai phương án:</p>



<p><em>&#8211; Mời đúng số lượng cần thiết (thường là 2-3 người)</em>: Cách tiếp cận này giúp biên tập viên dễ dàng kiểm soát nội dung phản hồi, tránh tình trạng nhận được quá nhiều ý kiến mâu thuẫn. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là rủi ro kéo dài thời gian nếu một trong số họ từ chối hoặc không nộp báo cáo đúng hạn.</p>



<p><em>&#8211; Mời dư số lượng (có thể gửi thư mời từ 5-7 người cùng lúc)</em>: Đây là chiến lược thường thấy để đẩy nhanh tiến độ, phòng trường hợp nhiều người từ chối lời mời. Ưu điểm là rút ngắn thời gian chờ đợi để có đủ số lượng báo cáo tối thiểu. Tuy nhiên, chiến lược này sẽ đặt ra thách thức cho biên tập viên trong việc tổng hợp các ý kiến phản biện (nếu các ý kiến đối lập nhau) và đưa ra quyết định cuối cùng một cách công bằng và nhất quán.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/798128596_screenshot-2026-04-03-at-07.06.14.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1. Ảnh chụp từ một cơ sở dữ liệu các chuyên gia từ một tạp chí khoa học</em></figcaption></figure>



<p>Người phản biện, phần lớn là các học giả bận rộn và làm việc hoàn toàn tình nguyện, sẽ đọc và đánh giá toàn diện bản thảo. Dưới đây là bảng tổng hợp các tiêu chuẩn mà người phản biện thường tập trung khi đọc bản thảo:</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/168545578_screenshot-2026-04-03-at-07.14.19.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Bảng 1. Danh mục kiểm tra (checklist) dành cho tác giả</em></figcaption></figure>



<p>Người phản biện thường hình thành đánh giá ban đầu chỉ trong khoảng 15-30 phút đầu tiên và chỉ tập trung vào các vấn đề nền tảng trước khi xét đến chi tiết. Một bản thảo mắc phải các lỗi kể trên sẽ khiến họ dễ dàng đưa ra đề xuất từ chối ngay ở vòng đầu tiên nếu các vấn đề đó mang tính cốt lõi và khó khắc phục.</p>



<p>Ngoài ra, người phản biện kỳ vọng các vấn đề lớn phải được giải quyết triệt để ngay ở vòng phản biện thứ hai, vì họ thường không phản biện một bài viết quá 2–3 vòng. Do đó, việc sử dụng checklist này không chỉ giúp bạn xoa dịu áp lực cho người phản biện mà còn trực tiếp gia tăng cơ hội được chấp nhận cho bản thảo.</p>



<p><strong>Quyền quyết định cuối và thời gian</strong></p>



<p>Dù người phản biện cung cấp các nhận xét chuyên môn quan trọng, nhưng biên tập viên mới là người giữ quyền quyết định cuối cùng. Trong những trường hợp ý kiến phản biện mâu thuẫn nhau, biên tập viên có thể tự đưa ra đánh giá dựa trên kinh nghiệm cá nhân hoặc mời thêm người phản biện khác để đảm bảo tính khách quan. Quyền lực này giúp duy trì sự cân bằng và đảm bảo rằng tạp chí không bỏ lỡ những nghiên cứu có giá trị chỉ vì một đánh giá khắt khe quá mức hoặc thiếu công bằng. Bảng 2 minh hoạ cách biên tập viên xử lý các kịch bản phản biện khác nhau để đảm bảo tính khách quan và chất lượng học thuật.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter"><img decoding="async" src="https://storage.tapchigiaoduc.com.vn//NLVAN/2026/04/03_04_2026/VAN_AN/986621263_screenshot-2026-04-03-at-07.20.36.png" alt="Tạp chí giáo dục"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Bảng 2. Ma trận quyết định của biên tập viên trước các &#8220;kịch bản&#8221; phản biện</em></figcaption></figure>



<p>Về mặt thời gian, quy trình phản biện quốc tế thường là một hành trình dài hơi và thực tế thường chậm hơn nhiều so với các thông số lý tưởng trên website của tạp chí. Trong khi quyết định sơ bộ có thể đến trong vòng vài tuần, lộ trình để đi đến quyết định sau phản biện thường kéo dài nhiều tháng, thậm chí có thể lên tới nhiều năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào lĩnh vực. Sự chậm trễ này phần lớn xuất phát từ đặc thù công việc của các biên tập viên và phản biện viên, khi họ thường chỉ có thể xử lý bản thảo trong những khoảng thời gian rảnh rỗi giữa các nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu chính. Do đó, việc quá trình phản biện kéo dài vượt quá thời hạn dự kiến (thông báo trên website tạp chí) là điều không hiếm gặp, thậm chí thường xuyên trong giới học thuật.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<h2 class="wp-block-heading"><em>&#8220;Sự khác biệt giữa một bản thảo bị loại sớm và một bản thảo được chấp nhận thường không nằm ở chất lượng tuyệt đối, mà nằm ở mức độ hiểu biết về &#8220;luật chơi&#8221; và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của tác giả.&#8221;</em></h2>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Chiến lược cho tác giả: Chủ động và biết “kết nối đúng cách”</strong></h2>



<p>Để tăng cơ hội thành công, thay vì gửi bài một cách thụ động, tác giả cần chủ động hơn trong việc kết nối với cộng đồng học thuật. Việc tham dự các hội thảo để gặp gỡ trực tiếp biên tập viên hoặc gửi email thăm dò (pre-submission) kèm tiêu đề và tóm tắt nghiên cứu có thể giúp tác giả nhận được những phản hồi sớm về mức độ quan tâm của tạp chí. Ngoài ra, việc nộp bài cho các số đặc biệt (Special Issue) thường mang lại cơ hội tốt hơn do có trọng tâm nghiên cứu cụ thể. Khi nộp bài ở số đặc biệt, bản thảo sẽ tránh được rủi ro bị từ chối do lệch phạm vi, mà còn giúp nghiên cứu dễ dàng tiếp cận đúng người phản biện lẫn độc giả mục tiêu, và tăng mức độ nhận diện trong các cộng đồng nghiên cứu chuyên môn hẹp.</p>



<p>Cuối cùng, một trong những cách hiệu quả nhất để hiểu rõ &#8220;luật chơi&#8221; là tình nguyện tham gia làm người phản biện và hơn nữa làm biên tập viên cho các tạp chí trong ngành. Trải nghiệm này giúp các nhà nghiên cứu nhìn nhận bản thảo từ phía đối diện, từ đó nhận ra những sai sót phổ biến và học cách trình bày nghiên cứu của mình một cách thuyết phục nhất trước những đồng nghiệp khắt khe. Việc tập trung vào một chủ đề nhất định trong các số này giúp bản thảo tránh được rủi ro bị từ chối vì sai lệch về phạm vi, đồng thời gia tăng đáng kể khả năng hiển thị trong các cộng đồng nghiên cứu chuyên biệt.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Thay lời kết &#8211; Hiểu hệ thống để đi đường dà</strong></h2>



<p>Quy trình phản biện không phải là hoàn hảo, nhưng nó vẫn là bộ lọc cần thiết và hiệu quả nhất để bảo vệ chất lượng và uy tín của tri thức học thuật. Biên tập viên phải đối mặt với áp lực về tốc độ xử lý và tỷ lệ chấp nhận; người phản biện làm việc tình nguyện trong những khoảng thời gian vụn vặt. Khi nhìn nhận hệ thống theo cách thực tế và nhân văn như vậy, chúng ta sẽ bớt cá nhân hóa mỗi lần bị từ chối và bắt đầu coi phản hồi, dù tích cực hay tiêu cực, như dữ liệu quý giá để cải thiện bản thân và năng lực nghiên cứu. Sự khác biệt giữa một bản thảo bị loại sớm và một bản thảo đi đến vòng cuối, thậm chí được chấp nhận, thường không nằm ở chất lượng tuyệt đối, mà nằm ở mức độ hiểu biết về cuộc chơi và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của tác giả. Hành trình xuất bản học thuật không chỉ dừng lại ở việc đăng bài mà còn là quá trình rèn luyện tư duy phê phán, khả năng lập luận chặt chẽ và thái độ kiên trì để đóng góp giá trị thực sự cho cộng đồng tri thức. Hiểu rõ những gì diễn ra phía sau cánh gà chính là bước đầu tiên và quan trọng nhất để biến những thách thức thành nền tảng vững chắc cho những thành công bền vững sau này.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p>Committee on Publication Ethics. (2019).&nbsp;<em>COPE ethical guidelines for peer reviewers</em>.</p>



<p>Menon, V., Varadharajan, N., Praharaj, S. K., &amp; Ameen, S. (2020). Why Do Manuscripts Get Rejected? A Content Analysis of Rejection Reports from the Indian Journal of Psychological Medicine. I<em>ndian Journal ofPsychological Medicine</em>,&nbsp;<em>44(</em>1), 59–65.&nbsp;<a href="https://doi.org/10.1177/0253717620965845">https://doi.org/10.1177/0253717620965845</a></p>



<p>Nicholas, D., Watkinson, A., Jamali, H. R., Herman, E., Tenopir, C., Volentine, R., Allard, S., &amp; Levine, K. (2014).&nbsp;<em>Peer review: still king in the digital age. Learned Publishing</em>,&nbsp;<em>28</em>(1), 15–21.&nbsp;<a href="https://doi.org/10.1087/20150104">https://doi.org/10.1087/20150104</a></p>



<p>Ware, M. (2008).&nbsp;<em>Peer review: Benefits, Perceptions and Alternatives</em>.</p>



<p>Wu, J., Sanchez-Diaz, I., Yang, Y., &amp; Qu, X. (2024). Why is your paper rejected? Lessons learned from over 5000 rejected transportation papers.&nbsp;<em>Communications in Transportation Research</em>,&nbsp;<em>4</em>, 100129. https://doi.org/10.1016/j.commtr.2024.100129</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Đăng lại từ <a href="https://tapchigiaoduc.com.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te-4122.htm">Tạp chí Giáo dục</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/">“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/mo-chiec-hop-den-tim-hieu-ve-quy-trinh-va-nguyen-tac-lam-viec-giua-bien-tap-vien-va-nguoi-phan-bien-trong-cac-tap-chi-quoc-te/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Apr 2026 02:33:18 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3030</guid>

					<description><![CDATA[<p>Kết quả từ một đại dự án kéo dài nhiều năm đã phơi bày một sự thật trần trụi về độ tin cậy của các công trình khoa học, nhưng đồng thời cũng mở ra một tia hy vọng mới cho tương lai. Hàng trăm nhà khoa học đã rà soát kỹ lưỡng hàng nghìn [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/">Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Kết quả từ một đại dự án kéo dài nhiều năm đã phơi bày một sự thật trần trụi về độ tin cậy của các công trình khoa học, nhưng đồng thời cũng mở ra một tia hy vọng mới cho tương lai.</em></p>
</blockquote>



<p>Hàng trăm nhà khoa học đã rà soát kỹ lưỡng hàng nghìn bài báo nghiên cứu trong khuôn khổ một dự án trọng điểm nhằm xác định liệu các thí nghiệm và phân tích dữ liệu có thể lặp lại được hay không.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large is-resized"><img decoding="async" width="682" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-682x1024.png" alt="" class="wp-image-3031" style="width:687px;height:auto" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-682x1024.png 682w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image-200x300.png 200w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/04/image.png 687w" sizes="(max-width: 682px) 100vw, 682px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: chụp bởi <a href="https://unsplash.com/@kellysikkema?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Kelly Sikkema</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/person-holding-white-printer-paper-0iKjge_aOVo?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>Một đại dự án kéo dài bảy năm, khảo sát 3.900 bài báo khoa học xã hội, đã khép lại với một phát hiện đáng suy ngẫm: các nhà nghiên cứu chỉ có thể tái lập kết quả của một nửa số nghiên cứu mà họ đã thử nghiệm.</p>



<p>John Ioannidis, một nhà khoa học tại Đại học Stanford (California), người không trực tiếp tham gia chương trình này, nhận định rằng các kết luận từ sáng kiến mang tên Dự án Hệ thống hóa Niềm tin vào Nghiên cứu và Bằng chứng Mở (SCORE) là điều đã được “nhiều người dự đoán”. Ông cho rằng dù quy mô và phạm vi của dự án rất ấn tượng, nhưng kết quả lại “không gây ngạc nhiên”, bởi chúng tương đồng với những phát hiện từ các nghiên cứu nhỏ hơn trước đó.</p>



<p>Văn hóa &#8220;xuất bản hay là chết&#8221; (publish or perish) được xem là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng về khả năng tái lập kết quả nghiên cứu.</p>



<p>Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu &#8220;cuộc khủng hoảng&#8221; về độ tin cậy của các kết quả khoa học trong hơn một thập kỷ qua. Họ nhận thấy rằng nhiều thí nghiệm khoa học không thể lặp lại &#8211; không chỉ trong lĩnh vực khoa học xã hội mà còn lan sang cả y sinh học.</p>



<p>Những phát hiện của SCORE &#8211; được đúc kết từ công trình của 865 nhà khoa học khi rà soát các bài báo công bố trên 62 tạp chí thuộc các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, tâm lý học và xã hội học &#8211; không nhất thiết đồng nghĩa với việc nền khoa học đang vận hành kém hiệu quả. Theo Tim Errington, trưởng bộ phận nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Mở (đơn vị điều phối một phần dự án), một số kết quả không thể lặp lại có thể do sai sót khách quan hoặc số ít trường hợp hành vi sai trái. Tuy nhiên, SCORE nhận thấy rằng trong nhiều trường hợp, các bài báo đơn giản là không cung cấp đủ dữ liệu hoặc chi tiết kỹ thuật để người sau có thể tái lập thí nghiệm một cách chính xác. Các phương pháp hoặc mô hình phân tích mới cũng có thể dẫn đến những kết quả khác biệt một cách hợp lệ. Điều này có nghĩa là, thay vì tiếp nhận các bài báo một cách hời hợt, giới nghiên cứu nên xem mỗi công trình là “một mảnh ghép trong bức tranh tổng thể”, Errington nhấn mạnh.</p>



<p>Kết quả nghiên cứu của dự án đã được công bố hôm nay qua ba bài báo trên tạp chí Nature. Nhóm SCORE đã kiểm chứng xem các kết quả công bố trước đó có còn đứng vững hay không dựa trên ba tiêu chí: khả năng tái lập phân tích, tính bền vững và khả năng sao chép thí nghiệm. Dự án được Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến Quốc phòng Hoa Kỳ tài trợ, với mục tiêu cuối cùng là xây dựng các công cụ tự động nhằm định chuẩn điểm tin cậy cho các phát hiện khoa học xã hội.</p>



<p>Ông Ioannidis nhận định dự án SCORE “mang lại hy vọng rằng cộng đồng khoa học hiện đang nhìn nhận những vấn đề then chốt này một cách cực kỳ nghiêm túc”.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Kiểm tra, kiểm tra lại và lặp lại.</strong></h2>



<p>Một trong những thước đo độ tin cậy của một bài báo là khả năng tái lập (reproducibility) &#8211; nghĩa là khi phân tích chính xác cùng một bộ dữ liệu phải cho ra cùng một kết quả. Khi các thành viên nhóm SCORE nỗ lực tái lập phân tích dữ liệu của 600 bài báo, họ nhận thấy chỉ có 145 bài cung cấp đủ chi tiết để thực hiện. Và trong số này, chỉ 53% có thể tái lập sao cho kết quả khớp chính xác. Tuy nhiên, Errington lý giải rằng nhiều thất bại có thể bắt nguồn từ việc các nhà nghiên cứu của dự án phải tự phỏng đoán quy trình hoặc khôi phục dữ liệu thô. Việc chia sẻ dữ liệu mở và minh bạch hóa phương pháp luận sẽ là chìa khóa để giải quyết vấn đề này.</p>



<p>Dự án nghiên cứu quy mô lớn về khả năng tái lập kết quả đã thất bại trong việc xác thực hàng chục nghiên cứu y sinh học.</p>



<p>Nhóm SCORE cũng kiểm tra tính vững chắc của các nghiên cứu: liệu một phương án phân tích thay thế hợp lý trên cùng dữ liệu gốc có cho ra kết luận tương đương hay không. Trong số 100 bài báo được soi xét, khoảng ba phần tư đã vượt qua bài kiểm tra. Tuy nhiên, có 2% trường hợp phân tích mới lại đưa ra kết luận trái ngược hoàn toàn với bản gốc. “Điều đó thật đáng lo ngại,” Errington nói. Ông cho biết thêm, các công cụ tự động mới nổi chạy nhiều kịch bản phân tích khả thi trên cùng một dữ liệu &#8211; một kỹ thuật gọi là phân tích đa vũ trụ &#8211; có thể cải thiện tính bền vững của các nghiên cứu trong tương lai bằng cách cho phép các nhà nghiên cứu đối soát các phương pháp khác nhau trước khi công bố.</p>



<p>Cuối cùng, SCORE thử nghiệm khả năng sao chép (replicability) của các bài báo &#8211; nhiệm vụ thách thức nhất trong cả ba. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng lặp lại toàn bộ thí nghiệm bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu mới từ đầu. Trong số 164 nghiên cứu mục tiêu, họ chỉ có thể sao chép thành công 49% với ý nghĩa thống kê rõ ràng. Con số này gần như tương đồng với kết quả từ các nỗ lực tái lập khoa học trước đây.</p>



<p>Các nghiên cứu tiền nhiệm từng cố gắng nâng cao tỷ lệ tái lập bằng cách áp dụng các quy trình thí nghiệm chi tiết và tối ưu nhất. Một nghiên cứu đáng chú ý năm 2023, do một trong những lãnh đạo của SCORE đồng tác giả, đã cho thấy kết quả ấn tượng khi tuân thủ các quy trình như vậy, nhưng sau đó đã bị rút lại vào năm 2024 do những lo ngại về thủ tục thực hiện.</p>



<p>Dựa trên kết quả của SCORE và các dự án tương tự, nhà kinh tế học Abel Brodeur, người sáng lập Viện Nghiên cứu Sao chép tại Đại học Ottawa, cho biết ông luôn giữ thái độ hoài nghi trước các bài báo mới công bố. Ông chia sẻ: “Tôi sẽ chờ đợi nhiều năm để xem có thêm các nghiên cứu khác thực hiện phân tích tương đương và tìm ra kết quả tương tự hay không” trước khi thực sự tin tưởng vào bất kỳ phát hiện nào.</p>



<p>Độc lập với SCORE, Brodeur đã công bố một bài báo trên tạp chí Nature tuần này về khả năng tái lập và tính ổn định của các nghiên cứu kinh tế và chính trị. Sử dụng hai chiến lược &#8211; đánh giá bởi các chuyên gia độc lập và tổ chức các sự kiện kiểm chứng nhóm trong một ngày &#8211; ông và các đồng nghiệp đã thu được kết quả khả quan hơn so với SCORE. Trong số 110 bài báo, 85% có thể tái lập bằng phương pháp tính toán. Một lý do khả thi là nhóm nghiên cứu chỉ xem xét các công trình công bố trong giai đoạn 2022–2023, thời điểm mà theo Brodeur, các chuẩn mực về công khai dữ liệu và mã nguồn đã tốt hơn nhiều so với trước đây. Trong khi đó, các bài báo của SCORE trải dài từ năm 2009 đến 2018. “Mọi thứ đang chuyển biến tốt hơn”, Brodeur khẳng định.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Kiểm tra khả năng dự đoán</strong></h2>



<p>Theo Errington, vì các nỗ lực tái lập thủ công rất tốn kém và mất thời gian, việc ứng dụng các công cụ tự động &#8211; bao gồm cả trí tuệ nhân tạo &#8211; để dự đoán tính hợp lý của một bài báo sẽ mang lại lợi ích to lớn cho ngành khoa học.</p>



<p>Liệu trí tuệ nhân tạo có đang dẫn đến cuộc khủng hoảng về khả năng tái lập kết quả trong khoa học?</p>



<p>Giá trị của các công cụ này thường được định chuẩn dựa trên khả năng của con người, vì vậy nhóm SCORE đã bắt đầu bằng việc kiểm tra xem con người có thể dự đoán chính xác khả năng tái lập của các bài báo hay không. Hai chiến lược đã được thử nghiệm: một qua thị trường dự đoán trực tuyến và một qua thảo luận nhóm có cấu trúc. Theo bản thảo đăng tải trên máy chủ lưu trữ bản thảo MetaArXiv hôm nay, các chiến lược này đạt độ chính xác từ 76% đến 78%.</p>



<p>Những nỗ lực ban đầu của nhóm SCORE nhằm thực hiện điều tương tự với các công cụ tự động đời cũ đã không mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, chưa có nhóm nào trong số đó sử dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện đại như các mô hình ngôn ngữ lớn.</p>



<p>Andrew Tyner tại Trung tâm Khoa học Mở đang dẫn đầu một Thử thách Dự đoán Khả năng Tái tạo độc lập với SCORE, hiện đang thử nghiệm các công cụ tính toán tiên tiến hơn, bao gồm cả các mô hình ngôn ngữ lớn. Cuộc thi này sẽ trao giải thưởng tiền mặt cho những giải pháp xuất sắc nhất.</p>



<p>Trong vòng đầu tiên vào tháng 10 năm ngoái, mười đội sử dụng trí tuệ nhân tạo đã đạt điểm số thấp hơn cả mức độ ngẫu nhiên. Nhưng đến vòng thứ hai vừa kết thúc tháng trước, mô hình trí tuệ nhân tạo tốt nhất đã đạt độ chính xác 68,5%. Vòng thứ ba hiện vẫn đang tiếp diễn.</p>



<p>Errington nhận định những kết quả này rất đáng khích lệ, cho thấy trí tuệ nhân tạo một ngày nào đó sẽ hữu ích trong việc thẩm định khoa học. Dù vậy, ông cũng lưu ý rằng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phía trước: &#8220;Chúng ta thậm chí còn chưa tiến đến gần đích.&#8221;</p>



<p class="has-text-align-right"><em>Dịch từ <a href="https://www-nature-com.aalto-libproxy.idm.oclc.org/articles/d41586-026-00955-5">Nature</a></em></p>



<p></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/">Khoa học xã hội và cuộc khủng hoảng niềm tin: Khi một nửa các nghiên cứu không thể tái lập</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/khoa-hoc-xa-hoi-va-cuoc-khung-hoang-niem-tin-khi-mot-nua-cac-nghien-cuu-khong-the-tai-lap/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 27 Mar 2026 07:19:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3027</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài viết này được dịch hoàn toàn bởi AI và chưa thông qua khâu hiệu đính Tự do học thuật không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng. Nó là nền tảng của sự đổi mới và trao đổi học thuật, và do đó là điều kiện tiên quyết để tuân thủ việc [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/">Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết này được dịch hoàn toàn bởi AI và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<p>Tự do học thuật không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng. Nó là nền tảng của sự đổi mới và trao đổi học thuật, và do đó là điều kiện tiên quyết để tuân thủ việc xuất bản học thuật và bình duyệt học thuật. Nếu thiếu tự do học thuật, các học giả sẽ tự kiểm duyệt, sự đổi mới sẽ bị đình trệ, và các trường đại học sẽ không còn là không gian của sự nghiên cứu phê phán và sản xuất tri thức. Khi các học giả không thể tự do theo đuổi những vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, việc sản xuất tri thức sẽ bị hạn chế.</p>



<p>Các xu hướng toàn cầu gần đây rất đáng báo động.&nbsp;<a href="https://www.v-dem.net/our-work/research-programs/academic-freedom/">Chỉ số Tự do Học thuật</a>&nbsp;(AFI) cho thấy mức trung bình toàn cầu đang giảm dần trong thập kỷ qua. Trên thực tế, vào năm 2023, tỷ lệ dân số thế giới sống trong điều kiện không gian học thuật bị hạn chế nghiêm trọng hoặc bị hạn chế cao hơn mức được ghi nhận vào năm 1973 (xem hình bên dưới).</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter" id="attachment_61713"><img decoding="async" src="https://scholarlykitchen.sspnet.org/wp-content/uploads/2026/03/figure-1-1024x419.jpg" alt="charts showing an increase over time in groups that are restricted" class="wp-image-61713"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1: Dân số toàn cầu theo nhóm tình trạng AFi năm 1973, 2006 và 2023</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading">Tự do học thuật là trụ cột trung tâm cho sự đổi mới và trao đổi học thuật.</h2>



<p>Theo báo cáo thường niên&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/">&#8220;Học giả gặp nguy hiểm</a>&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/free-to-think-reports/">&#8211; Tự do tư duy&#8221;</a>&nbsp;năm 2024, đã có 395 vụ tấn công được báo cáo nhằm vào cộng đồng giáo dục đại học trên 49 quốc gia. Các vụ tấn công này bao gồm từ sự can thiệp chính trị vào chương trình giảng dạy đến việc quấy rối các học giả và thậm chí là đóng cửa toàn bộ các cơ sở giáo dục. Trên thực tế, tự do học thuật thường là một trong những nạn nhân đầu tiên khi các chuẩn mực dân chủ bị xói mòn. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề chỉ giới hạn ở các chế độ độc tài hay các quốc gia đang trải qua sự suy thoái dân chủ nghiêm trọng. Nó cũng đang xảy ra ở những nền dân chủ tưởng chừng như đã được củng cố vững chắc.</p>



<p>Theo Liên minh các nhà khoa học quan tâm và các học giả gặp rủi ro, sự can thiệp chính trị vào quản trị và giảng dạy đại học đã&nbsp;<a href="https://www.ucs.org/resources/science-and-democracy-under-siege">gia tăng đến mức chưa từng thấy</a>&nbsp;ở Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai. Những nỗ lực ở cấp tiểu bang nhằm hạn chế nội dung giảng dạy — đặc biệt là trong các lĩnh vực như chủng tộc, giới tính, lịch sử và khí hậu — báo hiệu một xu hướng đáng lo ngại. Khi các trường đại học trở thành chiến trường kiểm soát tư tưởng, quyền tự chủ vốn là nền tảng của tính liêm chính và đổi mới trong học thuật sẽ bị đe dọa.</p>



<p>Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các cuộc thanh trừng quy mô lớn đối với giới học thuật sau cuộc đảo chính năm 2016 đã tàn phá quyền tự chủ của các trường đại học. Đáp lại một bức thư công khai, hàng nghìn học giả Thổ Nhĩ Kỳ đã bị sa thải. Tại Hungary, việc chính phủ kiểm soát nguồn tài trợ nghiên cứu và việc cưỡng bức di dời Đại học Trung Âu cho thấy quyền lực chính trị có thể định hình lại bối cảnh học thuật bằng cách làm mất uy tín toàn bộ các ngành học và thể chế. Những ví dụ này nhấn mạnh rằng tự do học thuật rất mong manh và sự xói mòn của nó đang tăng tốc — điều này, giống như ở Mỹ, đã xảy ra trong các bối cảnh tự do, ổn định trước đây mà không thường xuyên có xung đột hoặc khủng hoảng.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Tại sao tự do học thuật lại quan trọng đối với ngành xuất bản</h2>



<p>Tại sao các nhà xuất bản nên quan tâm? Bởi vì xuất bản là huyết mạch của sự trao đổi và tranh luận học thuật. Nếu tự do học thuật sụp đổ, thì tính toàn vẹn của nghiên cứu cũng sẽ sụp đổ. Các tác giả và người đánh giá lo sợ bị trả đũa có thể tự kiểm duyệt. Các biên tập viên dưới áp lực chính trị có thể né tránh các chủ đề gây tranh cãi. Kết quả là gì? Sự thu hẹp quan điểm và sự bóp méo quá trình sản xuất tri thức sẽ cản trở sự đổi mới và sáng tạo trong các sản phẩm học thuật.</p>



<p>Do đó, các nhà xuất bản không thể giữ thái độ trung lập. Họ đã thiết lập các chuẩn mực, cung cấp quyền truy cập mở và thiết lập các quy trình bảo vệ tự do học thuật và tính toàn vẹn của nghiên cứu. Trong thời đại mà các cuộc tấn công nhằm vào học giả và sinh viên, các tổ chức học thuật và quá trình sản xuất tri thức ngày càng gia tăng, các nhà xuất bản không phải là những người ngoài cuộc — họ là những bên liên quan. Chính sách và thực tiễn của họ có thể làm tăng thêm tính dễ bị tổn thương hoặc thúc đẩy khả năng phục hồi. Đây là một trách nhiệm vô cùng to lớn.</p>



<h3 class="wp-block-heading">NHỮNG THÁCH THỨC MÀ NHÀ XUẤT BẢN PHẢI ĐỐI MẶT</h3>



<p>Ngành xuất bản học thuật hoạt động trong một môi trường phức tạp, nơi áp lực thương mại giao thoa với thực tế chính trị. Ba thách thức nổi bật là:</p>



<p><strong>Những rào cản đối với việc tiếp cận và xuất bản</strong></p>



<p>Lệ phí xử lý bài báo (APC) cao khiến các học giả ở các quốc gia thu nhập thấp và vùng xung đột không thể đóng góp vào việc sản xuất tri thức toàn cầu. Sự bất bình đẳng này làm suy yếu tính đa dạng và duy trì sự mất cân bằng về cấu trúc. Các chiến lược truy cập mở và miễn phí lệ phí cho các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là những chính sách mà hầu hết các nhà xuất bản học thuật đang tích cực theo đuổi. Con đường này cần được bổ sung bằng việc tăng cường sự hiện diện của các học giả từ các nước đang phát triển trong ban biên tập, với tư cách là tác giả và người đánh giá.</p>



<p><strong>Rủi ro về an toàn đối với tác giả</strong></p>



<p>Trong các chế độ chính trị đàn áp hoặc bối cảnh xung đột, việc công bố một số nghiên cứu nhất định có thể gây nguy hiểm cho các học giả. Nếu không có quy trình nộp bài an toàn và tùy chọn ẩn danh tác giả, các học giả, người đánh giá và biên tập viên có thể phải đối mặt với sự quấy rối hoặc bức hại. Các nhà xuất bản học thuật nên đầu tư vào sự an toàn của cơ sở hạ tầng nộp và đánh giá kỹ thuật số của họ và phát triển các tiêu chuẩn minh bạch trên toàn ngành về việc ẩn danh tác giả cho các học giả có nguy cơ.</p>



<p><strong>Tự kiểm duyệt và áp lực biên tập</strong></p>



<p>Sự can thiệp chính trị và việc cắt giảm ngân sách có thể dẫn đến kiểm duyệt trong giới học giả, cả công khai và ngầm. Các biên tập viên có thể tránh các chủ đề gây tranh cãi để bảo vệ tạp chí hoặc tổ chức của họ. Các tác giả có thể làm giảm nhẹ kết quả nghiên cứu hoặc lựa chọn từ ngữ cẩn trọng để giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc công bố nghiên cứu của mình. Những động thái này đe dọa tính toàn vẹn của giới học thuật.</p>



<p>Trong bối cảnh đó, các nhà xuất bản phải hành động để thiết lập các cơ quan bảo vệ tự do học thuật, chống lại các nỗ lực kiểm duyệt của chính phủ và cung cấp đào tạo cho các nhóm biên tập và người đánh giá để chống lại việc tự kiểm duyệt.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Bảy hành động mà các nhà xuất bản học thuật có thể thực hiện</h2>



<p><strong>1. Xây dựng các hướng dẫn rõ ràng và người hòa giải.</strong></p>



<p>Các nhà xuất bản cần những tiêu chuẩn minh bạch, áp dụng rộng rãi trong toàn ngành để bảo vệ tính độc lập biên tập và tự do học thuật. Những hướng dẫn này cần nêu rõ cách ứng phó với sự can thiệp chính trị, các nỗ lực kiểm duyệt hoặc áp lực từ các tác nhân bên ngoài. Việc bổ nhiệm người hòa giải trong các tổ chức xuất bản có thể cung cấp cho các học giả và biên tập viên một kênh đáng tin cậy để nêu lên những mối quan ngại. Điều này không chỉ đơn thuần là tuân thủ quy định mà còn thể hiện cam kết về tính liêm chính.</p>



<p><strong>2. Hỗ trợ học sinh có nguy cơ bỏ học</strong></p>



<p>Tự do học thuật đang bị đe dọa ở nhiều nơi trên thế giới. Các nhà xuất bản có thể đóng vai trò quan trọng bằng cách hỗ trợ các học giả gặp rủi ro. Điều này bao gồm việc cung cấp quyền truy cập miễn phí hoặc được trợ cấp vào các tạp chí và cơ sở dữ liệu, cũng như các cơ hội xuất bản chuyên biệt cho các học giả bị mất việc, và hợp tác với các sáng kiến ​​như&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/">Scholars At Risk</a>&nbsp;. Những biện pháp như vậy giúp đảm bảo rằng những tiếng nói dễ bị tổn thương và bị đàn áp không bị dập tắt.</p>



<p><strong>3. Đảm bảo quy trình nộp hồ sơ an toàn</strong></p>



<p>Đối với các học giả nghiên cứu những chủ đề gây tranh cãi — như nghiên cứu giới, chính trị Trung Đông hoặc nghiên cứu khí hậu — việc giữ bí mật danh tính có thể là vấn đề an toàn. Các nhà xuất bản nên phát triển các kênh nộp bài an toàn và các tùy chọn ẩn danh để bảo vệ danh tính mà không làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn khoa học. Cân bằng giữa tính minh bạch và an ninh là một thách thức, nhưng điều này rất cần thiết đối với các học giả sống và làm việc trong hoặc về các bối cảnh đàn áp.</p>



<p><strong>4. Phản đối việc chính trị hóa nghiên cứu</strong></p>



<p>Khi chính phủ cố gắng áp đặt chương trình nghiên cứu hoặc cắt giảm ngân sách cho toàn bộ các ngành học, các nhà xuất bản phải lên tiếng. Những tuyên bố công khai bảo vệ tự do học thuật và độc lập biên tập sẽ gửi đi một thông điệp mạnh mẽ. Các nhà xuất bản cũng nên chống lại áp lực loại trừ hoặc cắt giảm các lĩnh vực học thuật đang bị tấn công mạnh mẽ — chẳng hạn như nghiên cứu giới, nghiên cứu về người đồng tính, nghiên cứu hậu thuộc địa và nghiên cứu về người khuyết tật.</p>



<p><strong>5. Thúc đẩy sự công bằng thông qua quyền truy cập mở</strong></p>



<p>Truy cập mở không chỉ là một mô hình kinh doanh mà còn là một yêu cầu thiết yếu về bình đẳng. Các nhà xuất bản nên tìm hiểu các mô hình toàn diện nhằm giảm phí xuất bản (APC) hoặc miễn phí cho các học giả ở các khu vực thu nhập thấp hoặc bị ảnh hưởng bởi xung đột. Tri thức không nên là đặc quyền chỉ dành cho những người được tài trợ tốt. Bằng cách thúc đẩy truy cập bình đẳng, các nhà xuất bản giúp dân chủ hóa học thuật và củng cố tự do học thuật toàn cầu.</p>



<p><strong>6. Tạo không gian học tập và trao đổi</strong></p>



<p>Tự do học thuật thường được thảo luận một cách trừu tượng. Các nhà xuất bản có thể biến nó thành hiện thực bằng cách tạo ra các không gian đối thoại — hội thảo trực tuyến, hội thảo chuyên đề và các cuộc thảo luận của ban biên tập tập trung vào tự do học thuật. Việc đào tạo các biên tập viên và người đánh giá nhận biết và chống lại áp lực kiểm duyệt là rất quan trọng. Nhận thức là bước đầu tiên hướng tới sự kiên cường.</p>



<p><strong>7. Sử dụng dữ liệu để định hướng chính sách</strong></p>



<p>Việc ra quyết định dựa trên dữ liệu là tiêu chuẩn trong ngành xuất bản — vậy tại sao không áp dụng nó cho tự do học thuật? Các công cụ như&nbsp;<a href="https://www.v-dem.net/our-work/research-programs/academic-freedom/">AFI</a>&nbsp;cung cấp những hiểu biết chi tiết về các hạn chế đối với tự do học thuật ở cấp quốc gia. Các nhà xuất bản có thể sử dụng dữ liệu này để định hướng chính sách biên tập, đánh giá rủi ro khi nộp bài và hướng dẫn các quyết định về miễn phí hoặc chiến lược truy cập mở.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Đã đến lúc hành động!</h2>



<p>Tự do học thuật cũng là động lực thúc đẩy sự đổi mới. Khi các học giả có thể theo đuổi sự tò mò của mình mà không sợ hãi, họ sẽ tạo ra những công trình đột phá. Hạn chế sự tự do đó sẽ kìm hãm sự sáng tạo. Đối với các nhà xuất bản cam kết thúc đẩy tri thức, bảo vệ tự do học thuật không phải là điều tùy chọn — mà là điều tối quan trọng. Đối với các nhà xuất bản, bảo vệ nguyên tắc này không chỉ là nghĩa vụ đạo đức; mà còn là một nhu cầu chiến lược. Nếu thiếu tự do học thuật, nghiên cứu sẽ mất đi tính toàn vẹn, sự đổi mới sẽ chững lại, và hệ sinh thái xuất bản cũng bị tổn hại.</p>



<p>Câu hỏi không phải là liệu các nhà xuất bản có nên hành động hay không, mà là họ sẽ hành động nhanh chóng và quyết đoán như thế nào. Thiết lập các hướng dẫn. Hỗ trợ các học giả và sinh viên gặp rủi ro. Thúc đẩy sự công bằng trong xuất bản học thuật. Sử dụng dữ liệu để cung cấp quyền truy cập. Tạo không gian cho đối thoại và trao đổi.</p>



<p>Tự do học thuật đang chịu áp lực rất lớn. Tuy nhiên, cuộc tranh luận về việc các nhà xuất bản học thuật có thể phản ứng như thế nào trước những cuộc tấn công ngày càng gia tăng vào tự do học thuật mới chỉ bắt đầu. Các cuộc thảo luận tại Hội chợ sách Frankfurt 2025 và hội nghị của Hiệp hội Xuất bản Học thuật châu Âu tại Berlin vào tháng 1 năm 2026 là một khởi đầu tốt. Ngành xuất bản có một số công cụ để phản kháng. Thời điểm hành động của họ đã đến.</p>



<p><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2026/03/17/guest-post-academic-freedom-under-pressure-what-academic-publishers-can-do/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="the-gioi-xuat-ban" data-modified="120" data-title="Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/">Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2026 02:24:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3020</guid>

					<description><![CDATA[<p>Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Có những giai đoạn trong lịch sử mà một phát minh mới không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn buộc con người phải xét lại chính mình. Trí tuệ nhân tạo là một bước ngoặt như thế. Nó không chỉ can thiệp vào cách con người viết, đọc, tính toán, nghiên cứu hay ra quyết định; sâu xa hơn, nó đặt lại một câu hỏi nền tảng của văn minh: điều gì làm nên phẩm giá của tư duy con người, khi ngày càng nhiều thao tác trí tuệ có thể được máy móc mô phỏng với tốc độ vượt trội?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="617" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png" alt="" class="wp-image-3021" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11.png 600w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-11-292x300.png 292w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/10610019/Robotic-Humanity/modules/77370321">Robotic Humanity</a> | CC BY-NC 4.0</em></figcaption></figure>



<p>Nhiều người nhìn vào câu hỏi ấy với tâm thế lo âu, thậm chí bi quan. Họ cho rằng khi máy có thể viết, tóm tắt, biện luận, sáng tác, đối thoại và hỗ trợ phân tích, thì các ngành Nhân văn sớm muộn cũng sẽ bị đẩy ra ngoài lề. Tôi không nghĩ như vậy. Trái lại, tôi cho rằng chính trong thời đại trí tuệ nhân tạo, Nhân văn đang đứng trước cơ hội phục hưng mạnh mẽ nhất của mình. Không phải như một phần trang trí tinh thần cho xã hội hiện đại, mà như một nền tảng sống còn để bảo vệ năng lực làm người.</p>



<p>Sở dĩ có thể nói như vậy là bởi công nghệ càng phát triển, con người càng buộc phải phân biệt rõ hơn giữa cái có thể được tự động hóa và cái không thể bị thay thế. Máy móc có thể xử lý hàng nghìn ngôn ngữ, nhưng không thể phát ngôn thay cho con người. Máy móc có thể lưu trữ ngàn năm tri thức, nhưng không bao giờ có nổi một mảnh ký ức. Máy móc có thể trau chuốt câu từ, nhưng không kinh qua mất mát, day dứt, lưỡng lự, ân hận, yêu thương hay sự trưởng thành nhọc nhằn mà một con người phải đi qua để thật sự hiểu ý nghĩa của những câu từ ấy. Nói cách khác, trí tuệ nhân tạo có thể mô phỏng biểu hiện của tư duy, nhưng không thể là bản thể của tư duy.</p>



<p>Chính ở điểm này, tôi càng muốn chỉ rõ vai trò của Nhân văn. Bởi rốt cuộc, Nhân văn không chỉ là tập hợp của một số môn học như văn học, lịch sử, triết học, nghệ thuật hay ngôn ngữ. Nhân văn, theo nghĩa sâu xa hơn, là không gian nơi con người học cách tự ý thức về chính mình; học cách nhận biết điều thiện và điều ác, cái cao cả và cái tầm thường, cái bền vững và cái nhất thời; học cách sống có phán đoán, có ký ức, có chiều sâu nội tâm và có trách nhiệm với lời mình nói. Nếu một nền giáo dục chỉ còn đào tạo năng lực thao tác mà không bồi dưỡng năng lực phán đoán, thì đó không còn là giáo dục theo nghĩa đầy đủ. Nó chỉ còn là một quy trình huấn luyện.</p>



<p>Trong nhiều thập niên, sinh viên các ngành Nhân văn liên tục bị chất vấn: Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe có vẻ thực tế, nhưng thật ra phản ánh một sự thu hẹp nghiêm trọng trong cách xã hội hiểu về tri thức. Khi giá trị của giáo dục bị quy về công dụng tức thời, về mức lương sau tốt nghiệp, về năng suất đo đếm được, thì những lĩnh vực nuôi dưỡng chiều sâu tinh thần tất nhiên sẽ bị coi là mơ hồ, kém thiết thực, thậm chí thừa thãi. Chính trong bối cảnh ấy, trí tuệ nhân tạo xuất hiện như một tấm gương phơi bày sự ngộ nhận của thời đại. Nó buộc chúng ta phải đối diện với một sự thật không dễ chấp nhận: Nếu giáo dục chỉ nhằm tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ chỉn chu, những bản tổng hợp gọn ghẽ và những câu trả lời trôi chảy, thì máy móc hoàn toàn có thể làm điều đó nhanh hơn con người. Nhưng nếu giáo dục nhằm hình thành một chủ thể biết suy nghĩ, biết nghi ngờ, biết cảm nhận, biết tự sửa mình và biết sống có trách nhiệm, thì vai trò của Nhân văn không những không lu mờ, mà thậm chí còn rõ ràng hơn.</p>



<p>Đây chính là nghịch lý của thời đại này: càng nhiều chức năng trí tuệ được máy đảm nhiệm, xã hội càng cần khẩn thiết hơn những năng lực mà chỉ con người mới có thể gầy dựng nơi nhau. Trong một thế giới ngập tràn thông tin, điều quý nhất không còn là có thêm dữ liệu, mà là biết phân biệt điều gì đáng tin, điều gì đáng ngờ, điều gì quan trọng, điều gì chỉ là nhiễu loạn. Trong một thế giới mà ngôn ngữ có thể được sản xuất hàng loạt, điều quý nhất không còn là khả năng viết trôi chảy, mà là khả năng nói điều có thật, điều đã được nghiền ngẫm, điều có căn cốt từ trải nghiệm và suy tư. Trong một thế giới mà tốc độ được tôn sùng, điều quý nhất lại là năng lực dừng lại đủ lâu để hiểu một sự việc cho đến cùng.</p>



<p>Tôi cho rằng đây là lúc phải trả Nhân văn về đúng vị trí của nó: không phải ở bên lề của nền giáo dục, mà ở trung tâm của việc hình thành con người. Một xã hội có thể rất giàu công nghệ mà vẫn nghèo nàn về tinh thần. Một nền kinh tế có thể rất hiệu quả mà vẫn tạo ra những con người rỗng bên trong, dễ bị dẫn dắt, dễ bị kích động, dễ chấp nhận những điều tiện lợi thay cho những điều đúng đắn. Khi ấy, khủng hoảng không còn là khủng hoảng kỹ thuật. Đó là khủng hoảng của phán đoán, của đạo đức, của năng lực sống chung và của ý thức về giới hạn. Đây đều là những lĩnh vực mà Nhân văn từ lâu đã âm thầm đảm nhiệm.</p>



<p>Điều đáng bàn hơn nữa là trí tuệ nhân tạo không chỉ đặt ra thách thức đối với tri thức, mà còn đối với kinh nghiệm. Nếu con người ngày càng quen sống qua trung gian của thuật toán, quen đọc bản tóm tắt thay vì văn bản trọn vẹn, quen tiếp nhận câu trả lời thay vì lao động để tự tìm ra câu hỏi, thì một tổn thất âm thầm sẽ diễn ra: năng lực sống trực tiếp với thế giới dần bị bào mòn. Người ta có thể vẫn nói rất đúng, viết rất gọn, phản hồi rất nhanh, nhưng bên dưới đó là một đời sống tinh thần ngày càng nghèo đi. Đây là dạng nghèo khó nguy hiểm nhất, bởi nó không biểu hiện bằng sự thiếu thốn bề ngoài, mà bằng sự teo tóp bên trong.</p>



<p>Chính vì thế, phục hưng Nhân văn hôm nay không thể chỉ dừng ở việc bảo vệ một vài ngành học. Nó đòi hỏi một thay đổi căn bản trong triết lý giáo dục. Trước hết, phải chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một bài viết không còn có thể được đánh giá chỉ bằng độ mượt mà của câu chữ hay độ hợp lý bề mặt của lập luận. Điều quan trọng hơn là hành trình nhận thức đứng sau văn bản ấy: người viết đã đọc như thế nào, đã hiểu sai ở đâu, đã đổi ý ra sao, đã vật lộn với vấn đề thế nào, và đã đi đến nhận định cuối cùng bằng lao động trí tuệ thực sự hay chỉ bằng thao tác lắp ghép. Nếu bỏ qua quá trình ấy, nền giáo dục sẽ sớm bị nhấn chìm bởi những kết quả hoàn chỉnh nhưng vô hồn.</p>



<p>Tiếp đó, phải khôi phục giá trị của trải nghiệm trực tiếp. Con người không thể trưởng thành chỉ bằng việc tiêu thụ thông tin. Họ trưởng thành bằng va chạm với thực tại, bằng đối thoại, bằng đọc chậm, viết chậm, suy nghĩ chậm, bằng việc đứng trước một tác phẩm nghệ thuật, một trang sử, một biến cố xã hội hay một câu hỏi đạo đức đủ lâu để bản thân thật sự bị lay động. Không có sự hiện diện ấy, tri thức dễ trở thành thứ vay mượn. Mà đã là thứ vay mượn, thì sớm muộn cũng sẽ bị thay thế bằng một công cụ hiệu quả hơn.</p>



<p>Nhìn từ góc độ ấy, điều mà thời đại trí tuệ nhân tạo đòi hỏi không phải là bớt Nhân văn đi, mà là Nhân văn phải mạnh hơn, nghiêm hơn và sáng rõ hơn. Không thể tiếp tục dạy các ngành Nhân văn theo lối minh họa, trang trí hay cảm tính. Cũng không thể biện hộ cho Nhân văn chỉ bằng những khẩu hiệu mơ hồ về “tâm hồn” hay “giá trị tinh thần”. Điều cần thiết là khẳng định một cách rành mạch rằng Nhân văn đào luyện những năng lực nền tảng cho mọi xã hội tự do: năng lực đọc sâu, năng lực phân tích ngôn ngữ, năng lực nhận diện quyền lực, năng lực hiểu bối cảnh lịch sử, năng lực phân biệt giữa sự thật và thao túng, giữa lý lẽ và ngụy biện, giữa đồng thuận dễ dãi và phán đoán có trách nhiệm. Không có những năng lực ấy, xã hội càng hiện đại càng dễ rơi vào hỗn loạn tinh thần.</p>



<p>Tôi cũng cho rằng một nguy cơ rất lớn của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo là sự phân tầng trong giáo dục. Rất có thể, một bộ phận nhỏ sẽ tiếp tục được hưởng một nền giáo dục giàu đối thoại, giàu chiều sâu, coi trọng đọc nguyên bản, tranh luận trực tiếp và viết lách như một quá trình tự rèn luyện. Trong khi đó, số đông có nguy cơ bị đẩy vào một mô hình giáo dục rẻ hơn, nhanh hơn, tiện hơn, nơi mọi thứ được cá nhân hóa bằng thuật toán, chấm điểm bằng hệ thống, tối ưu hóa theo mục tiêu ngắn hạn và loại bỏ dần những gì đòi hỏi kiên nhẫn, lắng đọng, suy tư. Nếu viễn cảnh ấy xảy ra, thì vấn đề không chỉ là chất lượng giáo dục suy giảm. Điều nghiêm trọng hơn là quyền được trở thành một con người có chiều sâu sẽ dần trở thành đặc quyền của thiểu số.</p>



<p>Bởi vậy, bảo vệ và phục hưng Nhân văn không còn là một lựa chọn xa xỉ. Đó là một đòi hỏi mang tính văn minh. Một xã hội muốn tồn tại lành mạnh trong thời đại máy móc không thể chỉ đầu tư vào hạ tầng công nghệ mà xem nhẹ hạ tầng tinh thần. Càng có nhiều công cụ mạnh, con người càng cần những tiêu chuẩn nội tâm vững vàng để không bị công cụ dẫn dắt ngược lại. Càng sống trong môi trường bị chi phối bởi các hệ thống tự động, con người càng cần được rèn luyện khả năng tự xét đoán. Càng quen với câu trả lời tức thì, con người càng cần học lại nghệ thuật của sự chậm rãi, của hoài nghi và của chiều sâu.</p>



<p>Nói cho cùng, câu hỏi lớn nhất của thời đại trí tuệ nhân tạo không phải là máy sẽ còn tiến xa đến đâu. Câu hỏi thực sự là: con người có còn tha thiết với việc làm người theo nghĩa đầy đủ nữa hay không? Có còn muốn sống bằng kinh nghiệm thật, suy nghĩ thật, đau đớn thật, lựa chọn thật và chịu trách nhiệm thật hay không? Nếu câu trả lời là có, thì Nhân văn sẽ không suy tàn. Nó sẽ trở lại như một nhu cầu thiết yếu.</p>



<p>Và rất có thể, chính trong kỷ nguyên mà máy móc có thể làm thay nhiều nhất, con người mới nhận ra rõ nhất rằng có những điều không thể giao phó. Không thể giao phó lương tri. Không thể giao phó phán đoán. Không thể giao phó ký ức lịch sử. Không thể giao phó năng lực yêu thương, tiếc thương, tha thứ, dấn thân và tự vấn. Những điều ấy làm nên phẩm chất người. Và đó cũng chính là miền đất lâu đời của Nhân văn.</p>



<p>Bởi vậy, nếu phải gọi tên cơ hội lớn nhất của thời đại này, tôi sẽ không gọi đó là cuộc cách mạng công nghệ. Tôi sẽ gọi đó là cơ hội để con người nghiêm túc quay về với câu hỏi cổ điển nhất mà cũng cấp bách nhất: sống thế nào cho xứng đáng với năng lực làm người của mình. Một khi câu hỏi ấy trở lại trung tâm, Nhân văn sẽ không còn là tiếng nói bên lề. Nó sẽ bước vào đúng vai trò của nó: nền tảng tinh thần của một thời đại đang rất cần được soi sáng.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="edtech,thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/">Nhân văn đang phục hưng trong thời đại trí tuệ nhân tạo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nhan-van-dang-phuc-hung-trong-thoi-dai-tri-tue-nhan-tao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 19 Mar 2026 02:50:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3017</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ai cũng biết một câu đùa đúng lúc có thể là chiếc phao cứu sinh cho một bài thuyết trình. Một khán phòng đang gà gật bỗng bừng tỉnh vì một nhận xét hóm hỉnh. Người nghe thả lỏng, người nói trở nên gần gũi, và bài nói thực sự được cứu. Thế nhưng, những [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/">Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Ai cũng biết một câu đùa đúng lúc có thể là chiếc phao cứu sinh cho một bài thuyết trình. Một khán phòng đang gà gật bỗng bừng tỉnh vì một nhận xét hóm hỉnh. Người nghe thả lỏng, người nói trở nên gần gũi, và bài nói thực sự được cứu. Thế nhưng, những khoảnh khắc xuất thần ấy hiếm hoi hơn ta tưởng.</p>



<p>Một nghiên cứu quan sát 531 bài thuyết trình tại 14 hội nghị cho thấy: phần lớn nỗ lực pha trò trong khoa học thường&#8230; rơi vào thinh lặng. Nhiều câu đùa chỉ nhận lại vài tiếng cười xã giao hoặc sự im lặng đến ngột ngạt (Mammola et al., 2026). Tuy vậy, chính con số thống kê về những lần thất bại đó lại gợi ra một câu hỏi thú vị: Nếu dễ &#8220;hớ&#8221; như vậy mà người ta vẫn cứ thử, thì hẳn hài hước không chỉ là cho vui.</p>



<p>Trong một môi trường đề cao sự nghiêm cẩn đến khắc nghiệt, vì sao chúng ta vẫn khao khát tiếng cười?</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" width="790" height="1024" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-790x1024.png" alt="" class="wp-image-3018" style="aspect-ratio:0.7714858496706501;width:306px;height:auto" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-790x1024.png 790w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-231x300.png 231w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27-768x995.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/Screenshot-2026-03-19-at-09.48.27.png 952w" sizes="(max-width: 790px) 100vw, 790px" /></figure>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khi hài hước &#8220;mở đường&#8221; cho tri thức</strong></h2>



<p>Trong học thuật, ta thường quá chú trọng vào nội dung mà quên mất điều kiện để tiếp nhận nội dung đó. Chúng ta chuẩn bị dữ liệu, lập luận, phương pháp kỹ lưỡng, rồi mặc định người nghe là những cỗ máy có thể tập trung vô hạn. Thực tế phũ phàng hơn nhiều: Một bài giảng dù đúng đến đâu vẫn có thể trôi tuột qua đầu người học như nước đổ lá khoai nếu họ đã quá mệt mỏi.</p>



<p>Tri thức muốn đi từ bộ não này sang bộ não khác phải đi qua một cánh cửa rất hẹp: Sự chú ý.</p>



<p>Chính lúc này, pha trò trở thành một kỹ thuật tổ chức sự chú ý. Tiếng cười kéo người nghe quay lại, làm nội dung mềm đi và xóa nhòa khoảng cách giữa bục giảng với hàng ghế khán giả. Hài hước không đối lập với học thuật; nó giúp học thuật được tiếp nhận như một <em>kinh nghiệm sống</em>, chứ không chỉ là một khối thông tin khô khan. Không ai tiếp nhận tri thức bằng lý trí thuần túy; chúng ta nghe bằng cảm giác gần gũi và mức độ tin cậy đối với người đang đứng trước mặt mình.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nhịp thở của một bài </strong>thuyết trình</h2>



<p>Nghiên cứu chỉ ra rằng các câu đùa thường tập trung ở đầu và cuối bài nói – những điểm &#8220;phá băng&#8221; và &#8220;kết nối&#8221;. Những bài nói thành công nhất còn có thêm một điểm nhô hài hước ở quãng giữa. Điều này cho thấy diễn giả đang dùng tiếng cười để điều tiết cái nhiệt của khán phòng.</p>



<p>Nói một cách đời thường, pha trò là cách người nói hé cửa sổ cho căn phòng đỡ ngột. Học thuật vốn đã nặng, nếu cách truyền tải cũng nặng như đang xối hàng tá kiến thức thì quả là quá sức cho cả đôi bên. Đó là lý do những câu đùa nảy sinh từ sự cố thực tế như slide lỗi hay một khoảnh khắc lúng túng lại hiệu quả đến vậy. Chúng nhắc nhở khán giả rằng: Người đang đứng kia không phải một robot đọc dữ liệu, mà là một con người bằng xương bằng thịt.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Mục tiêu thực chất là không khí rộn ràng</h2>



<p>Nếu đo lường bằng âm lượng tiếng cười, hài hước trong học thuật có vẻ là một canh bạc rủi ro khi chỉ 9% câu đùa tạo được hiệu ứng mạnh. Nhưng thước đo ấy có lẽ đã nhầm. Khán giả hội nghị không đi xem hài, họ không ngồi chờ để cười nghiêng ngả.</p>



<p>Giá trị của một câu đùa đôi khi chỉ nằm ở một cái mỉm cười nhẹ. Nó đủ để báo hiệu rằng: &#8220;Tôi hiểu các bạn đang nghe gì.&#8221; Nó làm mềm đi sự nhạt nhẽo của kiến thức chuyên môn. Đừng nhầm tưởng rằng cứ nghiêm túc là phải giữ gương mặt không cảm xúc. Thực tế, tác phong &#8220;thanh niên nghiêm túc&#8221; chỉ hợp trong khán phòng&#8230; nhạc kịch. Một câu nói đủ duyên dáng không làm tri thức kém giá trị đi, nó đang hâm nóng bầu không khí lạnh lẽo vốn có của cả khán phòng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Hài hước là một cách &#8220;tạo cảm giác cùng phe&#8221;</strong></h2>



<p>Điều thú vị nhất là: tiếng cười trong học thuật thường đến từ cảm giác &#8220;À, mình cũng thế!&#8221;. Người ta cười khi diễn giả tự trào về một biểu đồ khó đọc hay những nỗi khổ không tên của đời nghiên cứu sinh. Tiếng cười lúc đó là dấu hiệu của sự đồng cảm. Nó xác nhận rằng chúng ta thuộc về cùng một cộng đồng, cùng chia sẻ những áp lực giống nhau.</p>



<p>Điều này giải thích vì sao meme về đời sống nghiên cứu sinh lại có sức sống mãnh liệt đến vậy. Đằng sau những tấm ảnh chế về việc bị từ chối bài báo hay sự bế tắc với quy trình phản biện là những căng thẳng đã bị dồn nén từ lâu. Chúng ta cười không chỉ vì vui, mà vì thấy mình không đơn độc trong một hành trình vốn dĩ rất lẻ loi (Nguyen et al., 2025).</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Không phải ai cũng được phép pha trò</strong></h2>



<p>Tuy nhiên, có một sự thật khá đắng chát: Không phải ai cũng có cùng &#8220;quyền&#8221; được hài hước. Dữ liệu cho thấy nam giới và những người bản ngữ thường dễ làm khán giả cười hơn. Trong môi trường chuyên môn, không phải ai cũng có đủ &#8220;khoảng an toàn&#8221; để lệch khỏi chuẩn mực.</p>



<p>Với nhiều nhà khoa học nữ hoặc những người ở vị thế thấp hơn, pha trò là một rủi ro nghề nghiệp. Họ sợ bị đánh giá là thiếu chuyên nghiệp hoặc không đủ năng lực. Vì vậy, hài hước không chỉ là kỹ năng, nó còn là vấn đề vị thế. Khi bàn về điều này, ta cần thấy cả những bất bình đẳng ngầm định: Ai được phép xuất hiện như một con người trọn vẹn, và ai phải luôn &#8220;gồng mình&#8221; để giữ hình ảnh an toàn?</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p>Mammola, S., Fontaneto, D., Santangeli, A., Oswald, K. N., Correia, R., Meierhofer, M. B., De Santis, V., &amp; Stout, V. (2026). <a href="https://doi.org/10.1098/rspb.2025.3000">Statistically significant chuckles: who is using humour at scientific conferences?</a> <em>Proceedings of the Royal Society B Biological Sciences</em>, <em>293</em>(2067). </p>



<p>Nguyen, T. B. A., Dinh, V., Phan, T. T. T., &amp; Pham, H. (2025). <a href="https://doi.org/10.1108/sgpe-09-2024-0096">Pile humor and distress: can we detect what doctoral students experience through memes they laugh at?</a> <em>Studies in Graduate and Postdoctoral Education</em>. </p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="chuyen-nghe" data-modified="120" data-title="Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/">Pha trò trong học thuật: Chuyện nhỏ trên bề mặt, sóng lớn ở bên dưới</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/pha-tro-trong-hoc-thuat-chuyen-nho-tren-be-mat-song-lon-o-ben-duoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/hoc-tien-si-de-chuyen-nghe-lam-giang-vien/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/hoc-tien-si-de-chuyen-nghe-lam-giang-vien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Hiệp]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 19 Mar 2026 02:42:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<category><![CDATA[Đoản thoại]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3008</guid>

					<description><![CDATA[<p>&#8211; Học viên: Thầy ơi, thầy cũng đã dạy em được một thời gian rồi, thầy thấy em có tố chất phù hợp việc làm giảng viên đại học không ạ? &#8211; Phạm Hiệp: Cái này thì ngay từ ngày đầu tư vấn cho em, mình đã nói rồi. Nghề giảng viên thì thực ra [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-tien-si-de-chuyen-nghe-lam-giang-vien/">Học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-1024x683.png" alt="" class="wp-image-3009" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-10-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@uns__nstudio?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unseen Studio</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/person-writing-on-brown-wooden-table-near-white-ceramic-mug-s9CC2SKySJM?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>&#8211; Học viên: Thầy ơi, thầy cũng đã dạy em được một thời gian rồi, thầy thấy em có tố chất phù hợp việc làm giảng viên đại học không ạ?</p>



<p>&#8211; Phạm Hiệp: Cái này thì ngay từ ngày đầu tư vấn cho em, mình đã nói rồi. Nghề giảng viên thì thực ra ai cũng hợp hết, nếu người đó đủ quyết tâm, đủ cam kết thì kiểu gì cũng hợp. Chỉ có những người không đủ quyết tâm, không đủ cam kết thì mới không hợp thôi em ạ. Sau mấy tháng học, em vẫn hỏi mình câu này, chứng tỏ em vẫn thực sự muốn làm nghề này, vẫn đang quyết tâm, vẫn đang cam kết thì tức là em vẫn đang có vẻ hợp. Tương lai thì mình không biết như thế nào. Nhưng hiện tại thì em vẫn đang hợp em ạ.</p>



<p>&#8211; Tại em vẫn cứ sợ mình không đủ năng lực, không đủ trình độ thầy ạ. Khi em theo học thầy, em thấy nhiều bạn học đã làm giảng viên rồi, các bạn ý giỏi lắm, em theo không kịp ý ạ</p>



<p>&#8211; Có 2 ý. Ý thứ nhất là khi các bạn ý nhận xét về những người từ ngành khác như em, các bạn ý cũng sẽ lại … mất tự tin y như em bây giờ. Em thì em sẽ bảo là các bạn ý viết bài nhanh thế, chạy dữ liệu siêu thế. Nhưng thầy nói thật là với các bạn ý, đưa cho 1 cái survey để đi mời người trả lời thì sẽ làm không bao giờ nhanh bằng những người như em. Tại sao, vì các bạn ra trường cái, làm trợ giảng, rồi giảng viên tập sự sẽ bị … “gà công nghiệp” quá, nhìn chung là kỹ năng giao tiếp xã hội không được như bọn em đâu. Hay nói cách khác là cái kỹ năng “hoàn thành việc đúng hạn” ý, thì những người ở ngành khác, dù là công chức nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay tổ chức phi chính phủ thì các bạn sẽ giỏi hơn rất nhiều các bạn kiểu “gà công nghiệp” kia. Thế cho nên là em đừng nhìn vào điểm yếu của mình nữa và điểm mạnh của họ; nhìn ngược lại đi thì tự nhiên mình sẽ thấy mình tự tin hơn. Thế thôi, đừng suy nghĩ quá nhiều. Ý thứ 2 là cách nhìn nhận. Vấn đề của em là đang nhìn nhận làm nghề giảng viên thì phải giỏi. Nhưng thực ra không phải. Điều này chỉ đúng với ngày xưa thôi. Ngày xưa nghề giảng viên là nghề tinh hoa, phải những người giỏi nhất mới được giữ lại trường làm giảng viên. Giảng viên hiện nay là nghề của đại chúng, tất nhiên, nó vẫn là nghề cần có trình độ; nhưng cái trình độ đó là trình độ đạt chuẩn. Em có bằng tiến sĩ, em có khả năng nghiên cứu, em có nghiệp vụ sư phạm. Thế là em làm giảng viên thôi. Tất nhiên, giảng viên thì cũng có giảng viên xuất sắc, giảng viên giỏi, khá, trung bình. Nhưng em có định phấn đấu làm giảng viên xuất sắc với giảng viên giỏi đâu. Nên em cứ bình tĩnh mà học, mà nghiên cứu. Kể cả em có thiếu một vài kỹ năng, em vẫn có thể làm giảng viên được mà. Với em thấy các bạn học nghiên cứu sinh của em xuất thân từ giảng viên, họ cũng đầy điểm yếu, không phải ai cũng giỏi. Đúng không?</p>



<p>&#8211; Vâng. Thực ra mấy ý này ngay từ lần đầu tư vấn, thầy đã nói rồi. Nhưng em vẫn cứ lăn tăn ý</p>



<p>&#8211; Thực ra lăn tăn cũng phải thôi. Vì bạn chưa đủ trải nghiệm. Bạn mới bắt đầu theo học nghiên cứu sinh chưa đến 1 năm; và cũng mới học mình có vài tháng. Có những thứ phải để thời gian trải nghiệm em ạ. Mình nói thế chứ nói nữa thì em vẫn chưa thẩm thấu. Hay ngôn ngữ khoa học nó gọi là chưa “nội hóa” &#8211; internalization được đâu em ạ?</p>



<p>&#8211; Thế nhưng mà giờ ngày nào em cũng vẫn cứ lăn tăn thì em phải làm gì?</p>



<p>&#8211; Thứ nhất là em phải quán triệt cái việc: lăn tăn là bình thường em nhé. Không có gì phải lăn tăn về cái việc em đang lăn tăn; mà lăn tăn là việc đương nhiên của bất kỳ nghiên cứu sinh nói chung cũng như nghiên cứu sinh muốn học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên nói riêng như em. Và ngay cả những người nhiều kinh nghiệm, nhiều năm làm nghề hơn em thì lúc nào cũng có điều này, điều khác phải lăn tăn cơ mà. Nên mất thời gian lăn tăn quá làm gì? Thứ hai là theo mình em cứ tập trung vào các việc trước mắt. Em đang là nghiên cứu sinh, em cần viết đề cương, bảo vệ chuyên đề, công bố bài báo … thì em cứ cố gắng làm từng việc một. Hành trình giải quyết từng việc một sẽ giúp em làm rõ những điều em lăn tăn một cách rất tự nhiên, không phải nhọc công gì cả.</p>



<p>&#8211; Đấy, cái ý làm từng việc một thầy cũng nói em ngay từ đầu rồi. Mà em cứ không thấm nhuần, xong lại cứ nghĩ ngợi, lăn tăn ý</p>



<p>&#8211; Ha ha ha!!! Mình cũng không bất ngờ với cái nghĩ ngợi của bạn đâu. Trong tâm lý học nó có hẳn lý thuyết nói về đúng cái hiện tượng lăn tăn, nghĩ ngợi của em đấy</p>



<p>&#8211; Wow. Có hẳn lý thuyết về việc đó luôn?</p>



<p>&#8211; Đúng rồi. Không phải 1 lý thuyết mà có khi còn nhiều lý thuyết ý. Ví dụ như theo lý thuyết Intolerance of Uncertainty (Không chịu đựng được việc không chắc chắn), con người sẽ có xu hướng tự đặt ra các câu hỏi kiểu như “Biết là vậy nhưng chắc gì đã đúng?”. Hay lý thuyết Maximization Theory (Khuynh hướng tối đa hóa) giải thích việc con người quá mất thời gian vào việc so sánh quá mức, hay nói như các cụ là “đứng núi này trông núi nọ” dẫn đến việc là không hành động dứt khoát và kịp thời, từ đó bỏ lỡ cơ hội</p>



<p>&#8211; Ha ha. Đúng là trường hợp của em đó thầy. Hay quá, giờ em mới biết là có hẳn lý thuyết về việc này nữa</p>



<p>&#8211; Em có thấy em khổ sở về việc em cứ phải nghĩ ngợi lăn tăn này không? Trong khi nếu trong bối cảnh khác, ví dụ trong công việc hiện tại của em đi, chắc chắn là em hành động dứt khoát hơn, nhanh gọn hơn.</p>



<p>&#8211; Nhưng với công việc hiện tại, em đã có kinh nghiệm, trải nghiệm rồi nên em tự tin hơn ý thầy.</p>



<p>&#8211; Thì thế, với việc nghiên cứu, sao em không hành động đi, ra sản phẩm đi, thì tự khắc em sẽ có trải nghiệm, em sẽ có tự tin, phải không nào?</p>



<p>&#8211; À vâng, thầy nói thế thì em không cãi được câu nào nữa rồi.</p>



<p>&#8211; À mà này. Mình dặn nhé. Kế hoạch em học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên thì rõ rồi. Nhưng không được vì thế mà làm ảnh hưởng đến công việc hiện tại nhé. Công việc hiện tại đang như thế nào, vẫn phải cố gắng chu toàn. Không được sao nhãng. Việc học tiến sĩ là việc thêm. Em phải bớt thời gian của việc khác như chơi bời, gia đình chứ không phải bớt công việc hiện tại đâu.</p>



<p>&#8211; À vâng, tất nhiên rồi. Việc kinh doanh của em, em bỏ thì em chết đói ngay. Mà thầy này, sao cái nghề giảng viên với nghiên cứu, lương với thu nhập thấp thế nhỉ? Cái business của em nó bé xíu mà nguồn thu của em vẫn tốt. Trong khi kỳ vừa rồi em có đi thỉnh giảng cho khoa, được trả đâu chưa đến 100.000 VND/tiết.Thấp quá thầy ạ.</p>



<p>&#8211; Thực ra là nghề giảng viên ở bất kỳ đâu trên thế giới thu nhập cũng đều thấp mà. Không chỉ ở Việt Nam đâu. Nhưng cái ưu điểm của nghề là vị trí xã hội; dù ở bất kỳ nước nào, thời đại nào, giảng viên vẫn có vị trí xã hội tốt. Mình không muốn dùng từ đây là “nghề cao quý”, dùng từ đó nghe nặng nề và thực ra cũng không đúng. Nghề nào cũng cao quý cả; nhưng rõ ràng nghề giảng viên, cũng như các nghề dựa vào chuyên môn khác như bác sỹ, luật sư, sẽ có một cái vị trí xã hội ở mức khá trở lên, tùy vào bối cảnh, hoàn cảnh. Nói như ngôn ngữ của nghiên cứu, nghề giảng viên sẽ cho bạn một cái nguồn vốn xã hội (social capitals) tốt. Nhờ việc là giảng viên, bạn có thể tiếp xúc với nhiều nhóm người, có mối quan hệ xã hội với nhiều nhóm người khác nhau trong xã hội, từ chính trị gia, cho đến doanh nhân, những người hoạt động chuyên môn khác …. Và ở chiều ngược lại, những người ở ngành nghề khác cũng thường có đánh giá tương đối thiện cảm, đánh giá tốt với nghề giảng viên. Với có một đặc điểm nữa là với nghề giảng viên, càng già, càng làm nghề thì bạn sẽ càng có giá. Tuổi nghề của giảng viên rất lâu; không như những nghề khác như ca sỹ, cầu thủ, hay dẫn chương trình chả hạn. Đến tận 60, 70 tuổi, nếu em còn sức, em vẫn có thể đứng lớp, và được trả cao hơn so với thời còn trẻ. Cái này có khi chỉ có nghề bác sỹ là có đặc điểm tương tự, chứ ca sỹ, câu thủ họ có thời của họ thôi; đến một tuổi nào đó là không thể làm nghề nữa hoặc vẫn làm nghề nhưng giá sẽ thấp đi. Mình nói thế có đúng không nào.</p>



<p>&#8211; À, thầy nói thế thì em hiểu chứ. Em cũng nhận ra điều đó nên em mới quyết tâm học tiến sĩ để làm nghề giảng viên đấy thầy ạ. Ngoài những cái thầy nói thì em thấy nghề giảng viên còn giúp em có thời gian chủ động hơn để chăm sóc gia đình, con cái. Mà con em thì nó cũng sắp đến tuổi mình phải quan tâm nhiều hơn rồi thầy ạ.</p>



<p>&#8211; À, ừ. Em nhìn ra được vấn đề đó rồi thì cứ bình tĩnh, nhất tâm làm từng việc một thôi.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="chuyen-nghe,doan-thoai" data-modified="120" data-title="Học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hoc-tien-si-de-chuyen-nghe-lam-giang-vien/">Học tiến sĩ để chuyển nghề làm giảng viên</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/hoc-tien-si-de-chuyen-nghe-lam-giang-vien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thái Bình An]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 18 Mar 2026 00:21:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tin khác]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3002</guid>

					<description><![CDATA[<p>Một tối giữa tuần, sau khi đóng nốt vài tab công việc còn dang dở, Bình An vẫn chưa rời khỏi bàn. Máy tính đã im, nhưng đầu óc thì chưa. Cảm giác này không hẳn là khủng hoảng, cũng chưa đến mức kiệt sức hoàn toàn, nhưng đủ để anh nhận ra rằng mình [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/">Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p><em>Một cuộc đối thoại giữa Bình An và Bình AI về sức khỏe tinh thần, công việc và những khoảng nghỉ có ý nghĩa</em></p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1024x683.png" alt="" class="wp-image-3003" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-8-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@eysteve?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Steven Aguilar</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/man-holding-microphone-YC5R__f90SQ?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a></em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p>Một tối giữa tuần, sau khi đóng nốt vài tab công việc còn dang dở, Bình An vẫn chưa rời khỏi bàn. Máy tính đã im, nhưng đầu óc thì chưa. Cảm giác này không hẳn là khủng hoảng, cũng chưa đến mức kiệt sức hoàn toàn, nhưng đủ để anh nhận ra rằng mình đang ở trong trạng thái mệt mỏi kéo dài &#8211; một dạng quá tải khá phổ biến trong đời sống lao động hiện nay, đặc biệt với những người làm việc nhiều qua màn hình, thường xuyên online và khó tách bạch giữa giờ làm với giờ nghỉ.</p>



<p>Anh mở cuộc trò chuyện với Bình AI.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Dạo này mình có cảm giác là công việc không còn kết thúc ở giờ làm nữa. Máy có thể tắt, nhưng đầu óc thì không. Mình vẫn nghĩ đến việc đang dang dở, việc chưa trả lời, việc ngày mai phải xử lý. Làm ở nhà hay làm linh hoạt tưởng là dễ thở hơn, nhưng thực tế nhiều khi lại làm ranh giới biến mất.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một hiện tượng khá điển hình. Trong nghiên cứu về lao động số và sức khỏe tinh thần, người ta nói nhiều đến hiện tượng “sự hiện diện kéo dài của công việc” &#8211; tức là công việc không còn bị giới hạn trong không gian văn phòng hay trong một khung giờ cố định, mà bám theo người lao động qua điện thoại, laptop, email, nhóm chat, và cả thói quen tự giám sát chính mình.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe đúng thật. Có lúc mình không bị ai ép trực tiếp, nhưng vẫn tự cảm thấy phải phản hồi nhanh, phải làm thêm, phải sẵn sàng. Nó giống như áp lực đã nằm sẵn trong đầu mình rồi.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Vì trong nhiều môi trường làm việc hiện nay, đặc biệt ở các ngành dựa trên tri thức, người ta không chỉ lao động bằng thời gian mà còn bằng sự chú ý, khả năng suy nghĩ, và năng lực tự quản trị bản thân. Vấn đề là những nguồn lực đó không vô hạn. Khi không có ranh giới rõ ràng, con người rất dễ rơi vào trạng thái mệt kéo dài mà không nhận ra ngay.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ở Việt Nam còn có thêm một chuyện là người ta không quen gọi tên những trạng thái như vậy. Mệt thì nói là ráng. Quá tải thì nói là chắc ai cũng thế. Nhiều khi chưa đến mức phải đi gặp chuyên gia thì bản thân cũng không biết nên xử lý thế nào.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một điểm quan trọng. Trong bối cảnh Việt Nam, nhận thức về sức khỏe tinh thần đã cởi mở hơn trước, nhưng vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa việc “biết khái niệm” và việc thực sự xem nó là một phần của đời sống thường nhật. Nhiều người chỉ coi sức khỏe tinh thần là vấn đề khi mọi thứ đã trở nên nghiêm trọng. Trong khi trên thực tế, nó còn liên quan đến những câu hỏi rất cơ bản: mình có đang ngủ được không, có tập trung được không, có thấy mình luôn trong trạng thái cảnh giác hoặc cạn năng lượng không, có còn cảm giác kiểm soát được nhịp sống của mình không.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Tức là không nhất thiết phải “có bệnh” mới được quan tâm đến chuyện này.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Chính xác. Từ góc độ tâm lý học ứng dụng, sức khỏe tinh thần không phải là trạng thái hoặc hoàn toàn ổn, hoặc hoàn toàn bất ổn. Nó là một phổ liên tục. Ở đó, nhiều người vẫn đi làm, vẫn hoàn thành trách nhiệm, vẫn vận hành bình thường về bề ngoài, nhưng thực ra đang tiêu hao tâm lý ở mức đáng kể.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Mình thấy mấy năm nay người ta hay nói nhiều về “chăm sóc bản thân”, nhưng nhiều lúc nghe rất hình thức. Nó giống như thêm một danh sách việc phải hoàn thành hơn là thật sự giúp người ta hồi phục.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Phê bình đó có cơ sở. Trong nhiều trường hợp, “self-care” bị thương mại hóa thành một tập hợp sản phẩm, dịch vụ hay thói quen mang tính tiêu dùng. Nhưng nếu nhìn từ góc độ học thuật, điều quan trọng hơn là xem cá nhân có những điều kiện nào để phục hồi: thời gian nghỉ thực sự, quyền được ngắt kết nối, nhịp sống ít bị xâm lấn, quan hệ xã hội đủ an toàn, và những hoạt động giúp tái tạo năng lượng nhận thức. Nếu thiếu các điều kiện đó, thì việc “chăm sóc bản thân” rất dễ biến thành một nhiệm vụ áp lực khác.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Vậy nếu không nói theo kiểu khẩu hiệu, thì có cách nào thực tế hơn để giữ cân bằng không?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Có, và thường bắt đầu từ những cấu trúc rất nhỏ. Một trong những điều quan trọng nhất là thiết lập <strong>ranh giới mang tính nghi thức</strong> giữa công việc và đời sống riêng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>“Nghi thức” nghe hơi to tát.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Thật ra không cần phức tạp. Nghi thức ở đây chỉ là một hành động lặp lại, đủ rõ để bộ não hiểu rằng mình đang chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Với người làm việc từ xa, điều này đặc biệt quan trọng. Không gian sống ở Việt Nam nhiều khi không rộng, không phải ai cũng có phòng làm việc riêng. Có người làm ở bàn ăn, có người làm ở góc phòng ngủ, có người dùng chung không gian với cả gia đình. Trong điều kiện đó, mình khó phân tách bằng không gian, thì phải phân tách bằng thời gian và hành động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ví dụ?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Ví dụ hết giờ thì gập máy lại, cất sổ tay và dây sạc vào một chỗ cố định, thay áo, ra khỏi bàn làm việc, rồi làm một việc hoàn toàn không liên quan đến công việc như rửa chén, đi bộ, mua đồ ăn, tưới cây. Những hành động này tuy nhỏ nhưng có chức năng tâm lý rõ ràng: nó đánh dấu sự kết thúc. Nếu không có dấu mốc đó, công việc rất dễ kéo dài thành một trạng thái lưng chừng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe hợp lý. Mình nghĩ trước giờ mình xem nhẹ mấy việc đó vì nghĩ nó không trực tiếp giải quyết vấn đề.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Nó không giải quyết toàn bộ, nhưng nó tạo điều kiện để hệ thần kinh giảm cảnh giác. Và đó là nền tảng của phục hồi. Trong nghiên cứu về căng thẳng và hồi phục, người ta chỉ ra rằng khả năng chuyển ra khỏi trạng thái bị công việc chiếm lĩnh là một yếu tố quan trọng để ngăn mệt mỏi tích lũy.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nhưng ngoài chuyện nghỉ ngơi, mình nghĩ còn một vấn đề khác: nhiều lúc đầu óc cứ bị kẹt trong một guồng suy nghĩ lặp đi lặp lại. Lúc đó nghỉ kiểu ngồi yên không chắc đã hiệu quả.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Không phải mọi hình thức nghỉ đều giống nhau. Có một nhóm hoạt động đặc biệt hữu ích, đó là những hoạt động vừa đủ cuốn mình vào, vừa có tính xã hội, vừa không bị đánh giá bằng năng suất. Trong bối cảnh Việt Nam, một ví dụ rất thú vị là <strong>hát karaoke</strong>.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Karaoke? Nghe hơi bất ngờ đấy.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Nhưng hợp lý. Nếu nhìn karaoke chỉ như một hình thức giải trí bình dân thì hơi thiếu. Xét từ góc độ xã hội học văn hóa, karaoke ở Việt Nam là một thực hành cộng đồng rất đặc trưng. Nó cho phép người tham gia tạm rời khỏi vai trò nghề nghiệp, vai trò gia đình, áp lực hiệu suất, để bước vào một không gian tương tác khác nơi cảm xúc, ký ức, sự hài hước, và tính tập thể được kích hoạt.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nói cách khác là nó không chỉ là hát.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Nó còn là một cơ chế xả áp. Khi hát karaoke, người ta phải dùng hơi thở, phải chú ý đến giai điệu, lời bài hát, nhịp vào, và phản ứng của người xung quanh. Tức là trong một khoảng thời gian ngắn, sự chú ý được kéo ra khỏi luồng suy nghĩ căng thẳng thường ngày. Đồng thời, karaoke còn tạo ra một dạng kết nối xã hội tương đối dễ tiếp cận: không cần quá thân, không cần quá giỏi, không cần thành tích.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe vậy thì đúng là khác với công việc. Ở công việc mình luôn bị đo bằng hiệu quả, còn karaoke thì không ai cần mình hoàn hảo cả.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Chính điều đó làm nó có giá trị. Nhiều hoạt động phục hồi tâm lý hiệu quả không nằm ở thành tích, mà ở trải nghiệm được tham gia, được giải phóng chú ý, và được tồn tại trong một cộng đồng mà mình không phải tối ưu hóa liên tục. Với nhiều người Việt, karaoke có thêm một yếu tố nữa: nó gắn với ký ức tập thể. Từ những buổi liên hoan cơ quan, sinh nhật bạn bè, họp lớp, đến những quán nhỏ trong ngõ &#8211; karaoke là một phần của đời sống xã hội thường nhật, chứ không phải một hoạt động xa lạ hay đòi hỏi chuẩn bị đặc biệt.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Mình công nhận. Có những hôm đi hát với đám bạn, hát chẳng hay gì, nhưng xong thấy đầu nhẹ hơn thật. Không phải vì vấn đề biến mất, mà vì mình tạm thời thoát khỏi nó.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là điểm mấu chốt. Không phải hoạt động nào hỗ trợ sức khỏe tinh thần cũng phải “giải quyết vấn đề tận gốc”. Có những hoạt động giúp con người phục hồi bằng cách tạo ra khoảng cách tạm thời với áp lực, rồi từ đó quay lại đời sống với trạng thái dễ chịu và tỉnh táo hơn.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Vậy nghĩa là việc duy trì những mối kết nối ngoài công việc cũng quan trọng?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Rất quan trọng. Một trong những yếu tố bảo vệ sức khỏe tinh thần mạnh nhất, theo nhiều nghiên cứu, là cảm giác mình có liên hệ xã hội có ý nghĩa. Điều này không nhất thiết phải là những mạng lưới lớn hay những quan hệ quá sâu. Nó có thể là một nhóm bạn vẫn hẹn nhau mỗi tháng một lần, một cuộc gọi cố định với người thân, một buổi đá bóng, một nhóm chạy bộ, hoặc một nhóm karaoke cuối tuần. Điều quan trọng là con người có một nơi nào đó mà ở đó họ không chỉ được nhìn nhận như một người lao động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Ở chỗ làm, nhiều khi người ta vẫn vô thức chia mức độ chính đáng của thời gian riêng. Ví dụ ai có con nhỏ thì dễ được thông cảm hơn. Còn người độc thân, hoặc chưa có gia đình riêng, thì mặc định là rảnh hơn.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đó là một thiên kiến phổ biến. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, con người ai cũng có những nhu cầu và trách nhiệm ngoài công việc: chăm sóc cha mẹ lớn tuổi, thú cưng, bạn đời, bạn bè, đời sống cộng đồng, sinh hoạt tôn giáo, hoặc đơn giản là nhu cầu hồi phục cá nhân. Một môi trường làm việc lành mạnh không nên chỉ công nhận một vài loại trách nhiệm được xem là chuẩn, mà cần hiểu rằng thời gian và năng lượng của mỗi người đều có giới hạn và đều cần được tôn trọng.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe như vậy thì giữ sức khỏe tinh thần không phải là chuyện cảm xúc đơn lẻ, mà còn là chuyện cấu trúc sống và văn hóa làm việc.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Đúng. Nếu nói một cách học thuật hơn, sức khỏe tinh thần vừa là vấn đề cá nhân, vừa là vấn đề xã hội. Nó liên quan đến thói quen cá nhân, nhưng cũng gắn với tổ chức lao động, chuẩn mực văn hóa, điều kiện sống, khả năng tiếp cận hỗ trợ, và chất lượng các mối quan hệ. Vì vậy, giải pháp cũng không nên bị giản lược thành “cố tích cực lên” hay “quản lý cảm xúc tốt hơn”.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nếu phải kết lại thành mấy ý rõ ràng, cậu sẽ nói sao?</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Có thể tóm gọn thế này:</p>



<p>Thứ nhất, mệt mỏi tinh thần không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng khủng hoảng rõ rệt; nhiều khi nó xuất hiện dưới dạng khó nghỉ, khó tập trung, và cảm giác công việc luôn bám theo mình.</p>



<p>Thứ hai, với người lao động hiện nay, việc dựng ranh giới giữa giờ làm và giờ nghỉ là một kỹ năng thiết yếu, không phải một sự xa xỉ.</p>



<p>Thứ ba, các hoạt động phục hồi hiệu quả thường không cần cầu kỳ; điều quan trọng là chúng giúp cơ thể và đầu óc chuyển trạng thái, giảm áp lực hiệu suất, và tạo lại cảm giác kết nối. Trong bối cảnh Việt Nam, karaoke là một ví dụ đáng chú ý vì nó vừa phổ biến, vừa mang tính cộng đồng, vừa có khả năng giải tỏa tâm lý tương đối tự nhiên.</p>



<p>Cuối cùng, sức khỏe tinh thần không nên bị xem là chuyện riêng mà cá nhân phải tự xoay xở hoàn toàn. Nó cần được nhìn nhận như một phần của chất lượng sống và chất lượng lao động.</p>



<p><strong>Bình An:</strong><br>Nghe ổn hơn nhiều so với mấy lời khuyên kiểu “yêu bản thân đi” mà mình hay thấy trên mạng.</p>



<p><strong>Bình AI:</strong><br>Vì vấn đề này không cần khẩu hiệu. Nó cần những cách nhìn thực tế hơn, và những thói quen có thể duy trì được trong đời sống thật.</p>



<p>Bình An nhìn lại màn hình máy tính đã tối. Lần này anh không mở lại nữa. Anh đứng dậy, lấy điện thoại, nhắn vào nhóm bạn cũ một câu ngắn: “Cuối tuần đi karaoke không?”</p>



<p>Có thể công việc vẫn còn đó. Áp lực cũng chưa biến mất. Nhưng đôi khi, điều giúp một người quay lại trạng thái cân bằng không phải là một thay đổi lớn, mà là biết cách tạo ra những khoảng ngắt đúng lúc &#8211; đủ để đầu óc được nghỉ, đủ để cơ thể thở lại bình thường, và đủ để nhớ rằng cuộc sống không chỉ được đo bằng năng suất.</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="tin-khac" data-modified="120" data-title="Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/">Hát những bài làm mình thấy nhẹ đầu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/hat-nhung-bai-lam-minh-thay-nhe-dau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tương lai các ngành KHXH&#038;NV trong nền kinh tế tri thức</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tuong-lai-cac-nganh-khxhnv-trong-nen-kinh-te-tri-thuc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tuong-lai-cac-nganh-khxhnv-trong-nen-kinh-te-tri-thuc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Linh Chi]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Mar 2026 00:14:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2996</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bản biên tập của bài viết đã được đăng ở Tia sáng Năm 1959, trong bài giảng mà sau đó được Times Literary Supplement xếp vào danh sách 100 tác phẩm ảnh hưởng nhất đến diễn ngôn đại chúng phương Tây kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà vật lý học kiêm [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tuong-lai-cac-nganh-khxhnv-trong-nen-kinh-te-tri-thuc/">Tương lai các ngành KHXH&#038;NV trong nền kinh tế tri thức</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><em><strong>Bản biên tập của bài viết đã được đăng ở <a href="https://tiasang.com.vn/khong-the-quy-thanh-tien-khung-hoang-ton-vong-voi-cac-nganh-nhan-van-5050048.html">Tia s</a><a href="https://tiasang.com.vn/khong-the-quy-thanh-tien-khung-hoang-ton-vong-voi-cac-nganh-nhan-van-5050048.html" target="_blank" rel="noreferrer noopener">áng</a></strong></em></p>



<p>Năm 1959, trong bài giảng mà sau đó được Times Literary Supplement xếp vào danh sách 100 tác phẩm ảnh hưởng nhất đến diễn ngôn đại chúng phương Tây kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà vật lý học kiêm tiểu thuyết gia C. P. Snow đã phê phán sự rạn nứt ngày càng sâu sắc giữa giới khoa học và giới nhân văn. Ông kêu gọi việc cải tổ giáo dục theo hướng tăng cường sự giao tiếp giữa hai nhóm lĩnh vực mà ông gọi là “hai nền văn hóa”. Ở thời điểm đó, bài giảng gây tranh cãi khi ông chỉ trích giáo dục nước Anh quá coi trọng các ngành Nhân văn mà bỏ bê đào tạo các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2997" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-1536x1024.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/03/image-6-2048x1365.png 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: Photo by <a href="https://unsplash.com/@markusspiske?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Markus Spiske</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/white-and-blue-printer-paper-7QyUPe30vqU?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p>Gần bảy thập kỷ sau, rạn nứt này vẫn tồn tại, nhưng bối cảnh giáo dục đại học ở nhiều quốc gia cho thấy một chuyển động khác. Các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nhân văn, có vẻ như đang trở thành bên yếu thế. Trong khi đó các ngành STEM được coi trọng do được cho là gắn trực tiếp với tăng trưởng kinh tế và khả năng có việc làm của sinh viên.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Suy giảm quy mô nhập học và thu hẹp tài trợ nghiên cứu ở nhiều quốc gia</h2>



<p>Tại New Zealand, cuối năm 2024, Bộ trưởng Khoa học, Đổi mới và Công nghệ Judith Collins đã công bố một điều chỉnh lớn đối với Quỹ Marsden &#8211; quỹ chủ chốt tài trợ nghiên cứu cơ bản của quốc gia này. Khoảng một nửa trong tổng 75 triệu NZD được chuyển sang các hạng mục “nghiên cứu mang lại lợi ích kinh tế”. Đáng chú ý, các đề tài thuộc khối KHXH&amp;NV bị loại khỏi danh mục hỗ trợ và các hội đồng thẩm định liên quan cũng bị giải tán, gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ trong giới học thuật (Meduna, 2024).&nbsp;</p>



<p>Tại Úc, nhiều trường đại học đã cắt giảm, tái cấu trúc hoặc đóng cửa các chương trình/bộ môn thuộc Nhân văn, Nghệ thuật và KHXH. Quốc gia này vốn có mô hình nhà nước hỗ trợ một phần học phí và phần còn lại do sinh viên đóng góp thông qua chương trình hỗ trợ tài chính HECS-HELP. Trong gói chính sách “Sẵn sàng cho công việc sau tốt nghiệp” (Job-ready Graduates), chính phủ đã điều chỉnh mức chia sẻ chi phí từ sinh viên theo hướng làm tăng chi phí với nhiều ngành thuộc KHXH&amp;NV và giảm chi phí cho các ngành được xem là có “triển vọng việc làm cao hơn” như một số ngành thuộc nhóm STEM. (Horton, 2020)</p>



<p>Dù số lượng sinh viên toàn thời gian ngành KHXH&amp;NV có tăng 27% trong giai đoạn 2005-2019, nhưng tỷ trọng của nhóm này trong tổng số sinh viên lại giảm từ 29% xuống 26%. Dữ liệu từ đánh giá Xuất sắc trong Nghiên cứu tại Australia (Excellence in Research for Australia) cho thấy số nhân sự nghiên cứu trong các lĩnh vực KHXH&amp;NV và nghệ thuật đã giảm 8% trong giai đoạn 2012–2018, và thị trường việc làm học thuật cho các nhà nghiên cứu nhân văn trẻ cũng ngày càng khó khăn (Baker, 2021)</p>



<p>Ở Hoa Kỳ &#8211; quốc gia vốn từng được coi là biểu tượng của giáo dục khai phóng &#8211; dự án Các chỉ số ngành Nhân văn (Humanities Indicators) của Học viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa kỳ (American Academy of Arts and Sciences) cho thấy xu hướng giảm tỷ trọng ngành Nhân văn trong cơ cấu tốt nghiệp bậc cử nhân từ 14,6% năm 2009 xuống 10,2% năm 2018 .Ngược lại, tỷ trọng ngành kỹ thuật tăng từ 6,6% lên 10,3%, và khoa học sức khỏe/y tăng từ 7,5% lên 12,4%; tổng tỷ trọng của STEM (bao gồm khoa học tự nhiên và kỹ thuật) tăng từ 22,7% lên 33,4% (Baker, 2021). Tỷ lệ giảng viên không biên chế trong khối Nhân văn đã vượt 40%, phản ánh tình trạng bất ổn trong nghề nghiệp của ngành (Theo dữ liệu công bố năm 2025 của Viện Hàn lâm và Nghệ thuật Hoa Kỳ)</p>



<p>Trong bài báo vừa được đăng đầu năm nay trên The Guardian với tựa đề tạm dịch “Không thể ra tiền” (Just not monetizable), nhà báo Alice Speri mô tả một “khủng hoảng tồn vong” đối với ngành nhân văn tại Mỹ. Bài viết nêu hàng loạt sự kiện: tiểu bang Indiana thông qua đạo luật buộc sáp nhập khoảng 400 chương trình (xấp xỉ 20% hệ thống bằng cấp), phần lớn là nhân văn; Đại học Texas ở Austin cắt giảm các ngành nghiên cứu sắc tộc và giới; Đại học North Carolina đóng cửa 6 trung tâm nghiên cứu khu vực; và Đại học Chicago tạm dừng tuyển sinh sau đại học cho hầu hết chương trình nhân văn.&nbsp;</p>



<p>Trong cuộc tấn công của chính quyền Trump theo chủ trương bài DEI (Công bằng, bình đẳng, hòa nhập) tới toàn bộ lĩnh vực khoa học, KHXH&amp;NV chịu ảnh hưởng mạnh khi Nhà Trắng tuyên bố cắt tài trợ cho các chương trình “woke” đang “đầu độc tâm trí người Mỹ”. Quỹ Khoa học Quốc Gia (NSF) năm ngoái thông báo có khoảng 3000 khoản tài trợ mới bị cắt giảm ở mọi lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực khoa học xã hội &#8211; khoa học hành vi &#8211; kinh tế nhận mức giảm lớn nhất tới 55% so với năm 2024 (Bhatia, Fan, Smith, &amp; Hwang, 2025).&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Ở vương quốc Anh, dữ liệu từ năm 2021 đã dự báo xu hướng tuyển sinh dài hạn có sự chuyển dịch sang các ngành STEM. Dữ liệu từ UNESCO chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các lĩnh vực này đã tăng lên kể từ năm 2012 – năm mà học phí đại học tăng gấp ba lần, làm gia tăng áp lực buộc các trường đại học phải chứng minh được khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường. Trong giai đoạn 2007-08 đến 2016-17: số lượng người học nhập học các ngành lịch sử và triết học giảm 11,6%, ngôn ngữ giảm 21,3%, và giáo dục giảm 25,5% (The British Academy, 2025).</p>



<p>Khả năng tìm kiếm việc làm đã trở thành chủ đề thống trị trong các diễn ngôn của chính phủ Anh về cách thức đo lường kết quả đào tạo đại học. Các sáng kiến như bộ dữ liệu Kết quả Giáo dục Dài hạn (Longitudial Emplyability Outcomes) – công cụ sử dụng hồ sơ thuế để liên kết mức lương của sinh viên tốt nghiệp với ngành học tương ứng – đang ngày càng trở thành một phần trong &#8216;kho vũ khí&#8217; của các bộ trưởng nhằm tấn công vào những gì họ coi là các khóa học &#8216;chất lượng thấp&#8217;. Mặc dù mục tiêu này có thể nhắm vào một số cơ sở đào tạo cụ thể hơn là các chuyên ngành đơn lẻ, nhưng thực tế cho thấy các lĩnh vực nghệ thuật và nhân văn lại thường xuyên bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ nhất (Baker, 2021).</p>



<p>Báo cáo công bố mới đây về “Phân tích tình trạng bất bình đẳng trong cung cấp các chương trình SHAPE tại các cơ sở giáo dục đại học ở vương quốc Anh” của Viện Hàn lâm Anh Quốc (SHAPE là viết tắt của Khoa học xã hội, Nhân văn và nghệ thuật cho con người và Kinh tế/Môi trường &#8211; Social Sciences, Humanities and Arts for People and the Economy) cảnh báo sự xuất hiện của các “điểm lạnh” (cold spots): nhiều khu vực không có chương trình SHAPE trong khoảng cách có thể đi lại hằng ngày, ước tính khoảng 60 km (The British Academy, 2025). Đặc biệt, ngành Ngôn ngữ hiện đại đã giảm gần một nửa mức độ cung ứng từ năm 2011/12, trong khi các ngành như Văn học Anh, Kịch nghệ cũng sụt giảm trung bình 30-50% số lượng sinh viên. Một số môn như Văn học cổ điển và Nhân chủng học ngày càng tập trung ở các đô thị lớn, đặc biệt là London và Đông Nam, làm gia tăng chênh lệch vùng miền.</p>



<p>Sự mất cân bằng trong việc tiếp cận các chương trình KHXH&amp;NV này có phần tương đồng với Ấn Độ, theo nhận định của Saikat Majumdar, giáo sư tại Đại học Ashoka. Ông nhận định rằng mặc dù chính sách giáo dục của quốc gia này khuyến khích giáo dục khai phóng liên ngành và có các nỗ lực thể hiện sự cam kết với việc thúc đẩy các ngành nhân văn, thực tế lại đang tạo ra các đại học tư nhân xa xỉ chỉ dành cho giới thượng lưu. STEM vẫn được coi là con đường nhanh chóng để cho các người học từ tầng lớp thấp hơn hướng đến thăng tiến vị thế xã hội (Baker, 2021). Số liệu từ Tổng cục Khảo sát Quốc gia Ấn Độ (NSSO) năm 2025 đã củng cố nhận định này khi khối ngành KHXH&amp;NV và Nghệ thuật hiện chỉ chiếm 23% tổng số sinh viên. Tại những bang có nền tảng kỹ thuật mạnh như Tamil Nadu, áp lực kinh tế đã khiến các ngành nhân văn bị gạt sang lề, dẫn đến việc cắt giảm ngân sách và nhân sự nghiêm trọng. Tại đây, các khoa KHXH&amp;NV ở trường công lập thường bị thu hẹp chỉ còn một hoặc hai giảng viên, và ngay cả chương trình tài trợ nghiên cứu của Thủ hiến bang cũng dành toàn bộ nguồn lực cho các dự án STEM (Prakash, 2025).&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading">Sự thống trị của logic nền kinh tế tri thức</h2>



<p>Sự suy giảm vị thế của khối ngành KHXH&amp;NV gắn liền với sự chuyển dịch mang tính hệ thống sang mô hình kinh tế tri thức. Trong bối cảnh này, giáo dục đại học ngày càng được thiết kế như một thiết chế phục vụ nền kinh tế, tri thức được coi là nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh, và trường đại học vận hành như nơi sản xuất “nhân công tri thức kỹ năng cao”. Sâu xa hơn, sự thống trị của kinh tế tri thức đã đẩy giáo dục đại học rời xa khái niệm hàng hóa công cộng để trở thành một khoản đầu tư tư nhân theo logic tân tự do. Tại đây, giá trị của một ngành học được tính toán bằng &#8220;lợi tức đầu tư&#8221;. Người học, trong vai trò là những nhà đầu tư cá nhân, chịu áp lực phải lựa chọn những ngành có khả năng hoàn vốn nhanh nhất.</p>



<p>Trong nền kinh tế tri thức, các ngành KHXH &amp; NV, đặc biệt là các ngành NV bị đặt dưới sự nghi ngờ về giá trị đầu tư này. Các biện luận chính sách cho việc cắt giảm tài trợ hay thu hẹp quy mô thường được diễn giải thông qua nhu cầu “tập trung cho các ngành mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp” (như tuyên bố của Thủ tướng New Zealand) hoặc để tối ưu hóa “tỷ lệ sẵn sàng việc làm sau tốt nghiệp” (như chính sách giảm học phí của Úc).&nbsp;</p>



<p>Khi năng lực của một trường đại học được đo lường bằng các chỉ báo định lượng như số lượng bằng sáng chế, trích dẫn khoa học và khả năng đổi mới, khối STEM trở thành đại diện ưu tú cho năng lực quốc gia nhờ khả năng thúc đẩy các bước tiến công nghệ tức thì. Khối STEM, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ các tập đoàn công nghệ và chính sách chính phủ, trở thành lựa chọn ưu tiên; trong khi đó, các ngành Nhân văn &#8211; vốn tập trung vào sự suy tư, truyền thống và tư duy phản biện &#8211; bị gắn nhãn là &#8220;giá trị thấp&#8221; do khó quy đổi trực tiếp thành các chỉ số tăng trưởng định lượng (Bain &amp; Cummings, 2021).</p>



<p>Các học giả lý thuyết phê phán (critical theorists) cảnh báo rằng sự xuất hiện của kinh tế tri thức là sự tiếp nối logic tích lũy và kiểm soát của chủ nghĩa tư bản dưới hình thức mới: tri thức được biến thành một loại tài sản có thể sở hữu, giao dịch và chi phối. Theo lập luận này, việc thương mại hóa tri thức dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa tân tự do có thể làm trầm trọng thêm các bất bình đẳng hiện hữu. Thay vì dân chủ hóa cơ hội, nền kinh tế tri thức thường ưu tiên phục vụ mục tiêu lợi nhuận của các tập đoàn, vô hình trung làm lu mờ các hình thức sản xuất tri thức mang tính cộng đồng hoặc định hướng lợi ích xã hội bền vững (Alhinai &amp; Al-Belushi, 2026)</p>



<h2 class="wp-block-heading">Lời biện hộ cho KHXH&amp;NV</h2>



<p>Hetan Shah, Giám đốc điều hành Học viện Hàn lâm Anh Quốc, cho biết các nghiên cứu dài hạn của cơ quan này cho thấy sự khác biệt về khả năng tìm việc giữa nhóm ngành Nghệ thuật, KHXH&amp;NV) và STEM là không đáng kể. Khoảng cách về thu nhập cũng thường bị phóng đại: sinh viên HASS có thể có mức lương khởi điểm thấp hơn, nhưng lại sở hữu tốc độ tăng trưởng thu nhập mạnh mẽ về sau, dù sau 10 năm vẫn tồn tại một khoảng cách nhất định so với khối kỹ thuật.&nbsp;</p>



<p>Giả định STEM đồng nghĩa với cơ hội việc làm cao chưa được dữ liệu thị trường lao động ủng hộ một cách thuyết phục (Baker, 2021). Năm 2014, STEM chỉ chiếm 7% việc làm tại EU và 6% tại Mỹ vào năm 2016. Ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của thập niên 2010, lĩnh vực công nghệ chỉ đóng góp 10% vào GDP của Mỹ, với giá trị thị trường thấp hơn nhóm ngành tiêu dùng tùy ý. Bất chấp những lo ngại về tình trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao, theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, chỉ 28% sinh viên tốt nghiệp STEM làm việc đúng chuyên môn, con số này đạt đỉnh cũng chỉ 51% ở nhóm ngành máy tính và toán học. Rõ ràng, không có một lộ trình nghề nghiệp cố định hay mô hình tuyển dụng đặc thù nào cho nhóm cử nhân này (Goldstein, 2021).</p>



<p>Trước quyết định của chính phủ New Zealand, nhiều học giả chỉ trích đây là một bước đi thiển cận, bỏ qua những đóng góp dài hạn của các ngành KHXH&amp;NV. Ngay cả các nhà nghiên cứu trong khối STEM cũng đồng tình rằng, nếu thiếu đi KHXH&amp;NV, chính khối STEM cũng bị ảnh hưởng. Việc ứng dụng công nghệ vào đời sống nếu thiếu đi các cơ sở về đạo đức và hành vi sẽ không thể đánh giá hết các tác động tới phúc lợi xã hội. Ngoài ra, nhiều người lo ngại quyết định cực đoan này sẽ tạo ra một tiền lệ xấu cho tự chủ học thuật, dẫn đến nguy cơ cắt ngân sách của mọi loại hình nghiên cứu thuần túy (blue skies research), dù là trong lĩnh vực khoa học hay nhân văn &amp; nghệ thuật (Sarpong, 2024)</p>



<p>Khảo sát phản ứng của 17 giám đốc học thuật khối ngành KHXH&amp;NV tại 37 trường đại học công lập Úc trước các chính sách tập trung vào khả năng có việc làm sau tốt nghiệp của chính phủ nước này, tất cả đều khẳng định giá trị của bằng KHXH&amp;NV trong bối cảnh thị trường lao động hiện tại. Các chương trình KHXH&amp;NV trang bị cho sinh viên kỹ năng tư duy phản biện và khả năng lãnh đạo. Khảo sát cấp quốc gia Úc mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng vào năm 2021 cho thấy hơn 92% nhà tuyển dụng hài lòng với sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình KHXH&amp;NV (McCormack và Baron (2023).</p>



<figure class="wp-block-pullquote"><blockquote><p>&#8220;việc nhấn mạnh vào khả năng định lượng các kết quả và của chính tri thức đã quét sạch mọi sắc thái, mọi sự thấu hiểu về tính phức tạp cũng như những mâu thuẫn; đồng thời tạo ra ảo tưởng về một vũ trụ tuyến tính đơn giản, nơi mà chỉ cần bất cứ thứ gì được gán cho một con số, thì ở một khía cạnh nào đó, nó đã trở nên &#8216;có giá trị'&#8221;</p><cite>Alexander (2014, tr 53)</cite></blockquote></figure>



<p>Tuy vậy, một số cũng thể hiện sự bất an khi nhận định rằng việc phải cố gắng chứng minh khả năng xin việc này của các bằng KHXH&amp;NV đang xem nhẹ các giá trị khác của nó. Họ cho rằng giáo dục đại học nên hướng đến những mục tiêu phát triển con người toàn diện thay vì tập trung vào mục tiêu hẹp là chuẩn bị cho sinh viên một đích đến nghề nghiệp cụ thể ngay lập tức. Nhiều người cũng bày tỏ quan ngại rằng các chiến lược hiện nay của chính phủ không chỉ khiến công chúng hoài nghi, gây khó khăn cho công tác tuyển sinh, mà còn đẩy nhiều khoa ngành đứng trước nguy cơ đóng cửa, khiến đội ngũ giảng viên rơi vào trạng thái kiệt sức và xuống tinh thần.&nbsp;</p>



<p>Alexander (2014, tr 53) lập luận rằng, “việc nhấn mạnh vào khả năng định lượng các kết quả và của chính tri thức đã quét sạch mọi sắc thái, mọi sự thấu hiểu về tính phức tạp cũng như những mâu thuẫn; đồng thời tạo ra ảo tưởng về một vũ trụ tuyến tính đơn giản, nơi mà chỉ cần bất cứ thứ gì được gán cho một con số, thì ở một khía cạnh nào đó, nó đã trở nên &#8216;có giá trị&#8217;”.&nbsp;</p>



<p>Sau cùng, những nỗ lực biện hộ cho KHXH&amp;NV không nhằm mục đích hạ thấp vị thế của STEM hay tạo ra một cuộc đối đầu ý thức hệ giữa &#8220;hai nền văn hóa&#8221;; mà là lời biện hộ và kêu gọi cho một nền giáo dục không xoay quanh các giá trị kinh tế ngắn hạn.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Tài liệu tham khảo</h2>



<p>Alexander, N. (2014). Universities and the ‘knowledge economy’. Education, Economy &amp; Society, 48-56.</p>



<p>Alhinai, M., &amp; Al-Belushi, M. A. K. (2026). Reimagining the Knowledge Economy: A Critical Call to Re-Center the Humanities in Omani Higher Education. Journal of Arabian Studies, 1-18.</p>



<p>American Academy of Arts and Sciences. (2025). Academic humanities today: Findings from a new national survey. https://www.amacad.org/bulletin/spring-2025/academic-humanities-today-findings-new-national-survey</p>



<p>Bain, O., &amp; Cummings, W. (2021). Higher education in the era of knowledge economy. In Universities in the knowledge society: The nexus of national systems of innovation and higher education (pp. 33-47). Cham: Springer International Publishing.</p>



<p>Baker, S. (2021). Is STEM growth really stunting the humanities. Times Higher Education. https://www.timeshighereducation.com/features/stem-growth-really-stunting-humanities</p>



<p>Bhatia, A., Fan, A., Smith, J., &amp; Hwang, I. (2025, November 26). The U.S. is funding fewer grants in every area of science and medicine. The New York Times. https://www.nytimes.com/interactive/2025/12/02/upshot/trump-science-funding-cuts.html</p>



<p>Goldstein, B. (2021). Decline of the Humanities: Where does it STEM from?. The Cornell Diplomat, 6(6).</p>



<p>Horton, J. (2020). Why Australia is charging more to study history. BBC Worklife. <a href="https://www.bbc.com/worklife/article/20200728-why-australia-is-charging-more-to-study-history">https://www.bbc.com/worklife/article/20200728-why-australia-is-charging-more-to-study-history</a></p>



<p>Lee, H. (2021, July 8). <em>UK universities cut arts, languages, humanities and social science degrees</em>. World Socialist Web Site. <a href="https://www.wsws.org/en/articles/2021/07/09/unic-j09.html">https://www.wsws.org/en/articles/2021/07/09/unic-j09.html</a></p>



<p>McCormack, S., &amp; Baron, P. (2023). The impact of employability on humanities, arts and social sciences degrees in Australia. Arts and Humanities in Higher Education, 22(2), 164-182.</p>



<p>Meduna, V. (2024, December 6). Amid cuts to basic research, New Zealand scraps all support for social sciences. Science Insider. https://www.science.org/content/article/amid-cuts-basic-research-new-zealand-scraps-all-support-social-sciences</p>



<p>Prakash, S. (2025, April 9). The case for humanities and social sciences in a STEM-centric world. South First. https://thesouthfirst.com/tamilnadu/the-case-for-humanities-and-social-sciences-in-a-stem-centric-world/</p>



<p>Speri, A. (2026, January 20). <em>‘Just not monetizable’: humanities programs face existential crisis at US universities</em>. The Guardian.<a href="https://www.google.com/search?q=https://www.theguardian.com/education/2026/jan/20/humanities-programs-existential-crisis-us-universities"> https://www.theguardian.com/education/2026/jan/20/humanities-programs-existential-crisis-us-universities</a></p>



<p>The British Academy. (2025). Cold spots: Mapping inequality in SHAPE provision in UK higher education. <a href="https://www.thebritishacademy.ac.uk/documents/5877/Cold_spots_-_Mapping_inequality_in_SHAPE_provision_in_UK_higher_education.pdf">https://www.thebritishacademy.ac.uk/documents/5877/Cold_spots_-_Mapping_inequality_in_SHAPE_provision_in_UK_higher_education.pdf</a>&nbsp;</p>
<div class="gsp_post_data" data-post_type="post" data-cat="thi-truong-giao-duc" data-modified="120" data-title="Tương lai các ngành KHXH&#038;NV trong nền kinh tế tri thức" data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tuong-lai-cac-nganh-khxhnv-trong-nen-kinh-te-tri-thuc/">Tương lai các ngành KHXH&#038;NV trong nền kinh tế tri thức</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tuong-lai-cac-nganh-khxhnv-trong-nen-kinh-te-tri-thuc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
