Tương lai các ngành KHXH&NV trong nền kinh tế tri thức

Bài viết này đã được biên tập và đăng lại ở Tia sáng

Năm 1959, trong bài giảng mà sau đó được Times Literary Supplement xếp vào danh sách 100 tác phẩm ảnh hưởng nhất đến diễn ngôn đại chúng phương Tây kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà vật lý học kiêm tiểu thuyết gia C. P. Snow đã phê phán sự rạn nứt ngày càng sâu sắc giữa giới khoa học và giới nhân văn. Ông kêu gọi việc cải tổ giáo dục theo hướng tăng cường sự giao tiếp giữa hai nhóm lĩnh vực mà ông gọi là “hai nền văn hóa”. Ở thời điểm đó, bài giảng gây tranh cãi khi ông chỉ trích giáo dục nước Anh quá coi trọng các ngành Nhân văn mà bỏ bê đào tạo các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

Ảnh: Photo by Markus Spiske on Unsplash | Unsplash License

Gần bảy thập kỷ sau, rạn nứt này vẫn tồn tại, nhưng bối cảnh giáo dục đại học ở nhiều quốc gia cho thấy một chuyển động khác. Các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nhân văn, có vẻ như đang trở thành bên yếu thế. Trong khi đó các ngành STEM được coi trọng do được cho là gắn trực tiếp với tăng trưởng kinh tế và khả năng có việc làm của sinh viên.

Suy giảm quy mô nhập học và thu hẹp tài trợ nghiên cứu ở nhiều quốc gia

Tại New Zealand, cuối năm 2024, Bộ trưởng Khoa học, Đổi mới và Công nghệ Judith Collins đã công bố một điều chỉnh lớn đối với Quỹ Marsden – quỹ chủ chốt tài trợ nghiên cứu cơ bản của quốc gia này. Kkhoảng một nửa trong tổng 75 triệu NZD được chuyển sang các hạng mục “nghiên cứu mang lại lợi ích kinh tế”. Đáng chú ý, các đề tài thuộc khối KHXH&NV bị loại khỏi danh mục hỗ trợ và các hội đồng thẩm định liên quan cũng bị giải tán, gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ trong giới học thuật (Meduna, 2024). 

Tại Úc, nhiều trường đại học đã cắt giảm, tái cấu trúc hoặc đóng cửa các chương trình/bộ môn thuộc Nhân văn, Nghệ thuật và KHXH. Quốc gia này vốn có mô hình nhà nước hỗ trợ một phần học phí và phần còn lại do sinh viên đóng góp thông qua chương trình hỗ trợ tài chính HECS-HELP. Trong gói chính sách “Sẵn sàng cho công việc sau tốt nghiệp” (Job-ready Graduates), chính phủ đã điều chỉnh mức chia sẻ chi phí từ sinh viên theo hướng làm tăng chi phí với nhiều ngành thuộc KHXH&NV và giảm chi phí cho các ngành được xem là có “triển vọng việc làm cao hơn” như một số ngành thuộc nhóm STEM. (Horton, 2020)

Dù số lượng sinh viên toàn thời gian ngành KHXH&NV có tăng 27% trong giai đoạn 2005-2019, nhưng tỷ trọng của nhóm này trong tổng số sinh viên lại giảm từ 29% xuống 26%. Dữ liệu từ đánh giá Xuất sắc trong Nghiên cứu tại Australia (Excellence in Research for Australia) cho thấy số nhân sự nghiên cứu trong các lĩnh vực KHXH&NV và nghệ thuật đã giảm 8% trong giai đoạn 2012–2018, và thị trường việc làm học thuật cho các nhà nghiên cứu nhân văn trẻ cũng ngày càng khó khăn (Baker, 2021)

Ở Hoa Kỳ – quốc gia vốn từng được coi là biểu tượng của giáo dục khai phóng – dự án Các chỉ số ngành Nhân văn (Humanities Indicators) của Học viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa kỳ (American Academy of Arts and Sciences) cho thấy xu hướng giảm tỷ trọng ngành Nhân văn trong cơ cấu tốt nghiệp bậc cử nhân từ 14,6% năm 2009 xuống 10,2% năm 2018 .Ngược lại, tỷ trọng ngành kỹ thuật tăng từ 6,6% lên 10,3%, và khoa học sức khỏe/y tăng từ 7,5% lên 12,4%; tổng tỷ trọng của STEM (bao gồm khoa học tự nhiên và kỹ thuật) tăng từ 22,7% lên 33,4% (Baker, 2021). Tỷ lệ giảng viên không biên chế trong khối Nhân văn đã vượt 40%, phản ánh tình trạng bất ổn trong nghề nghiệp của ngành (Theo dữ liệu công bố năm 2025 của Viện Hàn lâm và Nghệ thuật Hoa Kỳ)

Trong bài báo vừa được đăng đầu năm nay trên The Guardian với tựa đề tạm dịch “Không thể ra tiền” (Just not monetizable), nhà báo Alice Speri mô tả một “khủng hoảng tồn vong” đối với ngành nhân văn tại Mỹ. Bài viết nêu hàng loạt sự kiện: tiểu bang Indiana thông qua đạo luật buộc sáp nhập khoảng 400 chương trình (xấp xỉ 20% hệ thống bằng cấp), phần lớn là nhân văn; Đại học Texas ở Austin cắt giảm các ngành nghiên cứu sắc tộc và giới; Đại học North Carolina đóng cửa 6 trung tâm nghiên cứu khu vực; và Đại học Chicago tạm dừng tuyển sinh sau đại học cho hầu hết chương trình nhân văn. 

Trong cuộc tấn công của chính quyền Trump theo chủ trương bài DEI (Công bằng, bình đẳng, hòa nhập) tới toàn bộ lĩnh vực khoa học, KHXH&NV chịu ảnh hưởng mạnh khi Nhà Trắng tuyên bố cắt tài trợ cho các chương trình “woke” đang “đầu độc tâm trí người Mỹ”. Quỹ Khoa học Quốc Gia (NSF) năm ngoái thông báo có khoảng 3000 khoản tài trợ mới bị cắt giảm ở mọi lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực khoa học xã hội – khoa học hành vi – kinh tế nhận mức giảm lớn nhất tới 55% so với năm 2024 (Bhatia, Fan, Smith, & Hwang, 2025).  

Ở vương quốc Anh, dữ liệu từ năm 2021 đã dự báo xu hướng tuyển sinh dài hạn có sự chuyển dịch sang các ngành STEM. Dữ liệu từ UNESCO chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các lĩnh vực này đã tăng lên kể từ năm 2012 – năm mà học phí đại học tăng gấp ba lần, làm gia tăng áp lực buộc các trường đại học phải chứng minh được khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường. Trong giai đoạn 2007-08 đến 2016-17: số lượng người học nhập học các ngành lịch sử và triết học giảm 11,6%, ngôn ngữ giảm 21,3%, và giáo dục giảm 25,5% (The British Academy, 2025).

Khả năng tìm kiếm việc làm đã trở thành chủ đề thống trị trong các diễn ngôn của chính phủ Anh về cách thức đo lường kết quả đào tạo đại học. Các sáng kiến như bộ dữ liệu Kết quả Giáo dục Dài hạn (Longitudial Emplyability Outcomes) – công cụ sử dụng hồ sơ thuế để liên kết mức lương của sinh viên tốt nghiệp với ngành học tương ứng – đang ngày càng trở thành một phần trong ‘kho vũ khí’ của các bộ trưởng nhằm tấn công vào những gì họ coi là các khóa học ‘chất lượng thấp’. Mặc dù mục tiêu này có thể nhắm vào một số cơ sở đào tạo cụ thể hơn là các chuyên ngành đơn lẻ, nhưng thực tế cho thấy các lĩnh vực nghệ thuật và nhân văn lại thường xuyên bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ nhất (Baker, 2021).

Báo cáo công bố mới đây về “Phân tích tình trạng bất bình đẳng trong cung cấp các chương trình SHAPE tại các cơ sở giáo dục đại học ở vương quốc Anh” của Viện Hàn lâm Anh Quốc (SHAPE là viết tắt của Khoa học xã hội, Nhân văn và nghệ thuật cho con người và Kinh tế/Môi trường – Social Sciences, Humanities and Arts for People and the Economy) cảnh báo sự xuất hiện của các “điểm lạnh” (cold spots): nhiều khu vực không có chương trình SHAPE trong khoảng cách có thể đi lại hằng ngày, ước tính khoảng 60 km (The British Academy, 2025). Đặc biệt, ngành Ngôn ngữ hiện đại đã giảm gần một nửa mức độ cung ứng từ năm 2011/12, trong khi các ngành như Văn học Anh, Kịch nghệ cũng sụt giảm trung bình 30-50% số lượng sinh viên. Một số môn như Văn học cổ điển và Nhân chủng học ngày càng tập trung ở các đô thị lớn, đặc biệt là London và Đông Nam, làm gia tăng chênh lệch vùng miền.

Sự mất cân bằng trong việc tiếp cận các chương trình KHXH&NV này có phần tương đồng với Ấn Độ, theo nhận định của Saikat Majumdar, giáo sư tại Đại học Ashoka. Ông nhận định rằng mặc dù chính sách giáo dục của quốc gia này khuyến khích giáo dục khai phóng liên ngành và có các nỗ lực thể hiện sự cam kết với việc thúc đẩy các ngành nhân văn, thực tế lại đang tạo ra các đại học tư nhân xa xỉ chỉ dành cho giới thượng lưu. STEM vẫn được coi là con đường nhanh chóng để cho các người học từ tầng lớp thấp hơn hướng đến thăng tiến vị thế xã hội (Baker, 2021). Số liệu từ Tổng cục Khảo sát Quốc gia Ấn Độ (NSSO) năm 2025 đã củng cố nhận định này khi khối ngành KHXH&NV và Nghệ thuật hiện chỉ chiếm 23% tổng số sinh viên. Tại những bang có nền tảng kỹ thuật mạnh như Tamil Nadu, áp lực kinh tế đã khiến các ngành nhân văn bị gạt sang lề, dẫn đến việc cắt giảm ngân sách và nhân sự nghiêm trọng. Tại đây, các khoa KHXH&NV ở trường công lập thường bị thu hẹp chỉ còn một hoặc hai giảng viên, và ngay cả chương trình tài trợ nghiên cứu của Thủ hiến bang cũng dành toàn bộ nguồn lực cho các dự án STEM (Prakash, 2025). 

Sự thống trị của logic nền kinh tế tri thức

Sự suy giảm vị thế của khối ngành KHXH&NV gắn liền với sự chuyển dịch mang tính hệ thống sang mô hình kinh tế tri thức. Trong bối cảnh này, giáo dục đại học ngày càng được thiết kế như một thiết chế phục vụ nền kinh tế, tri thức được coi là nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh, và trường đại học vận hành như nơi sản xuất “nhân công tri thức kỹ năng cao”. Sâu xa hơn, sự thống trị của kinh tế tri thức đã đẩy giáo dục đại học rời xa khái niệm hàng hóa công cộng để trở thành một khoản đầu tư tư nhân theo logic tân tự do. Tại đây, giá trị của một ngành học được tính toán bằng “lợi tức đầu tư”. Người học, trong vai trò là những nhà đầu tư cá nhân, chịu áp lực phải lựa chọn những ngành có khả năng hoàn vốn nhanh nhất.

Trong nền kinh tế tri thức, các ngành KHXH & NV, đặc biệt là các ngành NV bị đặt dưới sự nghi ngờ về giá trị đầu tư này. Các biện luận chính sách cho việc cắt giảm tài trợ hay thu hẹp quy mô thường được diễn giải thông qua nhu cầu “tập trung cho các ngành mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp” (như tuyên bố của Thủ tướng New Zealand) hoặc để tối ưu hóa “tỷ lệ sẵn sàng việc làm sau tốt nghiệp” (như chính sách giảm học phí của Úc). 

Khi năng lực của một trường đại học được đo lường bằng các chỉ báo định lượng như số lượng bằng sáng chế, trích dẫn khoa học và khả năng đổi mới, khối STEM trở thành đại diện ưu tú cho năng lực quốc gia nhờ khả năng thúc đẩy các bước tiến công nghệ tức thì. Khối STEM, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ các tập đoàn công nghệ và chính sách chính phủ, trở thành lựa chọn ưu tiên; trong khi đó, các ngành Nhân văn – vốn tập trung vào sự suy tư, truyền thống và tư duy phản biện – bị gắn nhãn là “giá trị thấp” do khó quy đổi trực tiếp thành các chỉ số tăng trưởng định lượng (Bain & Cummings, 2021).

Các học giả lý thuyết phê phán (critical theorists) cảnh báo rằng sự xuất hiện của kinh tế tri thức là sự tiếp nối logic tích lũy và kiểm soát của chủ nghĩa tư bản dưới hình thức mới: tri thức được biến thành một loại tài sản có thể sở hữu, giao dịch và chi phối. Theo lập luận này, việc thương mại hóa tri thức dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa tân tự do có thể làm trầm trọng thêm các bất bình đẳng hiện hữu. Thay vì dân chủ hóa cơ hội, nền kinh tế tri thức thường ưu tiên phục vụ mục tiêu lợi nhuận của các tập đoàn, vô hình trung làm lu mờ các hình thức sản xuất tri thức mang tính cộng đồng hoặc định hướng lợi ích xã hội bền vững (Alhinai & Al-Belushi, 2026)

Lời biện hộ cho KHXH&NV

Hetan Shah, Giám đốc điều hành Học viện Hàn lâm Anh Quốc, cho biết các nghiên cứu dài hạn của cơ quan này cho thấy sự khác biệt về khả năng tìm việc giữa nhóm ngành Nghệ thuật, KHXH&NV) và STEM là không đáng kể. Khoảng cách về thu nhập cũng thường bị phóng đại: sinh viên HASS có thể có mức lương khởi điểm thấp hơn, nhưng lại sở hữu tốc độ tăng trưởng thu nhập mạnh mẽ về sau, dù sau 10 năm vẫn tồn tại một khoảng cách nhất định so với khối kỹ thuật. 

Giả định STEM đồng nghĩa với cơ hội việc làm cao chưa được dữ liệu thị trường lao động ủng hộ một cách thuyết phục (Baker, 2021). Năm 2014, STEM chỉ chiếm 7% việc làm tại EU và 6% tại Mỹ vào năm 2016. Ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của thập niên 2010, lĩnh vực công nghệ chỉ đóng góp 10% vào GDP của Mỹ, với giá trị thị trường thấp hơn nhóm ngành tiêu dùng tùy ý. Bất chấp những lo ngại về tình trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao, theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, chỉ 28% sinh viên tốt nghiệp STEM làm việc đúng chuyên môn, con số này đạt đỉnh cũng chỉ 51% ở nhóm ngành máy tính và toán học. Rõ ràng, không có một lộ trình nghề nghiệp cố định hay mô hình tuyển dụng đặc thù nào cho nhóm cử nhân này (Goldstein, 2021).

Trước quyết định của chính phủ New Zealand, nhiều học giả chỉ trích đây là một bước đi thiển cận, bỏ qua những đóng góp dài hạn của các ngành KHXH&NV. Ngay cả các nhà nghiên cứu trong khối STEM cũng đồng tình rằng, nếu thiếu đi KHXH&NV, chính khối STEM cũng bị ảnh hưởng. Việc ứng dụng công nghệ vào đời sống nếu thiếu đi các cơ sở về đạo đức và hành vi sẽ không thể đánh giá hết các tác động tới phúc lợi xã hội. Ngoài ra, nhiều người lo ngại quyết định cực đoan này sẽ tạo ra một tiền lệ xấu cho tự chủ học thuật, dẫn đến nguy cơ cắt ngân sách của mọi loại hình nghiên cứu thuần túy (blue skies research), dù là trong lĩnh vực khoa học hay nhân văn & nghệ thuật (Sarpong, 2024)

Khảo sát phản ứng của 17 giám đốc học thuật khối ngành KHXH&NV tại 37 trường đại học công lập Úc trước các chính sách tập trung vào khả năng có việc làm sau tốt nghiệp của chính phủ nước này, tất cả đều khẳng định giá trị của bằng KHXH&NV trong bối cảnh thị trường lao động hiện tại. Các chương trình KHXH&NV trang bị cho sinh viên kỹ năng tư duy phản biện và khả năng lãnh đạo. Khảo sát cấp quốc gia Úc mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng vào năm 2021 cho thấy hơn 92% nhà tuyển dụng hài lòng với sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình KHXH&NV (McCormack và Baron (2023).

Tuy vậy, một số cũng thể hiện sự bất an khi nhận định rằng việc phải cố gắng chứng minh khả năng xin việc này của các bằng KHXH&NV đang xem nhẹ các giá trị khác của nó. Họ cho rằng giáo dục đại học nên hướng đến những mục tiêu phát triển con người toàn diện thay vì tập trung vào mục tiêu hẹp là chuẩn bị cho sinh viên một đích đến nghề nghiệp cụ thể ngay lập tức. Nhiều người cũng bày tỏ quan ngại rằng các chiến lược hiện nay của chính phủ không chỉ khiến công chúng hoài nghi, gây khó khăn cho công tác tuyển sinh, mà còn đẩy nhiều khoa ngành đứng trước nguy cơ đóng cửa, khiến đội ngũ giảng viên rơi vào trạng thái kiệt sức và xuống tinh thần. 

Alexander (2014, tr 53) lập luận rằng, “việc nhấn mạnh vào khả năng định lượng các kết quả và của chính tri thức đã quét sạch mọi sắc thái, mọi sự thấu hiểu về tính phức tạp cũng như những mâu thuẫn; đồng thời tạo ra ảo tưởng về một vũ trụ tuyến tính đơn giản, nơi mà chỉ cần bất cứ thứ gì được gán cho một con số, thì ở một khía cạnh nào đó, nó đã trở nên ‘có giá trị’”. 

Sau cùng, những nỗ lực biện hộ cho KHXH&NV không nhằm mục đích hạ thấp vị thế của STEM hay tạo ra một cuộc đối đầu ý thức hệ giữa “hai nền văn hóa”; mà là lời biện hộ và kêu gọi cho một nền giáo dục không xoay quanh các giá trị kinh tế ngắn hạn.

Tài liệu tham khảo

Alexander, N. (2014). Universities and the ‘knowledge economy’. Education, Economy & Society, 48-56.

Alhinai, M., & Al-Belushi, M. A. K. (2026). Reimagining the Knowledge Economy: A Critical Call to Re-Center the Humanities in Omani Higher Education. Journal of Arabian Studies, 1-18.

American Academy of Arts and Sciences. (2025). Academic humanities today: Findings from a new national survey. https://www.amacad.org/bulletin/spring-2025/academic-humanities-today-findings-new-national-survey

Bain, O., & Cummings, W. (2021). Higher education in the era of knowledge economy. In Universities in the knowledge society: The nexus of national systems of innovation and higher education (pp. 33-47). Cham: Springer International Publishing.

Baker, S. (2021). Is STEM growth really stunting the humanities. Times Higher Education. https://www.timeshighereducation.com/features/stem-growth-really-stunting-humanities

Bhatia, A., Fan, A., Smith, J., & Hwang, I. (2025, November 26). The U.S. is funding fewer grants in every area of science and medicine. The New York Times. https://www.nytimes.com/interactive/2025/12/02/upshot/trump-science-funding-cuts.html

Goldstein, B. (2021). Decline of the Humanities: Where does it STEM from?. The Cornell Diplomat, 6(6).

Horton, J. (2020). Why Australia is charging more to study history. BBC Worklife. https://www.bbc.com/worklife/article/20200728-why-australia-is-charging-more-to-study-history

Lee, H. (2021, July 8). UK universities cut arts, languages, humanities and social science degrees. World Socialist Web Site. https://www.wsws.org/en/articles/2021/07/09/unic-j09.html

McCormack, S., & Baron, P. (2023). The impact of employability on humanities, arts and social sciences degrees in Australia. Arts and Humanities in Higher Education, 22(2), 164-182.

Meduna, V. (2024, December 6). Amid cuts to basic research, New Zealand scraps all support for social sciences. Science Insider. https://www.science.org/content/article/amid-cuts-basic-research-new-zealand-scraps-all-support-social-sciences

Prakash, S. (2025, April 9). The case for humanities and social sciences in a STEM-centric world. South First. https://thesouthfirst.com/tamilnadu/the-case-for-humanities-and-social-sciences-in-a-stem-centric-world/

Speri, A. (2026, January 20). ‘Just not monetizable’: humanities programs face existential crisis at US universities. The Guardian. https://www.theguardian.com/education/2026/jan/20/humanities-programs-existential-crisis-us-universities

The British Academy. (2025). Cold spots: Mapping inequality in SHAPE provision in UK higher education. https://www.thebritishacademy.ac.uk/documents/5877/Cold_spots_-_Mapping_inequality_in_SHAPE_provision_in_UK_higher_education.pdf 

--- Bài viết này có hữu ích không? ---

Nhấn sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình 0 / 5. Số đánh giá: 0

Chưa có đánh giá.

Có thể bạn quan tâm