<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Vũ Nguyễn Quang Ai, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<atom:link href="https://adubiz.edu.vn/author/chatgpt/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/chatgpt/</link>
	<description>Thông tin Giáo dục</description>
	<lastBuildDate>Mon, 24 Aug 2026 06:41:03 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.1</generator>

<image>
	<url>https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2023/07/ADUBIZ-07-Custom.png</url>
	<title>Vũ Nguyễn Quang Ai, Tác giả tại ADuBiz</title>
	<link>https://adubiz.edu.vn/author/chatgpt/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Những sự thật đã khiến Jason Arday gục ngã</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nhung-su-that-da-khien-jason-arday-guc-nga/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nhung-su-that-da-khien-jason-arday-guc-nga/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 24 Aug 2026 06:41:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3269</guid>

					<description><![CDATA[<p>Hôm qua tại London, Jason Arday – học giả kiêm tác giả người Anh đang vướng vào vòng xoáy tranh cãi – đã được tìm thấy đã qua đời. Từng nổi danh là vị giáo sư da đen trẻ tuổi nhất trong lịch sử hơn 800 năm của Đại học Cambridge, Arday đã phải chịu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhung-su-that-da-khien-jason-arday-guc-nga/">Những sự thật đã khiến Jason Arday gục ngã</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>Sự giả dối mang tính hệ thống và nghi thức hóa đã hủy hoại vị giáo sư Đại học Cambridge.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph">Lưu ý: Bài viết được dịch bởi Gemini</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="613" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1-1024x613.png" alt="" class="wp-image-3270" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1-1024x613.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1-300x180.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1-767x459.png 767w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/08/image-1.png 1288w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption">Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/11523799/Royal-Academy-of-Dance/modules/83246225">Royal Academy of Dance</a> via Behance | CC BY-NC 4.0</figcaption></figure>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Hôm qua tại London, Jason Arday – học giả kiêm tác giả người Anh đang vướng vào vòng xoáy tranh cãi – đã được tìm thấy đã qua đời. Từng nổi danh là vị giáo sư da đen trẻ tuổi nhất trong lịch sử hơn 800 năm của Đại học Cambridge, Arday đã phải chịu đựng nhiều tuần bị săm soi gay gắt giữa hàng loạt cáo buộc về đạo văn, ngụy tạo bằng cấp và thêu dệt một câu chuyện đời tư với những chi tiết khó tin.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông từng tuyên bố mình bị câm cho đến năm 11 tuổi và mù chữ cho đến năm 18 tuổi – những nghịch cảnh không ngăn được ông lấy bằng tiến sĩ khi mới 30 tuổi. Ông cũng khẳng định bản thân đã phải chịu đựng nhiều bệnh lý khác nhau trong suốt cuộc đời, bao gồm tự kỷ, động kinh, hội chứng khóa trong (locked-in syndrome), ung thư tinh hoàn và một khối u não. Theo lời kể của chính mình, ông còn là một vận động viên sức bền đẳng cấp thế giới, người đã đạt được nhiều kỳ tích ấn tượng, bao gồm việc chạy 600 dặm (gần 965 km) trong sáu ngày. Rồi đến những thành tựu học thuật: Arday được ca tụng là một tài năng thế hệ hiếm gặp, người có những nghiên cứu trong lĩnh vực của mình – xã hội học giáo dục – được Hilary Cremin, trưởng khoa giáo dục của Cambridge, đánh giá là &#8220;xuất sắc nhất thế giới&#8221;. Ông cũng tuyên bố đã nhận được khoản tiền tạm ứng 1,4 triệu (bằng một đơn vị tiền tệ không xác định) cho cuốn hồi ký vừa được nhà xuất bản Simon &amp; Schuster phát hành trong tuần này. Đó từng là một bước thăng tiến như vũ bão, cho đến khi mọi thứ sụp đổ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tháng trước, Nathan Cofnas — một cựu nhà nghiên cứu tại Cambridge, người có thể được mô tả một cách lịch sự là một triết gia đặc biệt quan tâm đến chủng tộc và chỉ số IQ, hoặc có thể được gọi thẳng thừng là một kẻ phân biệt chủng tộc chuyên nghiệp — đã công bố trên bản tin cá nhân những bằng chứng có vẻ rất thuyết phục về hành vi đạo văn của Arday. Sang tháng này, khi ngày càng rõ ràng rằng phần lớn giai thoại về Arday nhiều khả năng chỉ là sản phẩm thêu dệt, vị học giả này đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế, đặc biệt là trên truyền thông Anh và mạng xã hội X. Ông đã từ chức khỏi Cambridge vào tuần trước, nhưng điều đó vẫn không thể ngăn được làn sóng săm soi ào ạt đổ về.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đặc biệt, tâm lý đám đông trên mạng đã vô cùng tàn nhẫn cho đến tận thời điểm Arday qua đời — lúc mà cả đàn ong dư luận bỗng quay ngoắt 180 độ. Chính nền tảng vừa giải phóng cả một cơn thác lũ lăng mạ được thuật toán tiếp tay giờ đây lại ngập tràn những lời tưởng niệm ân cần và ủy mị. Tôi thấy toàn bộ màn kịch này thật kệch cỡm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều tôi đề xuất là công chúng hãy dành cho Arday sau khi chết một sự tôn trọng mà ông thường bị tước đoạt khi còn sống: Hãy đối xử với ông như một con người. Không phải như một &#8220;người da đen màu nhiệm&#8221; (magical negro) của Cambridge, không phải như một &#8220;con ngỗng đẻ trứng vàng&#8221; của Simon &amp; Schuster, cũng không phải như một đối tượng để những kẻ phân biệt chủng tộc trên mạng tôn sùng hay trút giận, mà là một con người không hoàn hảo — người lẽ ra vẫn còn sống, nhưng nay đã không còn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải trung thực về con người thật của Arday, không phải bất chấp cái chết bi kịch của ông, mà chính là <em>vì</em> cái chết ấy. Rốt cuộc, chính sự giả dối mang tính hệ thống và nghi thức hóa — của chính ông và của những người khác — đã hủy hoại ông.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là sự thật về Jason Arday: Phần lớn bằng chứng cho thấy ông là một kẻ thêu dệt chuyện hàng loạt và một kẻ đạo văn không biết ăn năn, người đã lừa gạt thành công giới quý tộc học thuật Anh quốc — những người bị chứng ám ảnh chủng tộc làm việc thiện che mắt đến mức không thể nhận ra những lời nói dối mà bất kỳ một người bình thường nào cũng thấy rõ. (Arday phủ nhận hành vi sai trái có chủ ý và cho rằng việc dường như đạo văn là kết quả của chứng tự kỷ, thứ mà ông nói khiến ông có xu hướng học hỏi thông qua bắt chước.) Khi bằng chứng về những lời dối trá ấy ngày càng chồng chất, các tổ chức quyền lực từng nâng đỡ ông vẫn tiếp tục đứng sau ủng hộ, ngoan cố bảo vệ và nâng cao tiền cược. Simon &amp; Schuster kiên quyết sát cánh bên tác giả của mình — hay nói đúng hơn, sát cánh bên món hàng của họ. Ngay cả khi bằng chứng gian lận gần như không thể chối cãi, nhà xuất bản này không chỉ tuyên bố sẽ tiếp tục phát hành cuốn sách của Arday, mà còn trơ trẽn ca ngợi &#8220;sự chuyên nghiệp và chính trực mà ông đã mang lại trong từng giai đoạn xuất bản&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau đó, phe cánh hữu mang tư tưởng phân biệt chủng tộc — hả hê sung sướng đến mức chẳng thèm che giấu — đã chớp lấy thời cơ để dồn ép, say sưa trong cơn phấn khích kép: sự đạo đức giả lộ liễu của phe cấp tiến và sự thất bại của một người đàn ông da đen. Đám đông phình to, trên mạng lẫn trên báo chí. Một số người tham gia vì sự phẫn nộ hoàn toàn chính đáng trước việc các tiêu chuẩn học thuật dường như bị xóa bỏ qua vụ việc này. Một số khác tham gia vì niềm khoái lạc rùng rợn khi thấy một người thụ hưởng từ các chính sách DEI (Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập), theo cách họ quy chụp, bị hạ bệ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bất cứ ai theo dõi câu chuyện này cũng nên nhìn nhận lại. Tôi phải thú nhận rằng, cho đến tận ngày hôm qua, tôi đã theo dõi tấn bi hài kịch Arday với tâm trạng đan xen giữa buồn cười và đau lòng. Buồn cười là vì tính chất phi lý đến nực cười không thể phủ nhận khi những bộ óc ưu tú và sáng giá nhất tại Cambridge lại bị lừa phỉnh một cách dễ dàng bởi một người tự nhận đã chạy chín cuộc thi marathon trong chừng ấy ngày với một chiếc xương mác bị gãy, và khẳng định rằng tương lai của mình đã được một pháp sư người Brazil tiên tri. Đau lòng là vì tôi có thể đồng cảm với một số điều mà Arday có thể đã trải qua.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi đã từng viết, trên tạp chí này và ở những nơi khác, về cảm giác của một người thụ hưởng chính sách hành động khẳng định (affirmative action) trong những không gian tinh hoa. Tôi đã tận mắt chứng kiến cách một bộ phận người da trắng cấp tiến đối xử với những người đàn ông da đen vượt khó. Họ không thể giấu nổi sự kết hợp giữa lòng thương hại và vẻ đắc thắng khi biết được, chẳng hạn, người cha ruột đã bỏ rơi tôi từ trước khi tôi biết đi, hay tôi từng có thời gian được một người mẹ đơn thân nuôi dưỡng. Đó là ánh nhìn như muốn nói: <em>Anh đã tiến xa đến nhường nào, và tôi thật tử tế làm sao khi giúp anh tiến xa hơn nữa.</em> Tôi luôn cảm thấy buồn nôn trước những lần tiếp xúc như vậy. Nhưng tôi cũng có thể hình dung — nếu bạn lớn lên trong gian khó và chưa từng quen với lòng tốt — thì cảm giác được đón nhận ánh nhìn đó có thể dễ chịu đến mức nào, và việc nói hay làm những điều khiến người ta tiếp tục nhìn bạn bằng ánh mắt ấy sẽ cám dỗ ra sao, bất kể những điều bạn nói có hoàn toàn đúng sự thật hay không.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hai hình ảnh cứ luẩn quẩn trong đầu tôi kể từ khi biết tin Arday qua đời. Hình ảnh đầu tiên là từ một đoạn clip của đài BBC năm 2023 chúc mừng ông được bổ nhiệm tại Cambridge. Cremin, đồng nghiệp của Arday tại Cambridge, nắm chặt cả hai tay ông như nắm tay một người thân yêu quý giá khi họ nhìn thẳng vào mắt nhau. Máy quay zoom cận cảnh vào đôi bàn tay một trắng một đen đan chặt vào nhau và dừng lại ở đó rất lâu. Hình ảnh thứ hai được đăng trên X tối qua: ảnh chụp màn hình danh sách các tiêu đề bài báo về vụ bê bối của Arday, kéo dài tới vài trang, do chỉ một cơ quan truyền thông Anh duy nhất xuất bản. Nó chỉ đại diện cho một vài tia sáng trong luồng ánh đèn sân khấu quốc tế đang chĩa thẳng vào vị học giả này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cứ suy ngẫm mãi về hai hình ảnh này — cái nắm tay liên chủng tộc đầy tính kịch nghệ; và hàng trang dài đưa tin đầy tính cuồng loạn của truyền thông về một vụ bê bối vốn chỉ mang tính học thuật nội bộ — bởi vì kết hợp lại, chúng nói lên một thực tế nghiệt ngã. Arday bị sùng bái thái quá khi đang ở đỉnh cao bởi những người da trắng cấp tiến, những người xem ông như một tấm gương để họ tự soi thấy lòng tốt của chính mình. Và ông lại bị biến thành công cụ thỏa mãn khi ngã ngựa bởi những người da trắng bảo thủ, những người xem ông như một trường hợp thử nghiệm cho nỗi ám ảnh của chính họ về một bộ máy học thuật mà họ tin là thiếu tính trọng dụng nhân tài — hay nói cách khác, chưa đủ độ &#8220;da trắng&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phe cánh hữu muốn chúng ta tin rằng vụ bê bối Arday là câu chuyện về chính sách hành động khẳng định bị đẩy đến mức kệch cỡm nhất. Nhiều người cấp tiến lại nhìn nhận nó theo cách khác: một cuộc săn phù thủy phân biệt chủng tộc, trong đó những kẻ cuồng tín tự cho mình là đúng với động cơ mờ ám đã dồn ép một con người đến chỗ chết. Vấn đề với những câu chuyện này — một vấn đề hết sức nan giải — là cả hai bên đều đúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Là một người da đen trong các thiết chế tinh hoa, đặc biệt là trong giới học thuật tinh hoa, đồng nghĩa với việc các tiêu chuẩn vừa bị đặt quá thấp lại vừa bị nâng quá cao: quá thấp bởi vì chỉ có một người da đen với bằng cấp đáng ngờ và một tiểu sử dường như được thêu dệt như Arday mới có thể được đưa lên đỉnh cao của giới học thuật và xuất bản; và quá cao bởi vì chỉ có một người da đen mới bị đẩy ngã khỏi ngọn núi đó với sự hăng hái mang tính phân biệt chủng tộc trần trụi đến vậy, cú ngã lăn lộn của ông bị ghi lại, mổ xẻ và reo hò một cách tàn nhẫn đến thế. Khi một người đàn ông da trắng nổi tiếng phạm sai lầm, người ta thường — một cách đúng đắn — hiểu những lỗi lầm hay vi phạm đó là bước sẩy chân của một cá nhân. Nhưng khi một người đàn ông da đen nổi tiếng phạm lỗi, những sai sót đó thường bị biến thành một màn trình diễn, bị coi là bằng chứng cho sự kém cỏi vốn đã bị nghi ngờ từ lâu của toàn bộ chủng tộc của anh ta.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vào khoảng thời gian chiều hôm qua khi tôi biết được số phận của Arday, tôi tình cờ đọc được một mẩu tin khác: thông báo rằng Ross Barkan, một tiểu thuyết gia kiêm nhà báo da trắng, vừa bị tạp chí <em>New York</em> chấm dứt hợp tác sau khi tờ báo này — qua điều tra các cáo buộc liên quan đến hàng chục trường hợp đạo văn trong các bài viết của Barkan — đi đến kết luận rằng tác phẩm của ông &#8220;không đáp ứng các tiêu chuẩn biên tập của chúng tôi&#8221;. Ngay sau đó, Barkan thông báo rằng từ nay ông sẽ tập trung viết một chuyên mục mới tại <em>The Nation</em>, một tờ báo uy tín khác, nơi ông sẽ có một cơ hội thứ hai rất đàng hoàng trước công chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không ai có thể biết được điều gì đã diễn ra trong tâm trí hay trái tim của một người vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời họ. Tuy nhiên, tôi phải hình dung rằng, Arday đã hiểu đủ rõ cái thế giới mà ông bước chân vào và cách mà các quy tắc của nó vận hành: Khi bạn là người da đen, một số người sẽ mở toang cánh cửa cho bạn rộng hơn mức họ nên làm. Và khi cánh cửa đó đột ngột đóng sầm lại, bạn sẽ chẳng bao giờ được trao cho một cơ hội thứ hai.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.theatlantic.com/culture/2026/08/jason-arday-cambridge-professor-death/688304/">The Atlantic</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="chuyen-nghe,the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1787578861"
	            data-title="Những sự thật đã khiến Jason Arday gục ngã" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhung-su-that-da-khien-jason-arday-guc-nga/">Những sự thật đã khiến Jason Arday gục ngã</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nhung-su-that-da-khien-jason-arday-guc-nga/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỳ thi chuẩn hóa trong tuyển sinh đại học</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/ky-thi-chuan-hoa-trong-tuyen-sinh-dai-hoc/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/ky-thi-chuan-hoa-trong-tuyen-sinh-dai-hoc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Jun 2026 01:22:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đo lường - Đánh giá]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3127</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài viết này được tổng hợp bởi Gemini, đã qua khâu hiệu đính Trong nhiều thập kỷ qua, các bài kiểm tra chuẩn hóa luôn được xem là &#8220;bộ lọc&#8221; không thể thiếu trong tuyển sinh đại học. Từ kỳ thi SAT, ACT tại Mỹ cho đến các kỳ thi quốc gia khốc [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ky-thi-chuan-hoa-trong-tuyen-sinh-dai-hoc/">Kỳ thi chuẩn hóa trong tuyển sinh đại học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết này được tổng hợp bởi Gemini, đã qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="768" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o-1024x768.jpg" alt="" class="wp-image-3128" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o-1024x768.jpg 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o-300x225.jpg 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o-768x576.jpg 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o-1536x1152.jpg 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2026/06/4728093020_4e7f3d263f_o.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://flic.kr/p/8cNHkb">Standardized Test</a> via Flickr | CC BY-NC 2.0</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Trong nhiều thập kỷ qua, các bài kiểm tra chuẩn hóa luôn được xem là &#8220;bộ lọc&#8221; không thể thiếu trong tuyển sinh đại học. Từ kỳ thi SAT, ACT tại Mỹ cho đến các kỳ thi quốc gia khốc liệt ở châu Á, điểm số được kỳ vọng là một thước đo khách quan giúp cân đong đo đếm năng lực của học sinh đến từ những ngôi trường và hoàn cảnh khác nhau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, những biến động sau đại dịch COVID-19 đã khơi lên một cuộc tranh luận ngày càng gay gắt: Phải chăng chúng ta đang trao quá nhiều quyền lực cho các bài thi chuẩn hóa để quyết định tương lai của một người trẻ? Việc hàng trăm trường đại học tại Mỹ – trong đó có không ít cái tên đình đám – tiếp tục duy trì chính sách “test-optional” (không bắt buộc nộp điểm thi) là minh chứng rõ nhất cho thấy niềm tin tuyệt đối vào điểm số đang lung lay. Đáng chú ý, tâm điểm của cuộc tranh luận hiện nay không còn là việc các bài thi này có giá trị hay không, mà là liệu giá trị đó có đủ lớn để nghiễm nhiên chiếm giữ vị trí độc tôn trong phòng tuyển sinh hay không.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>&#8220;Sức nặng&#8221; của những con số</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Những người ủng hộ việc duy trì các kỳ thi chuẩn hóa không phải không có lý. Các nghiên cứu về đo lường giáo dục (psychometrics) suốt nhiều thập kỷ qua đã chứng minh điểm số có khả năng &#8220;tiên tri&#8221; khá chính xác kết quả học tập ở bậc đại học. Chẳng hạn, nghiên cứu của Waters và cộng sự (2009) chỉ ra rằng điểm SAT có mối liên hệ mật thiết với kết quả học năm nhất, ngay cả khi đã loại trừ tầm ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế &#8211; xã hội của gia đình thí sinh. Gần đây nhất, một khảo sát quy mô lớn tại nhóm trường Ivy Plus (Friedman và cộng sự, 2025) cũng tái khẳng định điểm SAT và ACT vẫn là những chỉ báo đáng tin cậy cho thành tích học tập dài hạn của sinh viên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dưới góc độ kỹ thuật, điều này hoàn toàn dễ hiểu. Các bài thi chuẩn hóa được thiết kế qua những quy trình cực kỳ nghiêm ngặt để đảm bảo độ tin cậy và khả năng phân loại thí sinh. Trong bối cảnh điểm trung bình phổ thông (GPA) dễ bị &#8220;lạm phát&#8221; hoặc chênh lệch do tiêu chí chấm điểm khác nhau giữa các trường, thì một đề thi chuẩn hóa chung chính là cái thước thẳng duy nhất để so sánh mọi thí sinh trên cùng một mặt bằng. Vì vậy, nhiều nhà quản lý giáo dục lo ngại rằng nếu khai tử các bài thi này, quy trình tuyển sinh sẽ rơi vào cảnh mơ hồ và mất đi tính nhất quán.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Điểm số cao có đồng nghĩa với năng lực toàn diện?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, công nhận giá trị dự báo của điểm thi không đồng nghĩa với việc chấp nhận biến nó thành yếu tố quyết định tất thảy. Bước chuyển tư duy quan trọng nhất trong các nghiên cứu gần đây là việc chuyển từ câu hỏi <em>&#8220;Điểm thi có dự báo được thành công hay không?&#8221;</em> sang câu hỏi <em>&#8220;Điểm thi dự báo được bao nhiêu phần trăm thành công đó?&#8221;</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thực tế, ngay cả những nghiên cứu bênh vực SAT cũng phải thừa nhận rằng, giảng đường đại học là nơi đòi hỏi nhiều thứ hơn là năng lực học thuật đơn thuần trên giấy tờ. Sự bền bỉ, khả năng tự học, kỹ năng quản lý thời gian, động lực tự thân hay sự nâng đỡ từ gia đình mới là những bệ phóng quyết định một sinh viên có đi được đường dài hay không (Geiser &amp; Santelices, 2007). Những phẩm chất này tiếc thay lại không thể gói gọn trong một bài thi kéo dài vài tiếng đồng hồ. Khi quá lạm dụng một chỉ số duy nhất, các trường đại học dễ rơi vào cái bẫy &#8220;đánh giá phiến diện&#8221; (construct underrepresentation) – tức là mới chỉ chạm vào một góc rất nhỏ trong bức tranh năng lực toàn diện của một con người (Eignor, 2013).</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Bài toán công bằng xã hội</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một góc khuất khác khiến các kỳ thi chuẩn hóa mất điểm trong mắt công chúng chính là vấn đề bình đẳng cơ hội. Giới học thuật thường bào chữa rằng SAT không sinh ra bất bình đẳng, nó chỉ vô tình phản ánh thực trạng phân hóa giàu nghèo của nền giáo dục. Lập luận này đúng, nhưng chưa đủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã bóc trần sự thật rằng: Điểm số tỉ lệ thuận với điều kiện kinh tế (Buchmann và cộng sự, 2010). Con em các gia đình khá giả rõ ràng có lợi thế vượt trội khi được đầu tư vào các lò luyện thi đắt đỏ, gia sư riêng, và tiếp cận tài liệu xịn từ sớm. Dù các chuyên gia đo lường có nỗ lực áp dụng các bộ lọc kỹ thuật hiện đại như DIF (Differential Item Functioning) hay kiểm định tính bất biến đo lường (Measurement Invariance) để xóa bỏ định kiến trong đề thi, thì khoảng cách xuất phát điểm giữa các tầng lớp xã hội vẫn là một hố sâu ngăn cách. Việc thần thánh hóa điểm thi vô hình trung lại tiếp tay cho việc hợp thức hóa các đặc quyền sẵn có của nhóm học sinh con nhà giàu.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Trả các bài thi về đúng vị trí của chúng</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nhìn rộng ra, làn sóng &#8220;test-optional&#8221; không phải là một cuộc &#8220;bài trừ&#8221; cực đoan các bài thi chuẩn hóa. Phần lớn các đại học chọn lối đi này không vứt bỏ điểm SAT/ACT, họ chỉ hạ bệ vị trí thống trị của chúng. Điểm số lúc này chỉ còn là một mảnh ghép tham khảo trong một bức tranh tổng thể lớn hơn. Tư duy này đại diện cho một triết lý giáo dục tiến bộ: Năng lực của con người là đa chiều, nên thước đo năng lực cũng phải đa dạng. Thay vì sa đà vào cuộc chiến nhị nguyên &#8220;giữ&#8221; hay &#8220;bỏ&#8221;, câu hỏi đúng đắn mà các nhà làm giáo dục cần trả lời là: Phối hợp điểm thi chuẩn hóa thế nào vào một quy trình đánh giá toàn diện?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Câu chuyện quốc tế này mang lại những gợi ý rất đáng suy ngẫm cho Việt Nam. Giữa bối cảnh các trường đại học trong nước đang trăm hoa đua nở với đủ phương thức xét tuyển: Từ xét học bạ, chứng chỉ quốc tế (IELTS/SAT) cho đến các kỳ thi Đánh giá năng lực, Đánh giá tư duy biệt lập, bài học rút ra không phải là xóa sổ kỳ thi tốt nghiệp hay phủ nhận các kỳ thi riêng. Điều tối kỵ là chúng ta lại dồn tất cả trứng vào một giỏ – tức là đặt cược tương lai của học sinh vào một kỳ thi duy nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu mục tiêu của đại học là tìm kiếm những nhân tài có sức bật và tiềm năng phát triển lâu dài, thì một hệ thống tuyển sinh đa mục tiêu, kết hợp nhiều nguồn minh chứng sẽ là lựa chọn nhân văn và thực chất hơn. Tương lai của tuyển sinh đại học suy cho cùng không nằm ở việc quay lưng với các bài thi chuẩn hóa, mà là trả chúng về đúng định vị của mình: Một công cụ hỗ trợ hữu ích, tuyệt đối không phải là chiếc gậy quyền năng duy nhất.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Buchmann, C., Condron, D. J., &amp; Roscigno, V. J. (2010). Shadow education, American style: test preparation, the SAT and college enrollment. <em>Social Forces</em>, <em>89</em>(2), 435–461. https://doi.org/10.1353/sof.2010.0105</p>



<p class="wp-block-paragraph">Eignor, D. R. (2013). The standards for educational and psychological testing. In <em>American Psychological Association eBooks</em> (pp. 245–250). https://doi.org/10.1037/14047-013</p>



<p class="wp-block-paragraph">Friedman, J., Sacerdote, B., Staiger, D., &amp; Tine, M. (2025). Standardized test scores and academic performance at Ivy-Plus colleges. In <em>National Bureau of Economic Research</em>. https://doi.org/10.3386/w33570</p>



<p class="wp-block-paragraph">Geiser, S., &amp; Santelices, M. V. (2007). Validity Of High-School Grades In Predicting Student Success Beyond The Freshman Year: High-School Record vs. Standardized Tests as Indicators of Four-Year College Outcomes. <em>eScholarship (California Digital Library)</em>. https://escholarship.org/uc/item/7306z0zf</p>



<p class="wp-block-paragraph">Waters, S. D., Cooper, S. R., Kuncel, N. R., Sackett, P. R., &amp; Arneson, J. (2009). <em>Socioeconomic status and the relationship between the SAT and freshman GPA: An analysis of data from 41 colleges and universities</em>. http://research.collegeboard.org/sites/default/files/publications/2012/9/researchreport-2009-1-socioeconomic-status-sat-freshman-gpa-analysis-data.pdf</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="do-luong-danh-gia" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1780388526"
	            data-title="Kỳ thi chuẩn hóa trong tuyển sinh đại học" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/ky-thi-chuan-hoa-trong-tuyen-sinh-dai-hoc/">Kỳ thi chuẩn hóa trong tuyển sinh đại học</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/ky-thi-chuan-hoa-trong-tuyen-sinh-dai-hoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 27 Mar 2026 07:19:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=3027</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài viết này được dịch hoàn toàn bởi AI và chưa thông qua khâu hiệu đính Tự do học thuật không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng. Nó là nền tảng của sự đổi mới và trao đổi học thuật, và do đó là điều kiện tiên quyết để tuân thủ việc [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/">Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết này được dịch hoàn toàn bởi AI và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tự do học thuật không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng. Nó là nền tảng của sự đổi mới và trao đổi học thuật, và do đó là điều kiện tiên quyết để tuân thủ việc xuất bản học thuật và bình duyệt học thuật. Nếu thiếu tự do học thuật, các học giả sẽ tự kiểm duyệt, sự đổi mới sẽ bị đình trệ, và các trường đại học sẽ không còn là không gian của sự nghiên cứu phê phán và sản xuất tri thức. Khi các học giả không thể tự do theo đuổi những vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, việc sản xuất tri thức sẽ bị hạn chế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các xu hướng toàn cầu gần đây rất đáng báo động.&nbsp;<a href="https://www.v-dem.net/our-work/research-programs/academic-freedom/">Chỉ số Tự do Học thuật</a>&nbsp;(AFI) cho thấy mức trung bình toàn cầu đang giảm dần trong thập kỷ qua. Trên thực tế, vào năm 2023, tỷ lệ dân số thế giới sống trong điều kiện không gian học thuật bị hạn chế nghiêm trọng hoặc bị hạn chế cao hơn mức được ghi nhận vào năm 1973 (xem hình bên dưới).</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter" id="attachment_61713"><img decoding="async" src="https://scholarlykitchen.sspnet.org/wp-content/uploads/2026/03/figure-1-1024x419.jpg" alt="charts showing an increase over time in groups that are restricted" class="wp-image-61713"/><figcaption class="wp-element-caption"><em>Hình 1: Dân số toàn cầu theo nhóm tình trạng AFi năm 1973, 2006 và 2023</em></figcaption></figure>



<h2 class="wp-block-heading">Tự do học thuật là trụ cột trung tâm cho sự đổi mới và trao đổi học thuật.</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Theo báo cáo thường niên&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/">&#8220;Học giả gặp nguy hiểm</a>&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/free-to-think-reports/">&#8211; Tự do tư duy&#8221;</a>&nbsp;năm 2024, đã có 395 vụ tấn công được báo cáo nhằm vào cộng đồng giáo dục đại học trên 49 quốc gia. Các vụ tấn công này bao gồm từ sự can thiệp chính trị vào chương trình giảng dạy đến việc quấy rối các học giả và thậm chí là đóng cửa toàn bộ các cơ sở giáo dục. Trên thực tế, tự do học thuật thường là một trong những nạn nhân đầu tiên khi các chuẩn mực dân chủ bị xói mòn. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề chỉ giới hạn ở các chế độ độc tài hay các quốc gia đang trải qua sự suy thoái dân chủ nghiêm trọng. Nó cũng đang xảy ra ở những nền dân chủ tưởng chừng như đã được củng cố vững chắc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Liên minh các nhà khoa học quan tâm và các học giả gặp rủi ro, sự can thiệp chính trị vào quản trị và giảng dạy đại học đã&nbsp;<a href="https://www.ucs.org/resources/science-and-democracy-under-siege">gia tăng đến mức chưa từng thấy</a>&nbsp;ở Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai. Những nỗ lực ở cấp tiểu bang nhằm hạn chế nội dung giảng dạy — đặc biệt là trong các lĩnh vực như chủng tộc, giới tính, lịch sử và khí hậu — báo hiệu một xu hướng đáng lo ngại. Khi các trường đại học trở thành chiến trường kiểm soát tư tưởng, quyền tự chủ vốn là nền tảng của tính liêm chính và đổi mới trong học thuật sẽ bị đe dọa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các cuộc thanh trừng quy mô lớn đối với giới học thuật sau cuộc đảo chính năm 2016 đã tàn phá quyền tự chủ của các trường đại học. Đáp lại một bức thư công khai, hàng nghìn học giả Thổ Nhĩ Kỳ đã bị sa thải. Tại Hungary, việc chính phủ kiểm soát nguồn tài trợ nghiên cứu và việc cưỡng bức di dời Đại học Trung Âu cho thấy quyền lực chính trị có thể định hình lại bối cảnh học thuật bằng cách làm mất uy tín toàn bộ các ngành học và thể chế. Những ví dụ này nhấn mạnh rằng tự do học thuật rất mong manh và sự xói mòn của nó đang tăng tốc — điều này, giống như ở Mỹ, đã xảy ra trong các bối cảnh tự do, ổn định trước đây mà không thường xuyên có xung đột hoặc khủng hoảng.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Tại sao tự do học thuật lại quan trọng đối với ngành xuất bản</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Tại sao các nhà xuất bản nên quan tâm? Bởi vì xuất bản là huyết mạch của sự trao đổi và tranh luận học thuật. Nếu tự do học thuật sụp đổ, thì tính toàn vẹn của nghiên cứu cũng sẽ sụp đổ. Các tác giả và người đánh giá lo sợ bị trả đũa có thể tự kiểm duyệt. Các biên tập viên dưới áp lực chính trị có thể né tránh các chủ đề gây tranh cãi. Kết quả là gì? Sự thu hẹp quan điểm và sự bóp méo quá trình sản xuất tri thức sẽ cản trở sự đổi mới và sáng tạo trong các sản phẩm học thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Do đó, các nhà xuất bản không thể giữ thái độ trung lập. Họ đã thiết lập các chuẩn mực, cung cấp quyền truy cập mở và thiết lập các quy trình bảo vệ tự do học thuật và tính toàn vẹn của nghiên cứu. Trong thời đại mà các cuộc tấn công nhằm vào học giả và sinh viên, các tổ chức học thuật và quá trình sản xuất tri thức ngày càng gia tăng, các nhà xuất bản không phải là những người ngoài cuộc — họ là những bên liên quan. Chính sách và thực tiễn của họ có thể làm tăng thêm tính dễ bị tổn thương hoặc thúc đẩy khả năng phục hồi. Đây là một trách nhiệm vô cùng to lớn.</p>



<h3 class="wp-block-heading">NHỮNG THÁCH THỨC MÀ NHÀ XUẤT BẢN PHẢI ĐỐI MẶT</h3>



<p class="wp-block-paragraph">Ngành xuất bản học thuật hoạt động trong một môi trường phức tạp, nơi áp lực thương mại giao thoa với thực tế chính trị. Ba thách thức nổi bật là:</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Những rào cản đối với việc tiếp cận và xuất bản</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Lệ phí xử lý bài báo (APC) cao khiến các học giả ở các quốc gia thu nhập thấp và vùng xung đột không thể đóng góp vào việc sản xuất tri thức toàn cầu. Sự bất bình đẳng này làm suy yếu tính đa dạng và duy trì sự mất cân bằng về cấu trúc. Các chiến lược truy cập mở và miễn phí lệ phí cho các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là những chính sách mà hầu hết các nhà xuất bản học thuật đang tích cực theo đuổi. Con đường này cần được bổ sung bằng việc tăng cường sự hiện diện của các học giả từ các nước đang phát triển trong ban biên tập, với tư cách là tác giả và người đánh giá.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Rủi ro về an toàn đối với tác giả</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong các chế độ chính trị đàn áp hoặc bối cảnh xung đột, việc công bố một số nghiên cứu nhất định có thể gây nguy hiểm cho các học giả. Nếu không có quy trình nộp bài an toàn và tùy chọn ẩn danh tác giả, các học giả, người đánh giá và biên tập viên có thể phải đối mặt với sự quấy rối hoặc bức hại. Các nhà xuất bản học thuật nên đầu tư vào sự an toàn của cơ sở hạ tầng nộp và đánh giá kỹ thuật số của họ và phát triển các tiêu chuẩn minh bạch trên toàn ngành về việc ẩn danh tác giả cho các học giả có nguy cơ.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Tự kiểm duyệt và áp lực biên tập</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự can thiệp chính trị và việc cắt giảm ngân sách có thể dẫn đến kiểm duyệt trong giới học giả, cả công khai và ngầm. Các biên tập viên có thể tránh các chủ đề gây tranh cãi để bảo vệ tạp chí hoặc tổ chức của họ. Các tác giả có thể làm giảm nhẹ kết quả nghiên cứu hoặc lựa chọn từ ngữ cẩn trọng để giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc công bố nghiên cứu của mình. Những động thái này đe dọa tính toàn vẹn của giới học thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong bối cảnh đó, các nhà xuất bản phải hành động để thiết lập các cơ quan bảo vệ tự do học thuật, chống lại các nỗ lực kiểm duyệt của chính phủ và cung cấp đào tạo cho các nhóm biên tập và người đánh giá để chống lại việc tự kiểm duyệt.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Bảy hành động mà các nhà xuất bản học thuật có thể thực hiện</h2>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1. Xây dựng các hướng dẫn rõ ràng và người hòa giải.</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Các nhà xuất bản cần những tiêu chuẩn minh bạch, áp dụng rộng rãi trong toàn ngành để bảo vệ tính độc lập biên tập và tự do học thuật. Những hướng dẫn này cần nêu rõ cách ứng phó với sự can thiệp chính trị, các nỗ lực kiểm duyệt hoặc áp lực từ các tác nhân bên ngoài. Việc bổ nhiệm người hòa giải trong các tổ chức xuất bản có thể cung cấp cho các học giả và biên tập viên một kênh đáng tin cậy để nêu lên những mối quan ngại. Điều này không chỉ đơn thuần là tuân thủ quy định mà còn thể hiện cam kết về tính liêm chính.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2. Hỗ trợ học sinh có nguy cơ bỏ học</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tự do học thuật đang bị đe dọa ở nhiều nơi trên thế giới. Các nhà xuất bản có thể đóng vai trò quan trọng bằng cách hỗ trợ các học giả gặp rủi ro. Điều này bao gồm việc cung cấp quyền truy cập miễn phí hoặc được trợ cấp vào các tạp chí và cơ sở dữ liệu, cũng như các cơ hội xuất bản chuyên biệt cho các học giả bị mất việc, và hợp tác với các sáng kiến ​​như&nbsp;<a href="https://www.scholarsatrisk.org/">Scholars At Risk</a>&nbsp;. Những biện pháp như vậy giúp đảm bảo rằng những tiếng nói dễ bị tổn thương và bị đàn áp không bị dập tắt.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>3. Đảm bảo quy trình nộp hồ sơ an toàn</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Đối với các học giả nghiên cứu những chủ đề gây tranh cãi — như nghiên cứu giới, chính trị Trung Đông hoặc nghiên cứu khí hậu — việc giữ bí mật danh tính có thể là vấn đề an toàn. Các nhà xuất bản nên phát triển các kênh nộp bài an toàn và các tùy chọn ẩn danh để bảo vệ danh tính mà không làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn khoa học. Cân bằng giữa tính minh bạch và an ninh là một thách thức, nhưng điều này rất cần thiết đối với các học giả sống và làm việc trong hoặc về các bối cảnh đàn áp.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>4. Phản đối việc chính trị hóa nghiên cứu</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi chính phủ cố gắng áp đặt chương trình nghiên cứu hoặc cắt giảm ngân sách cho toàn bộ các ngành học, các nhà xuất bản phải lên tiếng. Những tuyên bố công khai bảo vệ tự do học thuật và độc lập biên tập sẽ gửi đi một thông điệp mạnh mẽ. Các nhà xuất bản cũng nên chống lại áp lực loại trừ hoặc cắt giảm các lĩnh vực học thuật đang bị tấn công mạnh mẽ — chẳng hạn như nghiên cứu giới, nghiên cứu về người đồng tính, nghiên cứu hậu thuộc địa và nghiên cứu về người khuyết tật.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>5. Thúc đẩy sự công bằng thông qua quyền truy cập mở</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Truy cập mở không chỉ là một mô hình kinh doanh mà còn là một yêu cầu thiết yếu về bình đẳng. Các nhà xuất bản nên tìm hiểu các mô hình toàn diện nhằm giảm phí xuất bản (APC) hoặc miễn phí cho các học giả ở các khu vực thu nhập thấp hoặc bị ảnh hưởng bởi xung đột. Tri thức không nên là đặc quyền chỉ dành cho những người được tài trợ tốt. Bằng cách thúc đẩy truy cập bình đẳng, các nhà xuất bản giúp dân chủ hóa học thuật và củng cố tự do học thuật toàn cầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>6. Tạo không gian học tập và trao đổi</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tự do học thuật thường được thảo luận một cách trừu tượng. Các nhà xuất bản có thể biến nó thành hiện thực bằng cách tạo ra các không gian đối thoại — hội thảo trực tuyến, hội thảo chuyên đề và các cuộc thảo luận của ban biên tập tập trung vào tự do học thuật. Việc đào tạo các biên tập viên và người đánh giá nhận biết và chống lại áp lực kiểm duyệt là rất quan trọng. Nhận thức là bước đầu tiên hướng tới sự kiên cường.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>7. Sử dụng dữ liệu để định hướng chính sách</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Việc ra quyết định dựa trên dữ liệu là tiêu chuẩn trong ngành xuất bản — vậy tại sao không áp dụng nó cho tự do học thuật? Các công cụ như&nbsp;<a href="https://www.v-dem.net/our-work/research-programs/academic-freedom/">AFI</a>&nbsp;cung cấp những hiểu biết chi tiết về các hạn chế đối với tự do học thuật ở cấp quốc gia. Các nhà xuất bản có thể sử dụng dữ liệu này để định hướng chính sách biên tập, đánh giá rủi ro khi nộp bài và hướng dẫn các quyết định về miễn phí hoặc chiến lược truy cập mở.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Đã đến lúc hành động!</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Tự do học thuật cũng là động lực thúc đẩy sự đổi mới. Khi các học giả có thể theo đuổi sự tò mò của mình mà không sợ hãi, họ sẽ tạo ra những công trình đột phá. Hạn chế sự tự do đó sẽ kìm hãm sự sáng tạo. Đối với các nhà xuất bản cam kết thúc đẩy tri thức, bảo vệ tự do học thuật không phải là điều tùy chọn — mà là điều tối quan trọng. Đối với các nhà xuất bản, bảo vệ nguyên tắc này không chỉ là nghĩa vụ đạo đức; mà còn là một nhu cầu chiến lược. Nếu thiếu tự do học thuật, nghiên cứu sẽ mất đi tính toàn vẹn, sự đổi mới sẽ chững lại, và hệ sinh thái xuất bản cũng bị tổn hại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Câu hỏi không phải là liệu các nhà xuất bản có nên hành động hay không, mà là họ sẽ hành động nhanh chóng và quyết đoán như thế nào. Thiết lập các hướng dẫn. Hỗ trợ các học giả và sinh viên gặp rủi ro. Thúc đẩy sự công bằng trong xuất bản học thuật. Sử dụng dữ liệu để cung cấp quyền truy cập. Tạo không gian cho đối thoại và trao đổi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tự do học thuật đang chịu áp lực rất lớn. Tuy nhiên, cuộc tranh luận về việc các nhà xuất bản học thuật có thể phản ứng như thế nào trước những cuộc tấn công ngày càng gia tăng vào tự do học thuật mới chỉ bắt đầu. Các cuộc thảo luận tại Hội chợ sách Frankfurt 2025 và hội nghị của Hiệp hội Xuất bản Học thuật châu Âu tại Berlin vào tháng 1 năm 2026 là một khởi đầu tốt. Ngành xuất bản có một số công cụ để phản kháng. Thời điểm hành động của họ đã đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2026/03/17/guest-post-academic-freedom-under-pressure-what-academic-publishers-can-do/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1774621155"
	            data-title="Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/">Tự do học thuật đang bị đe dọa: Các nhà xuất bản học thuật có thể làm gì?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tu-do-hoc-thuat-dang-bi-de-doa-cac-nha-xuat-ban-hoc-thuat-co-the-lam-gi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tiếp cận hệ thống trong xuất bản học thuật: Từ phân mảnh đến gắn kết</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tiep-can-he-thong-trong-xuat-ban-hoc-thuat-tu-phan-manh-den-gan-ket/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tiep-can-he-thong-trong-xuat-ban-hoc-thuat-tu-phan-manh-den-gan-ket/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 17 Dec 2025 02:59:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2889</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài này được dịch bởi Gemini và chưa thông qua khâu hiệu đính Xuất bản học thuật đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Các nhà nghiên cứu đối mặt với áp lực ngày càng tăng buộc phải xuất bản thường xuyên và tạo được tiếng vang, trong khi các nhà xuất [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tiep-can-he-thong-trong-xuat-ban-hoc-thuat-tu-phan-manh-den-gan-ket/">Tiếp cận hệ thống trong xuất bản học thuật: Từ phân mảnh đến gắn kết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài này được dịch bởi Gemini và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="681" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-10-1024x681.png" alt="" class="wp-image-2891" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-10-1024x681.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-10-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-10-768x511.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-10.png 1472w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@tbyphoto?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Atsushi Tsubokura</a> on <a href="https://unsplash.com/photos/white-rope-tied-on-brown-wooden-pole-mSGpZkRBvTY?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a></em> | Unsplash License</figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Xuất bản học thuật đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Các nhà nghiên cứu đối mặt với áp lực ngày càng tăng buộc phải xuất bản thường xuyên và tạo được tiếng vang, trong khi các nhà xuất bản phải cân bằng giữa tăng trưởng và uy tín. Các tổ chức theo đuổi các bảng xếp hạng, và các nhà tài trợ tìm kiếm những tác động xã hội có thể đo lường được. Trong khi đó, nhu cầu của công chúng đối với khoa học dễ tiếp cận và đáng tin cậy chưa bao giờ lớn hơn thế, ngay cả khi niềm tin vào giới chuyên môn đang tiếp tục xói mòn. Chúng ta sản xuất ra nhiều nghiên cứu hơn bao giờ hết, nhưng niềm tin vào chất lượng của chúng lại đang suy giảm. Đây không phải là những vấn đề riêng lẻ &#8211; chúng là triệu chứng của một hệ thống bị lệch lạc về căn bản, một hệ thống mà các áp lực và cơ chế khuyến khích không được phối hợp chặt chẽ trong toàn bộ hệ sinh thái nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi chúng ta nói về một cách tiếp cận hệ thống đối với xuất bản nghiên cứu, chúng ta muốn nói đến việc nhìn nhận hệ sinh thái học thuật như một mạng lưới các thành phần liên kết với nhau: nhà nghiên cứu, tổ chức, nhà xuất bản, nhà tài trợ và công chúng, mà hành động của họ liên tục ảnh hưởng lẫn nhau thông qua các vòng lặp phản hồi. Trong một hệ thống như vậy, áp lực hoặc cơ chế khuyến khích được áp dụng ở một khu vực chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kết quả ở nơi khác. Tư duy hệ thống nhấn mạnh vào sự liên kết tổng thể hơn là những sửa chữa đơn lẻ; nó tìm cách hiểu các cấu trúc, chính sách và hành vi tương tác với nhau như thế nào để tạo ra các kết quả mà chúng ta quan sát được.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nền tảng phân mảnh: Cách các cấu trúc biệt lập và cơ chế khuyến khích lệch lạc phá hoại nghiên cứu</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Sự căng thẳng trong xuất bản học thuật tạo ra vô số vấn đề, thúc đẩy nhiều biện pháp can thiệp, bao gồm các công cụ, công nghệ mới và cải cách chính sách. Mặc dù những giải pháp này có thể giải quyết các triệu chứng cụ thể, nhưng chúng thường thất bại trong việc giải quyết kiến trúc nền tảng của cuộc khủng hoảng. Ví dụ, các vấn đề liên quan đến sự liêm chính trong nghiên cứu không phải là những sai lệch đơn lẻ; chúng phản ánh những sự lệch lạc về cấu trúc ảnh hưởng đến cách tri thức được tạo ra, xác nhận và phổ biến. Quan điểm hệ thống này rất quan trọng để hiểu tại sao hệ sinh thái tiếp tục gặp khó khăn bất chấp những nỗ lực cải cách lặp đi lặp lại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyên nhân gốc rễ của những thách thức này bao gồm hai mặt, hình thành nên một chu kỳ tự củng cố. Thứ nhất, các nhà nghiên cứu đối mặt với áp lực dữ dội phải xuất bản để đạt được sự công nhận và thăng tiến trong sự nghiệp. Sự thăng tiến nghề nghiệp, uy tín của tổ chức và cơ hội tài trợ đều phụ thuộc một cách không cân xứng vào khối lượng ấn phẩm và số lượng trích dẫn, tạo ra một văn hóa &#8220;xuất bản hay là chết&#8221; (publish-or-perish), trong đó mệnh lệnh phải sản xuất thường lấn át mệnh lệnh phải sản xuất tốt. Văn hóa này không khuyến khích các nghiên cứu lặp lại (replication studies), việc công bố các kết quả âm tính (null results), và các nỗ lực chuyển giao tri thức, vốn là những điều thiết yếu cho sự chặt chẽ của khoa học và lợi ích xã hội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ hai, các nhà xuất bản hoạt động dưới áp lực phải tăng trưởng và duy trì tính cạnh tranh trong một bối cảnh phát triển nhanh chóng. Hai áp lực kép này củng cố một nền kinh tế dựa trên khối lượng, ưu tiên số lượng hơn chất lượng, tốc độ hơn sự chặt chẽ, và tính mới lạ hơn khả năng tái lập. Hệ thống này khuếch đại sự kém hiệu quả và thường thất bại trong việc phục vụ các lợi ích rộng lớn hơn của khoa học hoặc xã hội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Làm trầm trọng thêm những áp lực này là sự phân mảnh về lợi ích của các bên liên quan. Các nhà nghiên cứu, tổ chức, nhà xuất bản và nhà tài trợ, mỗi bên đều theo đuổi các mục tiêu chính đáng trong bối cảnh riêng của họ, nhưng những nỗ lực song song này thường tạo ra xung đột khi nhìn trên toàn hệ sinh thái. Việc thiếu đi các cuộc đối thoại được phối hợp về các mục tiêu tập thể dẫn đến sự kém hiệu quả, khoảng trống về chất lượng và sự xói mòn niềm tin. Ví dụ, trong khi các nhà tài trợ ngày càng bắt buộc truy cập mở (open access) đối với nghiên cứu, các tổ chức vẫn có thể khen thưởng các bài báo đăng trên các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao (high-impact) nằm sau bức tường phí (paywalls), tạo ra các cơ chế khuyến khích mâu thuẫn cho cả nhà nghiên cứu và nhà xuất bản.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự phân mảnh này cũng thúc đẩy một vấn đề về nhận thức. Các nhà xuất bản thường bị xem là khai thác nhiều giá trị hơn những gì họ cung cấp, khiến các nhà nghiên cứu, tổ chức và nhà tài trợ đặt câu hỏi về đóng góp của họ bất chấp khối lượng công việc đáng kể được thực hiện ở hậu trường. Các mô hình thay thế, chẳng hạn như bản thảo trước khi xuất bản (preprints) và bình duyệt mở sau xuất bản (post-publication open peer review), đang nổi lên và thách thức mô hình xuất bản truyền thống. Sự khác biệt giữa nhận thức về giá trị của người trong cuộc và sự hoài nghi từ bên ngoài làm nổi bật nhu cầu các nhà xuất bản phải chứng minh và truyền đạt đóng góp của họ rõ ràng hơn, đảm bảo rằng mỗi bên liên quan đều thấy được lợi ích hữu hình từ hệ thống.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Tái định hướng hệ thống: Thách thức trọng tâm về cơ chế khuyến khích</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Mặc dù nhiều bên liên quan đồng ý về những gì cần thay đổi, việc đạt được cải cách có ý nghĩa rất khó khăn vì các cơ chế khuyến khích trong hệ sinh thái vẫn còn lệch lạc. Các nhà nghiên cứu có ít động lực để công bố các kết quả âm tính, lặp lại các nghiên cứu, hoặc tham gia vào việc chuyển giao tri thức nếu những nỗ lực này không giúp họ thăng tiến sự nghiệp. Các tổ chức tiếp tục dựa quá nhiều vào số lượng ấn phẩm và chỉ số h-index cho các quyết định tuyển dụng và thăng chức, trong khi các nhà xuất bản chật vật cân bằng giữa khả năng tiếp cận, khả năng mở rộng và sự bền vững trong kinh doanh. Cho đến khi các cơ chế khuyến khích được tái định hướng xoay quanh các kết quả chung, thì sự chặt chẽ, tính thích đáng và sự tiến bộ sẽ vẫn chỉ là những mảnh ghép rời rạc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sự tái cân bằng này đòi hỏi những thay đổi cấu trúc cụ thể. Các chỉ số mới phải tính đến khả năng tái lập, tính minh bạch và sự thích đáng đối với xã hội, thay vì chỉ tập trung vào số lượng trích dẫn. Cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng để hỗ trợ xuất bản có trách nhiệm, từ các công cụ bình duyệt được hỗ trợ bởi AI đến đào tạo truyền thông và các hệ thống vận hành cho phép phổ biến rộng rãi hơn. Các tiêu chuẩn cho thành công học thuật nên được đồng phát triển thông qua đối thoại thực sự giữa các nhà nghiên cứu, nhà xuất bản, tổ chức, nhà tài trợ và công chúng mà họ cùng phục vụ, đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều hướng tới các mục tiêu chung.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giải pháp không thể chỉ đến từ các nhà xuất bản hay bất kỳ bên liên quan đơn lẻ nào. Giới học thuật và các nhà xuất bản phải hành động chung. Các tổ chức nên suy nghĩ lại về sự thăng tiến nghề nghiệp và đánh giá nhà nghiên cứu, vượt ra ngoài việc coi số lượng ấn phẩm là thước đo chính, trong khi các nhà xuất bản chuyển trọng tâm từ việc tối đa hóa số lượng bài báo được xuất bản sang tối đa hóa giá trị cho độc giả và tác động xã hội. Thành công trong quá trình chuyển đổi này đòi hỏi sự hỗ trợ của tổ chức, vì việc chuyển từ nền kinh tế bài báo sang nền kinh tế độc giả phụ thuộc vào sự đồng thuận rộng rãi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tái cân bằng không phải là yêu cầu các bên liên quan làm nhiều hơn với khối lượng công việc vốn đã quá tải; đó là việc thay đổi những gì chúng ta coi trọng và khen thưởng. Các thước đo gửi đi những tín hiệu rõ ràng về các ưu tiên: nếu các nhà nghiên cứu chỉ được đo lường bằng số lượng ấn phẩm, chất lượng sẽ bị ảnh hưởng; nếu các tạp chí chỉ được đánh giá bằng hệ số ảnh hưởng (impact factor), tính thích đáng và khả năng tiếp cận sẽ bị bỏ qua; nếu nghiên cứu được tài trợ mà không có yêu cầu phổ biến rộng rãi hơn, sự hiểu biết của công chúng về khoa học sẽ không được cải thiện. Ngược lại, việc gắn kết các thước đo và phần thưởng với khả năng tái lập, sự cởi mở và tính thích đáng đối với xã hội có thể thúc đẩy thay đổi hành vi có ý nghĩa và nâng cao lợi ích tập thể của nghiên cứu.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Lợi ích cho thế giới</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Vượt ra ngoài các bên liên quan trực tiếp, chúng ta phải đặt câu hỏi liệu tình trạng hiện tại của xuất bản học thuật có thực sự mang lại lợi ích cho thế giới nói chung hay không. Mặc dù nó duy trì sự nghiệp của các nhà nghiên cứu, hoạt động của các nhà xuất bản, và công việc kinh doanh của các nhà cung cấp và dịch vụ, liệu nó có thúc đẩy sự phát triển của con người, sự hiểu biết khoa học, hoặc các giải pháp cho những vấn đề cấp bách toàn cầu hay không?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhiều nghiên cứu có giá trị được xuất bản, và nhiều nhà xuất bản thực hiện công việc chất lượng cao trong việc bình duyệt, giám tuyển và phổ biến nghiên cứu. Tuy nhiên, sự lãng phí đáng kể vẫn tồn tại dưới dạng các nghiên cứu dư thừa, nghiên cứu sai sót, hoặc công trình có thể gây hiểu lầm hoặc gây hại. Thách thức không chỉ đơn thuần là sự tồn tại của các nghiên cứu tồi; mà là các nghiên cứu chất lượng cao thường không đến được với những người có thể hưởng lợi từ nó, trong khi các nghiên cứu chất lượng thấp hơn có thể lan truyền rộng rãi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Công nghệ, bao gồm cả AI, có thể giúp giải quyết một số thách thức nhất định, chẳng hạn như quản lý khối lượng ấn phẩm hoặc phát hiện các vấn đề về phương pháp luận, nhưng nó không thể giải quyết các sự lệch lạc về cấu trúc hoặc văn hóa. Những thay đổi cơ bản là cần thiết trong cách khuyến khích nghiên cứu, cách đánh giá các nhà nghiên cứu và tổ chức, cách tài trợ cho truyền thông khoa học, và cách hiểu về mục đích của hoạt động nghiên cứu.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Từ phân mảnh đến tích hợp: Một con đường phía trước</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Những thách thức mà xuất bản học thuật đang đối mặt &#8211; các bên liên quan bị phân mảnh, cơ chế khuyến khích lệch lạc và niềm tin bị xói mòn &#8211; về cơ bản là những vấn đề cấp hệ thống đòi hỏi các giải pháp cấp hệ thống. Chuyên môn hóa, dù cần thiết, có thể thu hẹp các quan điểm, khiến các bên liên quan chỉ tìm kiếm giải pháp trong phạm vi của riêng họ. Tuy nhiên, thực tế là các hệ sinh thái nghiên cứu được kết nối với nhau. Nếu không có một cái nhìn toàn diện, một chiến lược mạch lạc hay sự rõ ràng về những cải cách cần thiết sẽ không thể xuất hiện. Tư duy chiến lược phải liên tục chuyển đổi giữa sự hiểu biết vĩ mô về hệ thống và các cân nhắc vận hành vi mô để duy trì quan điểm và thúc đẩy thay đổi có ý nghĩa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một quan điểm hệ thống công nhận rằng sự tồn tại và thành công của mỗi bên liên quan là thiết yếu để hệ sinh thái phát triển mạnh. Nhà nghiên cứu, tổ chức, nhà xuất bản, nhà tài trợ và công chúng phụ thuộc lẫn nhau, và sự đổi mới nảy sinh từ các tương tác giữa các nhóm này thay vì các cấu trúc biệt lập. Việc chuyển đổi quan điểm này thành hành động đòi hỏi các chiến lược liên kết các bên liên quan và tạo ra các cơ chế khuyến khích chung.</p>



<h3 class="wp-block-heading"><em>Các con đường dẫn đến tích hợp hệ thống</em></h3>



<p class="wp-block-paragraph">Để đạt được sự tích hợp hệ thống, cần có hành động phối hợp trên năm con đường bổ trợ lẫn nhau:</p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li>Đối thoại có Cấu trúc và bàn tròn: Các cuộc họp thường xuyên của các nhà nghiên cứu, biên tập viên, nhà tài trợ, lãnh đạo tổ chức và nhà xuất bản có thể thúc đẩy thảo luận trung thực về những thách thức chung, các ưu tiên và các giải pháp mới nổi. Đây nên là các diễn đàn hướng tới hành động được thiết kế để đồng phát triển các chính sách và thúc đẩy cải tiến hệ thống, thay vì các cuộc họp mang tính biểu tượng với tác động hạn chế. Ví dụ bao gồm <em>Sáng kiến Liêm chính trong Nghiên cứu của STM</em> và các diễn đàn <em>COPE</em>.</li>



<li>Hiến chương nghiên cứu toàn cầu Chung: Các nguyên tắc và quy tắc thực hành chung, được đồng thuận bởi các nhà tài trợ, nhà xuất bản và tổ chức, có thể thiết lập các tiêu chuẩn chung về tính minh bạch, chất lượng và phổ biến. Các hiến chương này tạo ra một ngôn ngữ chung và khung trách nhiệm giải trình xuyên suốt các ngành và khu vực, hỗ trợ sự liên kết giữa các bối cảnh đa dạng. Ví dụ bao gồm <em>DORA (Tuyên bố về Đánh giá Nghiên cứu)</em> và <em>Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO</em>.</li>



<li>Cấu trúc khuyến khích tích hợp: Thăng tiến nghề nghiệp, tài trợ và sự công nhận phải khen thưởng sự chặt chẽ, khả năng tái lập, tính minh bạch và sự thích đáng đối với xã hội thay vì chỉ là khối lượng hoặc tính mới lạ. Các cơ chế khuyến khích được phối hợp giữa các tổ chức, nhà xuất bản và nhà tài trợ sẽ giảm bớt áp lực ưu tiên số lượng hơn chất lượng và khuyến khích hành vi phù hợp với lợi ích công cộng. Một ví dụ là <em>Các Nguyên tắc Hồng Kông để Đánh giá Nhà nghiên cứu</em>.</li>



<li>Cơ sở hạ tầng và công cụ hợp tác: Công nghệ và hệ thống vận hành nên được phát triển tập thể thay vì trong các cấu trúc biệt lập. Các nền tảng chia sẻ cho bình duyệt, kiểm tra trước khi xuất bản và quản lý dữ liệu giúp giảm sự dư thừa, cải thiện tính minh bạch và đảm bảo các tiêu chuẩn nhất quán giữa các tạp chí và tổ chức. Ví dụ bao gồm <em>ORCID</em>, các sáng kiến <em>Crossref</em> và <em>Liên minh Dữ liệu Nghiên cứu (Research Data Alliance)</em>.</li>



<li>Vòng lặp phản hồi liên tục: Các cơ chế đánh giá theo dõi tác động, độ tin cậy và khả năng tiếp cận của nghiên cứu cho phép các bên liên quan điều chỉnh hướng đi theo thời gian thực. Phản hồi mở giữa các tác giả, người bình duyệt, nhà xuất bản và độc giả củng cố niềm tin và thúc đẩy trách nhiệm giải trình chung trên toàn hệ thống. Ví dụ bao gồm <em>PREreview</em> và các sáng kiến <em>Bình duyệt Mở F1000</em>.</li>
</ol>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Lời hứa về sự đồng quản lý</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Cuộc khủng hoảng trong xuất bản học thuật không phải là điều không thể tránh khỏi hay không thể vượt qua. Nó là kết quả của các cơ chế khuyến khích bị phân mảnh và việc ra quyết định biệt lập. Giải pháp đòi hỏi một sự tái hình dung cơ bản về cách tri thức được tạo ra, xác nhận và chia sẻ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều này bắt đầu bằng việc công nhận hệ sinh thái nghiên cứu đúng là một hệ sinh thái. Sức khỏe của nó phụ thuộc vào việc tất cả các bên liên quan hành động với nhận thức về sự phụ thuộc lẫn nhau của họ. Khi các nhà xuất bản phát triển mạnh nhờ sự hy sinh quyền tự chủ của các nhà nghiên cứu, khi các tổ chức ưu tiên thứ hạng hơn chất lượng nghiên cứu, và khi các nhà tài trợ yêu cầu tác động mà không hỗ trợ cơ sở hạ tầng để đảm bảo sự chặt chẽ, toàn bộ hệ thống sẽ trở nên bất ổn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Con đường phía trước đòi hỏi sự dũng cảm và khiêm tốn. Quan trọng nhất, nó đòi hỏi sự chuyển dịch từ các mối quan hệ giao dịch sang các quan hệ đối tác thực sự. Các bên liên quan phải ngừng xem nhau như những trở ngại hoặc đối thủ và bắt đầu nhìn nhận bản thân như những người đồng quản lý của một sứ mệnh chung: thúc đẩy tri thức nhân loại theo những cách đáng tin cậy, dễ tiếp cận và có lợi cho xã hội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây không phải là chủ nghĩa lý tưởng, đây là sự thực tế (pragmatism). Quỹ đạo hiện tại là không bền vững. Niềm tin của công chúng tiếp tục xói mòn, và các mô hình thay thế đang nổi lên. Câu hỏi không phải là liệu thay đổi có xảy ra hay không, mà là liệu các bên liên quan sẽ định hình sự thay đổi đó một cách tập thể hay để nó bị áp đặt một cách riêng lẻ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cơ hội là rất lớn: xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu nơi sự xuất sắc được định nghĩa không phải bằng số lượng xuất bản mà bằng việc tri thức phục vụ cho việc theo đuổi chân lý tốt như thế nào; nơi thành công được đo lường không phải bằng trích dẫn mà bằng sự hiểu biết được nâng cao và cuộc sống được cải thiện; và nơi giá trị của mỗi bên liên quan đều rõ ràng vì nó đóng góp một cách hữu hình vào sự thịnh vượng của toàn bộ hệ thống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tầm nhìn này chỉ có thể đạt được nếu các bên liên quan chọn sự tích hợp thay vì phân mảnh, mục đích chung thay vì lợi ích cá nhân hạn hẹp, và uy tín lâu dài thay vì lợi ích ngắn hạn. Tương lai của xuất bản học thuật sẽ được quyết định bởi việc liệu các bên liên quan có vượt qua được việc bảo vệ vị thế để xây dựng một hệ thống xứng đáng với tri thức mà nó tìm cách thúc đẩy và xã hội mà nó phục vụ hay không. Niềm tin, sự minh bạch và cam kết chung là nền tảng mà tương lai này sẽ được xây dựng, công nhận rằng thành công cá nhân không thể tách rời khỏi trách nhiệm tập thể trong việc thúc đẩy sự hiểu biết và thịnh vượng của nhân loại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các câu hỏi đã rõ ràng. Thách thức bây giờ là liệu chúng ta có đủ can đảm và ý chí tập thể để trả lời chúng hay không.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://scholarlykitchen.sspnet.org/2025/11/05/guest-post-a-systems-approach-to-research-publishing-from-fragmentation-to-cohesion/">Scholarly Kitchen</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1765965561"
	            data-title="Tiếp cận hệ thống trong xuất bản học thuật: Từ phân mảnh đến gắn kết" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tiep-can-he-thong-trong-xuat-ban-hoc-thuat-tu-phan-manh-den-gan-ket/">Tiếp cận hệ thống trong xuất bản học thuật: Từ phân mảnh đến gắn kết</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tiep-can-he-thong-trong-xuat-ban-hoc-thuat-tu-phan-manh-den-gan-ket/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trung Quốc muốn dẫn đầu thế giới về quy định AI &#8211; liệu kế hoạch này có thành công?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/trung-quoc-muon-dan-dau-the-gioi-ve-quy-dinh-ai-lieu-ke-hoach-nay-co-thanh-cong/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/trung-quoc-muon-dan-dau-the-gioi-ve-quy-dinh-ai-lieu-ke-hoach-nay-co-thanh-cong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Dec 2025 02:13:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[EdTech]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2860</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bản dịch này được thực hiện bởi Gemini và chưa thông qua khâu hiệu đính Sau khi đặt trí tuệ nhân tạo vào trung tâm chiến lược kinh tế của mình, Trung Quốc đang thúc đẩy các nỗ lực nhằm tạo ra một hệ thống quốc tế để quản trị việc sử dụng [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/trung-quoc-muon-dan-dau-the-gioi-ve-quy-dinh-ai-lieu-ke-hoach-nay-co-thanh-cong/">Trung Quốc muốn dẫn đầu thế giới về quy định AI &#8211; liệu kế hoạch này có thành công?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-2-1024x683.png" alt="" class="wp-image-2861" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-2-1024x683.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-2-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-2-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/12/image-2.png 1470w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://unsplash.com/@christianlue?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Christian Lue</a> via <a href="https://unsplash.com/photos/red-green-and-blue-world-map-2Juj2cXWB7U?utm_source=unsplash&amp;utm_medium=referral&amp;utm_content=creditCopyText">Unsplash</a> | Unsplash License</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bản dịch này được thực hiện bởi Gemini và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau khi đặt trí tuệ nhân tạo vào trung tâm chiến lược kinh tế của mình, Trung Quốc đang thúc đẩy các nỗ lực nhằm tạo ra một hệ thống quốc tế để quản trị việc sử dụng công nghệ này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bất chấp những rủi ro từ việc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng cho đến việc gây ra thảm họa hiện sinh, thế giới vẫn chưa thống nhất được các quy định để quản trị trí tuệ nhân tạo. Mặc dù một mạng lưới chắp vá các quy định quốc gia và khu vực đang tồn tại, nhưng đối với nhiều quốc gia, các quy tắc ràng buộc vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vào tháng 10, tại một cuộc họp của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á &#8211; Thái Bình Dương (APEC), Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhắc lại đề xuất của nước này về việc thành lập một cơ quan được gọi là World Artificial Intelligence Cooperation Organization (WAICO) – Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới, cơ quan này sẽ tập hợp các quốc gia lại như một bước tiến tới việc tạo ra một hệ thống quản trị toàn cầu cho AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đề xuất này là một phần của động thái rộng lớn hơn nhằm nắm quyền điều hành các nỗ lực quản trị AI, trái ngược với cách tiếp cận tập trung vào việc giảm thiểu quy định (deregulation) của Hoa Kỳ. Khi nói đến sự minh bạch và chính sách AI, &#8220;Trung Quốc hiện đang là &#8216;phe chính diện&#8217; (good guy),&#8221; Wendy Hall, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Southampton, Vương quốc Anh, đã nói với các phóng viên tại một sự kiện ở London vào tháng 10.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có rất nhiều rào cản trên con đường tạo ra một thỏa thuận liên chính phủ ràng buộc về AI, nhưng một số người ủng hộ cho rằng điều này là khả thi, khi so sánh công nghệ này với các nỗ lực rủi ro nhưng hữu ích khác đã có thỏa thuận, chẳng hạn như năng lượng hạt nhân và hàng không. <em>Nature</em> xem xét cách tiếp cận của Trung Quốc, hình hài của một cơ quan quản trị AI toàn cầu có thể trông như thế nào và cơ hội thành công của nó.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Hệ sinh thái AI của Trung Quốc khác biệt như thế nào so với các quốc gia khác?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Được chính phủ khuyến khích, các công ty Trung Quốc có xu hướng phát hành các mô hình dưới dạng open weight (trọng số mở), nghĩa là chúng có thể được tải xuống và phát triển thêm. Và so với các quốc gia phương Tây, Trung Quốc ít tập trung hơn vào việc tạo ra các cỗ máy có thể thông minh hơn con người &#8211; thường được gọi là artificial general intelligence (AGI &#8211; trí tuệ nhân tạo tổng quát) &#8211; thay vào đó tập trung vào cuộc đua sử dụng AI để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều này được minh chứng bằng một chính sách được giới thiệu vào tháng 8 gọi là AI+, theo Kwan Yee Ng, người phụ trách quản trị AI quốc tế tại Concordia AI, một công ty tư vấn có trụ sở tại Bắc Kinh tập trung vào an toàn AI.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Trung Quốc tiếp cận quy định AI như thế nào?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Trung Quốc nằm trong số những quốc gia đầu tiên đưa ra các quy định dành riêng cho AI, bắt đầu từ năm 2022, và có các quy tắc sâu rộng về nội dung độc hại, quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu, chẳng hạn. Các nhà phát triển dịch vụ tích hợp AI hướng tới công chúng phải để các cơ quan quản lý Trung Quốc kiểm tra hệ thống của họ trước khi triển khai, theo Ng. Kết quả là các mô hình như những mô hình được phát triển bởi công ty DeepSeek có trụ sở tại Hàng Châu &#8211; công ty đã tìm thấy danh tiếng thế giới với mô hình R1 vào đầu năm nay &#8211; nằm trong số những mô hình &#8220;được quản lý chặt chẽ nhất trên thế giới&#8221;, theo Joanna Bryson, một nhà khoa học máy tính và nhà nghiên cứu về đạo đức AI tại Trường Hertie ở Berlin. Mặc dù vậy, các cơ quan chức năng thường áp dụng cách tiếp cận mềm mỏng để thực thi quy định đó, theo Angela Zhang, một nhà nghiên cứu luật và chuyên gia về quy định AI tại Đại học Nam California ở Los Angeles.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngược lại, Hoa Kỳ không có luật toàn diện về AI ở cấp liên bang, và vào tháng 1 Tổng thống Donald Trump đã thu hồi một sắc lệnh hành pháp (executive order) nhằm đảm bảo an toàn AI. Ông đã định vị chính quyền của mình theo hướng ủng hộ ngành công nghiệp, khi gợi ý trong một bài đăng trên mạng xã hội vào tháng trước rằng ông sẽ thêm một điều khoản vào dự luật liên bang để ngăn các tiểu bang tự quy định về AI. Cách tiếp cận của Liên minh Châu Âu (EU) là phân loại các hệ thống AI theo mức độ rủi ro, với các quy tắc khác nhau liên quan đến tính minh bạch và giám sát ở mỗi cấp độ, và các nghĩa vụ có hiệu lực vào tháng 8, nhắm vào các hệ thống AI mạnh mẽ nhất. Trong khi đó, chính phủ Vương quốc Anh đã hoãn kế hoạch đưa ra luật AI toàn diện cho đến ít nhất là năm sau.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Những luật pháp quốc tế nào đang tồn tại để quản trị AI?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Rất ít. Quy định quốc tế duy nhất có ràng buộc pháp lý đến từ Hội đồng Châu Âu (Council of Europe), một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia thành viên châu Âu, tách biệt với Liên minh Châu Âu (EU), tổ chức này đã thiết lập Công ước Khung về AI vào tháng 5 năm 2024. Hiệp ước này cam kết bất kỳ quốc gia ký kết nào cũng phải thực hiện các nghĩa vụ rộng lớn của mình &#8211; chẳng hạn như đảm bảo rằng các hoạt động AI phù hợp với nhân quyền &#8211; thông qua luật pháp quốc gia của họ. Nhưng không có các biện pháp trừng phạt hay một cơ quan thực thi siêu quốc gia nào, theo Lucia Velasco, một nhà kinh tế và nhà nghiên cứu tại Sáng kiến Quản trị AI của Trường Oxford Martin, hiện đang làm việc tại New York.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các công ty và quốc gia cũng đã ký nhiều thỏa thuận không ràng buộc, chẳng hạn như Khuyến nghị của UNESCO về Đạo đức của Trí tuệ Nhân tạo, Các nguyên tắc AI của OECD và Bletchley Declaration (Tuyên bố Bletchley), một thỏa thuận quốc tế được ký bởi 28 quốc gia tại Hội nghị Thượng đỉnh An toàn AI Vương quốc Anh năm 2023. Một số nhóm chuyên gia đã đưa ra các tài liệu phác thảo những rủi ro, một trong những tài liệu nổi bật nhất là Báo cáo An toàn AI Quốc tế. Liên Hợp Quốc (UN) đang điều hành một quy trình &#8220;đối thoại&#8221; và đã tạo ra một hội đồng khoa học để hướng dẫn các nỗ lực quản lý của các quốc gia.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Trung Quốc đã đề xuất gì?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">WAICO sẽ là một cách để các quốc gia phối hợp các quy tắc quản trị AI trong khi &#8220;hoàn toàn tôn trọng sự khác biệt trong các chính sách và thực tiễn quốc gia&#8221; và ủng hộ Global South (Nam Bán cầu), các quan chức Trung Quốc đã nói. Trung Quốc đã đề xuất trụ sở của cơ quan này đặt tại Thượng Hải, nhưng các chi tiết khác vẫn chưa chắc chắn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">WAICO có vẻ khó có khả năng quản lý AI trực tiếp theo bất kỳ cách nào có thể thực thi (và Trung Quốc đã nói rằng họ ủng hộ cách tiếp cận của LHQ trong việc quản lý AI toàn cầu) nhưng nó có thể là một con đường để các quốc gia dần dần tập hợp lại xung quanh một khuôn khổ chung.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lời kêu gọi thành lập WAICO của ông Tập là ít nhất lần thúc đẩy thứ tư như vậy từ một quan chức Trung Quốc trong bốn tháng qua, cho thấy ý tưởng này quan trọng đối với chính phủ, theo Ng. Một lý do là mang tính thương mại, theo Zhang. &#8220;Việc Trung Quốc có thể thiết lập các tiêu chuẩn giúp cho sự khuếch tán sản phẩm của Trung Quốc trên toàn thế giới,&#8221; bà nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Động thái này cũng mang lại cho Trung Quốc một số uy tín ngoại giao. &#8220;Trung Quốc đang cố gắng trở thành như một người anh [lớn] đối với Nam Bán cầu, lập luận rằng &#8216;chúng ta cũng cần có tiếng nói của mình trong việc quản trị AI và không bị sai khiến&#8217;,&#8221; Zhang nói.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Một hình thức quản trị toàn cầu sẽ trông như thế nào?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng ta chưa biết. Các chuyên gia an toàn AI thường trích dẫn quy định về năng lượng hạt nhân và việc thành lập Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) như một phép ẩn dụ, theo Ng. Các tiêu chuẩn do cơ quan LHQ này đặt ra không có tính ràng buộc nhưng được bổ sung bởi các hiệp ước ràng buộc pháp lý mà nó đã giúp tạo ra, chẳng hạn như Công ước về An toàn Hạt nhân.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đặc biệt hấp dẫn, theo Ng, là vay mượn từ năng lượng hạt nhân ý tưởng về việc bên thứ ba hoặc kiểm tra lẫn nhau đối với sự phát triển AI, để đảm bảo tuân thủ mọi cam kết. Một ý tưởng khác đã được đưa ra là tạo ra một cơ quan tương tự như CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt của Châu Âu, nơi AI tiên tiến nhất có thể được tạo ra bởi mọi người, vì lợi ích của tất cả. Một mô hình thứ ba là một cái gì đó giống với Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) của LHQ, cơ quan phát triển các tiêu chuẩn kỹ thuật cho hàng không mà sau đó các quốc gia đưa vào luật quốc gia.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong tất cả các ví dụ này, LHQ, hoặc một cơ quan của LHQ, đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chúng. Tuy nhiên, &#8220;AI không khớp hoàn toàn với các mô hình quản trị trong quá khứ,&#8221; Velasco nói. &#8220;AI là công nghệ đa dụng, phát triển nhanh và phần lớn được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">LHQ có thể là địa điểm nảy sinh một sự sắp xếp quản trị AI toàn cầu trong tương lai, nhưng điều này sẽ đòi hỏi một quốc gia thành viên khởi xướng tại Đại hội đồng LHQ, theo Velasco.</p>



<h2 class="wp-block-heading">Cơ hội để AI được quản lý toàn cầu sớm xảy ra là bao nhiêu?</h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một cuộc đua được nhận thấy giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm thống trị AI thế giới khiến việc tạo ra bất kỳ thỏa thuận quốc tế nào đặt ra giới hạn cho công nghệ này trở nên &#8220;rất khó khăn&#8221;, theo Grace Gonzales, cố vấn chính sách tại ControlAI, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại London hoạt động nhằm giảm thiểu rủi ro đối với nhân loại từ AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kể từ Tuyên bố Bletchley, sự tập trung vào an toàn AI đã suy yếu tại các sự kiện tiếp theo ở Seoul và Paris, và hiện tại có một &#8220;sự thiếu hụt chung các kênh chính phủ mạnh mẽ&#8221; liên quan đến các quốc gia AI lớn, theo Ng. Mặc dù LHQ là nền tảng quy tụ nhiều quốc gia nhất, &#8220;nó đi kèm với một loạt thách thức&#8221;, chẳng hạn như thiếu kinh phí và tốc độ xử lý chậm chạp, theo Brian Tse, người sáng lập Concordia AI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, các tiêu chuẩn chung có thể xuất hiện mà không cần các thỏa thuận quốc tế ràng buộc. WAICO có thể phục vụ &#8220;một chức năng quan trọng&#8221; nếu nó thúc đẩy sự hiểu biết chung về các rủi ro và khả năng của AI, hoặc giúp các quốc gia đồng ý không vượt qua một số ranh giới nhất định trong phát triển AI, theo Ng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Công ước về An toàn Hạt nhân năm 1994 đã giúp cải thiện an toàn lò phản ứng, nhưng điều này chỉ xảy ra sau tai nạn hạt nhân Chernobyl năm 1986 tại Liên Xô, Tse nói. &#8220;Trong lĩnh vực AI, công việc của chúng ta là đảm bảo rằng chúng ta đi trước đón đầu,&#8221; ông nói, và giảm thiểu cơ hội xảy ra khủng hoảng &#8220;trước khi nó xảy ra&#8221;.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-025-03902-y">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="edtech" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1764666785"
	            data-title="Trung Quốc muốn dẫn đầu thế giới về quy định AI &#8211; liệu kế hoạch này có thành công?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/trung-quoc-muon-dan-dau-the-gioi-ve-quy-dinh-ai-lieu-ke-hoach-nay-co-thanh-cong/">Trung Quốc muốn dẫn đầu thế giới về quy định AI &#8211; liệu kế hoạch này có thành công?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/trung-quoc-muon-dan-dau-the-gioi-ve-quy-dinh-ai-lieu-ke-hoach-nay-co-thanh-cong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nghiên cứu của bạn có thay đổi thế giới không? Công cụ AI này dự đoán tác động từ công trình của bạn</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nghien-cuu-cua-ban-co-thay-doi-the-gioi-khong-cong-cu-ai-nay-du-doan-tac-dong-tu-cong-trinh-cua-ban/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nghien-cuu-cua-ban-co-thay-doi-the-gioi-khong-cong-cu-ai-nay-du-doan-tac-dong-tu-cong-trinh-cua-ban/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Oct 2025 02:51:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đo lường - Đánh giá]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2807</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nghiên cứu khoa học mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, nhưng làm thế nào để bạn theo dõi tác động của các dự án cụ thể? Thật dễ dàng để theo dõi các bài báo khoa học ra đời từ một khoản tài trợ, nhưng khó hơn nhiều để biết được nghiên cứu [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nghien-cuu-cua-ban-co-thay-doi-the-gioi-khong-cong-cu-ai-nay-du-doan-tac-dong-tu-cong-trinh-cua-ban/">Nghiên cứu của bạn có thay đổi thế giới không? Công cụ AI này dự đoán tác động từ công trình của bạn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>Một công cụ có tên Funding the Frontier trực quan hóa tất cả các tác động lan tỏa của việc tài trợ — và dự đoán những nghiên cứu nào sẽ có tác động xã hội lớn nhất.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý: </strong>Nghiên cứu này được dịch hoàn toàn bởi Gemini và không thông qua khâu hiệu đính.</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="781" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-17.png" alt="" class="wp-image-2809" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-17.png 600w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-17-230x300.png 230w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/34580839/IBM-Patents" target="_blank" rel="noreferrer noopener">IBM Patents</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Nghiên cứu khoa học mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, nhưng làm thế nào để bạn theo dõi tác động của các dự án cụ thể? Thật dễ dàng để theo dõi các bài báo khoa học ra đời từ một khoản tài trợ, nhưng khó hơn nhiều để biết được nghiên cứu đó có tác động xã hội rộng lớn hơn như thế nào đối với các chính sách, thuốc men hay sản phẩm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Đó mới là những [tác động] thú vị hơn nhiều, và mang lại lợi ích công cộng lớn hơn,” Dashun Wang, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Khoa học và Đổi mới (Center for Science of Science and Innovation) tại Đại học Northwestern ở Evanston, Illinois, cho biết.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Wang và các đồng nghiệp đã xây dựng một công cụ tên là <strong>Funding the Frontier</strong>, tích hợp dữ liệu về các công bố nghiên cứu, bằng sáng chế, tài liệu chính sách và các thử nghiệm lâm sàng, và trình bày thông tin một cách trực quan, dễ hiểu. Họ cũng kết hợp công cụ này với một thuật toán dự đoán dựa trên học máy (machine learning) để dự báo những nghiên cứu và lĩnh vực nào có khả năng mang lại nhiều lợi ích xã hội nhất trong tương lai — ví dụ, những khoản tài trợ nào có khả năng cao nhất sẽ dẫn đến một bằng sáng chế. Họ đã mô tả nguyên mẫu này trong một bài báo đăng trên máy chủ lưu trữ bản thảo (preprint) arXiv.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Funding the Frontier chứa một lượng dữ liệu đáng kinh ngạc, được lấy từ bốn bộ dữ liệu lớn: cơ sở dữ liệu Dimensions, Altmetric và Overton, cũng như bộ dữ liệu SciSciNet của chính các tác giả. Bộ sưu tập tổng hợp này liên kết 7 triệu khoản tài trợ nghiên cứu với 140 triệu ấn phẩm khoa học, 160 triệu bằng sáng chế, 10,9 triệu tài liệu chính sách, 800.000 thử nghiệm lâm sàng và 5,8 triệu tin tức, tất cả được xuất bản từ năm 2000 đến 2021, với 1,8 tỷ liên kết trích dẫn giữa chúng. Dữ liệu có thể được hiển thị theo nhiều cách, cho thấy các tác động xuất phát từ một nghiên cứu cụ thể và truy ngược các kết quả về nguồn gốc của chúng cũng như tất cả các liên kết giữa chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Staša Milojević, người nghiên cứu về &#8220;khoa học của khoa học&#8221; (science of science) tại Đại học Indiana ở Bloomington và không tham gia phát triển công cụ này, nói rằng nó có thể giúp lấp đầy một khoảng trống quan trọng khi nói đến việc chuyển các nghiên cứu về cách thức khoa học vận hành thành dữ liệu hữu ích. “Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực ‘khoa học của khoa học’ có ý nghĩa tiềm năng đối với chính sách khoa học và tài trợ,” bà nói. “Tuy nhiên, tác động thực tế của chúng thường bị hạn chế vì thiếu các công cụ mà các bên liên quan (stakeholders) có thể dễ dàng sử dụng để có được thông tin chi tiết hữu ích.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quy mô của cơ sở dữ liệu và khả năng liên kết các luồng thông tin khác biệt lại với nhau là lợi thế lớn nhất, Milojević nói. “Chỉ riêng lượng dữ liệu và mức độ tổng hợp dữ liệu liên quan đến FtF [Funding the Frontier] đã rất ấn tượng,” bà nói. “Ngay cả khi không có khía cạnh dự đoán, việc có một công cụ cho phép người ta tra cứu các <strong>chủ nhiệm đề tài (PIs)</strong> hoặc các khoản tài trợ từ nhiều lĩnh vực khoa học và đánh giá chúng dựa trên các chỉ số nghiên cứu khác nhau (đã được chuẩn hóa theo sự khác biệt giữa các lĩnh vực và thời gian) cũng đã là vô cùng hữu ích.”</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Các trường hợp nghiên cứu (Case studies)</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Wang kỳ vọng rằng nhiều người sẽ quan tâm đến công cụ này. Các nhà tài trợ có thể sử dụng nó để kiểm tra danh mục tài trợ (funding portfolio) của họ để xem lĩnh vực nào đã hoạt động hiệu quả nhất; các nhà quản lý đại học có thể kiểm tra &#8220;dấu ấn&#8221; (footprint) của tổ chức mình, để xác định các điểm mạnh, điểm yếu và giúp quyết định nơi cần đầu tư.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Có vô số câu hỏi bạn có thể đặt ra,” ông nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bản thảo (preprint), vốn chưa được bình duyệt (peer reviewed), bao gồm các trường hợp nghiên cứu liên quan đến những người dùng tiềm năng ẩn danh. Một quản lý dự án tại một cơ quan tài trợ lớn của Hoa Kỳ đã sử dụng nó để kiểm tra các tác động xã hội rộng lớn từ các khoản tài trợ của cơ quan, điều mà ông cho biết mình chưa bao giờ có thể thấy trước đây. Ông phát hiện ra rằng các dự án của họ đã được trích dẫn trong các tài liệu chính sách ở Đức, Vương quốc Anh và tại các tổ chức liên chính phủ khác. Nhưng ông cũng xác định được một sự chênh lệch giới tính (gender disparity) chưa từng được biết đến trước đây — cụ thể là, trong một số lĩnh vực, các chủ nhiệm đề tài (PIs) nữ ít được đại diện (under-represented) — điều mà ông dự định sẽ điều tra thêm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một người dùng thứ hai, làm việc cho một công ty đầu tư tư nhân chuyên về nghiên cứu y sinh, lại quan tâm nhất đến tiềm năng dự đoán của công cụ. Ông phát hiện ra rằng, trong lĩnh vực nghiên cứu Alzheimer, tác động lâm sàng lớn nhất trong 20 năm qua đến từ các nghiên cứu nhằm tìm hiểu về căn bệnh này, nhưng tác động dự đoán lớn nhất trong tương lai lại tập trung vào các nghiên cứu về hệ thống hỗ trợ xã hội cho những người mắc bệnh — điều này gợi ý một cơ hội đầu tư mới tiềm năng.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Giá trị của khoa học</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng chính khía cạnh dự đoán đó lại khiến James Wilsdon, người nghiên cứu chính sách khoa học tại Đại học College London, lo ngại. Ông lo lắng rằng việc dựa dẫm vào các thuật toán như vậy có nguy cơ tạo ra một <strong>&#8220;lời tiên tri tự ứng nghiệm&#8221; (self-fulfilling prophecy)</strong>, khuyến khích các quyết định bảo thủ (conservative) hơn dựa trên thành công trong quá khứ thay vì tiềm năng tương lai. “Những loại phân tích dự đoán này cần được tiếp cận một cách thận trọng và kiểm tra kỹ lưỡng, trước khi được các nhà tài trợ nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách áp dụng và thực hiện,” ông nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và ông nói rằng, mặc dù nỗ lực kết hợp và tổng hợp một lượng lớn dữ liệu là đáng khen ngợi, dự án này lại bỏ qua những câu hỏi lớn về cách sử dụng các phép đo lường thành công của nghiên cứu để thúc đẩy tác động của nó trong xã hội. Ví dụ, “bài báo thiếu một tầm nhìn rõ ràng về việc làm thế nào phân tích dựa trên dữ liệu (data-driven analytics) và chuyên môn của con người có thể song hành với nhau, theo những cách thực sự củng cố chất lượng và sự vững chắc của việc ra quyết định,” Wilsdon nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Wang lưu ý rằng các thuật toán dự đoán không nhằm mục đích thay thế chuyên môn của con người. “Giá trị là ở chỗ bạn có thể xem xét dữ liệu và tự đưa ra kết luận cũng như quyết định của riêng mình,” ông nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Funding the Frontier hiện đang ở giai đoạn chứng minh ý tưởng (proof-of-concept), Wang nói, và ông hy vọng rằng những người khác sẽ tiếp tục xây dựng trên nền tảng của nó để giúp chỉ ra giá trị to lớn của việc hỗ trợ các dự án nghiên cứu cụ thể. “Đây là lúc mọi thứ trở nên thú vị,” ông nói. “Việc chứng minh giá trị của khoa học đang ngày càng trở nên quan trọng hơn.”</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-025-03120-6">Nature</a></em></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="do-luong-danh-gia,the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1761558696"
	            data-title="Nghiên cứu của bạn có thay đổi thế giới không? Công cụ AI này dự đoán tác động từ công trình của bạn" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nghien-cuu-cua-ban-co-thay-doi-the-gioi-khong-cong-cu-ai-nay-du-doan-tac-dong-tu-cong-trinh-cua-ban/">Nghiên cứu của bạn có thay đổi thế giới không? Công cụ AI này dự đoán tác động từ công trình của bạn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nghien-cuu-cua-ban-co-thay-doi-the-gioi-khong-cong-cu-ai-nay-du-doan-tac-dong-tu-cong-trinh-cua-ban/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Liệu đây có phải là những nghiên cứu sinh tiến sĩ hạnh phúc nhất thế giới?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/lieu-day-co-phai-la-nhung-nghien-cuu-sinh-tien-si-hanh-phuc-nhat-the-gioi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/lieu-day-co-phai-la-nhung-nghien-cuu-sinh-tien-si-hanh-phuc-nhat-the-gioi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 20 Oct 2025 00:48:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thị trường giáo dục]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2793</guid>

					<description><![CDATA[<p>Khảo sát nghiên cứu sinh tiến sĩ 2025 của Nature Bài viết này là bài thứ ba trong một loạt bài ngắn thảo luận về kết quả khảo sát NCS tiến sĩ toàn cầu năm 2025 của Nature. Bài viết tiếp theo sẽ tập trung vào NCS quốc tế. Khảo sát này, được tạo ra [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lieu-day-co-phai-la-nhung-nghien-cuu-sinh-tien-si-hanh-phuc-nhat-the-gioi/">Liệu đây có phải là những nghiên cứu sinh tiến sĩ hạnh phúc nhất thế giới?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>Brazil, Úc và Ý có điểm hài lòng cao nhất trong khảo sát nghiên cứu sinh tiến sĩ (NCS) toàn cầu năm 2025 của Nature — nhưng liệu đây có thực sự là những quốc gia tốt nhất để làm tiến sĩ?</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết được dịch bởi Gemini mà không thông qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="574" height="720" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-12.png" alt="" class="wp-image-2794" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-12.png 574w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/10/image-12-239x300.png 239w" sizes="(max-width: 574px) 100vw, 574px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/40569975/Radio-English-Conversation-June-2016" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Radio English Conversation June 2016</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>
</blockquote>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khảo sát nghiên cứu sinh tiến sĩ 2025 của Nature</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Bài viết này là bài thứ ba trong một loạt bài ngắn thảo luận về kết quả khảo sát NCS tiến sĩ toàn cầu năm 2025 của <em>Nature</em>. Bài viết tiếp theo sẽ tập trung vào NCS quốc tế. Khảo sát này, được tạo ra với sự hợp tác của Thinks Insight &amp; Strategy, một công ty tư vấn nghiên cứu có trụ sở tại London, đã khởi động vào tháng 6 và được quảng bá trên nature.com, trong các sản phẩm kỹ thuật số của Springer Nature và qua các chiến dịch e-mail. Khảo sát đã thu hút 3.785 người tự nguyện tham gia trả lời trên 107 quốc gia, trong đó 44% tự mô tả là nữ, 25% thuộc nhóm dân tộc thiểu số tại quốc gia họ đang học tập và 33% đang du học (học tập bên ngoài quốc gia gốc). Toàn bộ bộ dữ liệu khảo sát có sẵn tại <a target="_blank" rel="noreferrer noopener" href="https://www.google.com/search?q=https://go.nature.com/4ncsuo1&amp;authuser=8">go.nature.com/4ncsuo1</a>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vài năm qua là quãng thời gian khó khăn với Camila Pinto, người đã nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Liên bang Amazonas ở Manaus, Brazil, vào tháng 3. Trong quá trình học, cô đã mất cả cha lẫn mẹ và bị kiệt sức (burnout) cũng như trầm cảm. Tuy nhiên, trải nghiệm tiến sĩ tổng thể của cô vẫn tích cực.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Chúng tôi thường nói trong phòng lab của mình rằng ‘cuộc sống vẫn tiếp diễn khi bạn làm tiến sĩ’, và nhiều biến cố cá nhân xảy ra,” Pinto, một nhà khoa học vật liệu hiện đã bắt đầu nghiên cứu sau tiến sĩ (postdoc) và giữ một vị trí giảng dạy được trả lương tại Viện Liên bang Amazonas của Brazil, chia sẻ. “Điều giúp tôi tiếp tục là sự hỗ trợ cá nhân từ người hướng dẫn, sự đoàn kết của cộng đồng khoa học quốc gia và niềm tin rằng nghiên cứu của tôi phục vụ một mục đích lớn lao hơn.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quan điểm tích cực của Pinto có thể là một đặc điểm quốc gia. Khi <em>Nature</em> khảo sát hơn 3.700 NCS trên toàn thế giới vào đầu năm nay, Brazil đã nổi bật: 83% người tham gia đang học tập tại đây báo cáo rằng họ ít nhất hài lòng ở mức độ vừa phải với chương trình tiến sĩ của mình. Đây là quốc gia duy nhất có điểm số cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu là 75%. NCS ở Brazil cũng là những người lạc quan nhất về trải nghiệm của họ, với 80% nói rằng họ tận hưởng quá trình học và 78% cảm thấy thỏa mãn với công việc, so với mức trung bình toàn cầu lần lượt là 70% và 72%.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Bối cảnh tiến sĩ toàn cầu 2025</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Quốc gia duy nhất tiệm cận Brazil là Úc, ngang bằng về mức độ tận hưởng và thỏa mãn, và chỉ thấp hơn một điểm về sự hài lòng. NCS ở Úc và Brazil cũng là những người có nhiều khả năng nhất nói rằng trải nghiệm tiến sĩ của họ đúng như mong đợi, với 68% ở Úc đồng ý với tuyên bố này (bao gồm 29% hoàn toàn đồng ý) và 65% ở Brazil (27% hoàn toàn đồng ý).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Điều đó có nghĩa là những quốc gia này có NCS hạnh phúc nhất thế giới? Thực tế, bức tranh phức tạp hơn thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước khi xem xét sâu hơn dữ liệu khảo sát, điều quan trọng là phải nêu ra một số lưu ý. Đặc điểm tự nguyện tham gia (self-selecting) của khảo sát <em>Nature</em> có nghĩa là một số quốc gia được đại diện tốt hơn những quốc gia khác. Chúng tôi nhận được rất ít phản hồi từ một số trong 107 quốc gia. Tám quốc gia có hơn 100 người tham gia, khiến việc so sánh giữa chúng trở nên đáng tin cậy: Úc (101 người), Brazil (113), Trung Quốc (312), Đức (247), Ấn Độ (430), Ý (111), Vương quốc Anh (201) và Hoa Kỳ (568). Mười quốc gia khác có từ 50 đến 100 người tham gia (Canada, Ethiopia, Pháp, Iran, Hà Lan, Nigeria, Ba Lan, Nam Phi, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ) và cũng được đưa vào phân tích này. Các quốc gia còn lại có quá ít người tham gia để nghiên cứu riêng lẻ (xem ‘Sự tử tế của Bắc Âu’). Do đó, cần thận trọng khi so sánh kết quả ở cấp độ quốc gia, theo Elsie Lauchlan, giám đốc định lượng của Thinks Insight &amp; Strategy. Và các phức tạp hơn nữa phát sinh từ việc mọi người ở các quốc gia hoặc khu vực khác nhau có xu hướng trả lời các câu hỏi về sự hài lòng và hạnh phúc theo cách khác nhau — một hiệu ứng được gọi là “thiên kiến phản hồi văn hóa” (cultural response bias).</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Sự tử tế của Bắc Âu</strong> Các nước Bắc Âu — Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan và Iceland — thường xuyên đứng đầu trong các khảo sát hạnh phúc toàn cầu. Tuy nhiên, xét riêng lẻ, họ có quá ít phản hồi trong khảo sát của <em>Nature</em> để được đưa vào phân tích về sự hài lòng. Dù vậy, khi gộp lại, họ có số lượng người tham gia tương tự như các quốc gia khác trong bài viết này. 97 người tham gia của họ báo cáo tỷ lệ hài lòng ấn tượng là 85% — thậm chí còn cao hơn cả Brazil. Elham Badalzadehe Aghdam, một NCS người Iran đang nghiên cứu về sức khỏe rừng tại Đại học Linnaeus ở Växjö, Thụy Điển, nói rằng những con số này phản ánh trải nghiệm của cô. “Một lý do khiến sự hài lòng của NCS ở các nước Bắc Âu cao là do cấu trúc và văn hóa của các chương trình đào tạo tiến sĩ ở đây,” cô giải thích. NCS được đối xử như nhân viên thay vì sinh viên, có lương, phúc lợi an sinh xã hội và cân bằng công việc-cuộc sống tốt, khiến vị trí này tạo cảm giác ổn định và chuyên nghiệp hơn những nơi khác. Một văn hóa học thuật hợp tác, phi cấp bậc cũng góp phần vào điều này, cô nói.</p>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Dữ liệu khảo sát của Brazil không đưa ra lý do rõ ràng tại sao quốc gia này có điểm hài lòng cao nhất. Những người tham gia ở đây ít có khả năng lo ngại về việc thiếu sự hướng dẫn (mentoring) hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu (15% so với 26%) và có nhiều khả năng hài lòng với thử thách trí tuệ (92% so với 81%). Họ cũng bày tỏ sự hài lòng cao hơn một chút so với mức trung bình về tiền lương, mối quan hệ với người hướng dẫn, hướng dẫn nghiên cứu và sự độc lập — mặc dù không đáng kể. Trong khi đó, họ ít hài lòng hơn mức trung bình về cân bằng công việc-cuộc sống và cơ hội đi lại, và có nhiều khả năng nói rằng trường đại học của họ có văn hóa làm việc nhiều giờ. Thực tế, khi xét đến nhiều biện pháp riêng lẻ, Brazil bị Vương quốc Anh vượt qua, quốc gia có điểm hài lòng tổng thể là 76% — gần với mức trung bình toàn cầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trên toàn thế giới, khảo sát xác định ba yếu tố tương quan với sự hài lòng. NCS dành ít nhất một giờ mỗi tuần với người hướng dẫn của họ hạnh phúc hơn đáng kể so với mức trung bình, cũng như những người mới học tiến sĩ dưới hai năm. Dành hơn 60 giờ mỗi tuần cho việc làm tiến sĩ tương quan nghịch với sự hài lòng. Các lo ngại về tài chính, mặc dù cao ở hầu hết các quốc gia được khảo sát, không tương quan với mức độ hài lòng một cách rõ ràng. Ở Đức, nơi có số lượng NCS ít nhất bày tỏ lo ngại về tài chính (27%), sự hài lòng tổng thể lại dưới mức trung bình là 70%. Vậy điều gì đang thực sự xảy ra?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sandra Dias, một nhà nghiên cứu ung thư tại Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Vật liệu Brazil ở Campinas, nghĩ rằng sự nhấn mạnh về văn hóa cộng đồng của đất nước cô có thể đóng một vai trò, cũng như các cấu trúc hỗ trợ xã hội. “Chăm sóc sức khỏe toàn dân, giao thông công cộng được trợ giá và, đối với nhiều người, sự gần gũi với đại gia đình làm giảm căng thẳng tài chính và cảm xúc,” cô nói. Khí hậu ôn hòa cho phép các hoạt động ngoài trời quanh năm cũng giúp ích, cô cho biết thêm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, Izadora Menezes, người đang học kỹ thuật tại Đại học Liên bang São Carlos của Brazil, không đồng ý với ý kiến rằng NCS của quốc gia này là hạnh phúc nhất thế giới. “Mặc dù tôi hài lòng với trải nghiệm cá nhân của mình khi làm tiến sĩ, tôi không nghĩ nó phản ánh thực tế ở Brazil,” cô nói. Tiền bạc là một vấn đề chính, cô lưu ý. Dưới chính phủ cực hữu của tổng thống lúc bấy giờ là Jair Bolsonaro từ năm 2019 đến 2023, học bổng bị trì trệ và ngân sách cho khoa học bị cắt giảm mạnh. Mặc dù học bổng của Menezes từ Quỹ Nghiên cứu FAPESP São Paulo tương đối hào phóng, học bổng tiến sĩ trong nước có thể chỉ ở mức thấp 3.100 reais một tháng, cô lưu ý. Mặc dù con số đó tương đương với khoản trợ cấp hàng tháng 1.250 đô la Mỹ tại Hoa Kỳ, nhưng “thường không đủ cho một cuộc sống thoải mái”, Menezes nói. (Giá trị học bổng đã được điều chỉnh quy đổi sang đô la Mỹ bằng cách sử dụng thước đo sức mua tương đương &#8211; PPP.)</p>



<p class="wp-block-paragraph">Pinto nghĩ rằng tỷ lệ hài lòng cao của đất nước có thể một phần xuất phát từ sự nhẹ nhõm rằng nhiệm kỳ tổng thống của Bolsonaro, mà cô gọi là “chương đen tối” đối với nghiên cứu, đã kết thúc. “Chúng tôi vẫn đang vật lộn để xây dựng lại phần lớn những gì đã mất, nhưng lần đầu tiên sau một thời gian dài, có một cảm giác lạc quan mới mẻ,” cô nói. “Sự hy vọng đó là một phần trong DNA của chúng tôi.”</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Sự hài lòng ở phương Nam</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Giống như Brazil, điểm hài lòng cao của Úc không được giải thích ngay lập tức bởi dữ liệu của <em>Nature</em>. 101 người tham gia của quốc gia này đánh giá sự hài lòng của họ trên mức trung bình ở hầu hết các biện pháp — ví dụ, 58% NCS tại Úc cảm thấy hài lòng với cân bằng công việc-cuộc sống so với 51% toàn cầu. Nhưng chỉ có các câu hỏi về hỗ trợ sức khỏe tinh thần được thiết kế riêng và cơ hội đi lại là cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các yếu tố lối sống, bao gồm văn hóa ngoài trời và điều kiện sống tương đối an toàn, cũng góp phần cải thiện hạnh phúc, Eddie Attenborough, người nghiên cứu về thực phẩm, quy trình sinh học và khoa học polymer tại Đại học Monash ở Melbourne, Úc, cho biết. “Khi bạn hạnh phúc hơn bên ngoài phòng thí nghiệm, bạn có nhiều khả năng cảm thấy thỏa mãn hơn bên trong nó,” anh nói thêm. Jesse Gardner-Russell, một NCS nhãn khoa tại Đại học Melbourne và là chủ tịch quốc gia của Hội đồng các Hiệp hội Sau đại học Úc (CAPA), nghĩ rằng các mạng lưới an sinh xã hội của đất nước rất quan trọng, bao gồm chăm sóc sức khỏe miễn phí hoặc được trợ giá cho hầu hết NCS, một văn hóa đại học đa dạng nơi NCS quốc tế cảm thấy được chào đón và cân bằng công việc-cuộc sống tốt. “Tôi nghĩ rằng tất cả những điều này kết hợp lại để tạo ra sự hài lòng.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tỷ lệ NCS quốc tế cao trong mẫu của Úc (63%) cũng có thể ảnh hưởng đến điểm hài lòng của nước này. Trên toàn cầu, NCS du học báo cáo sự hài lòng cao hơn đáng kể so với những người học tập trong nước (78% so với 74%).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, cuộc sống ở Úc rất đắt đỏ. Mặc dù tỷ lệ NCS báo cáo lo ngại về tài chính (47%) chỉ cao hơn một chút so với mức trung bình toàn cầu (42%), chi phí sinh hoạt luôn là nỗi lo hàng đầu trong các khảo sát của CAPA, Gardner-Russell nói. Học bổng tiến sĩ điển hình 33.500 đô la Úc một năm (24.300 đô la Mỹ) thấp hơn mức lương tối thiểu của Úc là khoảng 49.000 đô la Úc. Hơn nữa, không giống như các công việc được trả lương, học bổng không đóng góp vào quỹ hưu trí, đặt NCS vào tình thế bất lợi so với các đồng nghiệp không làm học thuật, anh giải thích. “Điều này có thể khiến NCS cảm thấy rất bị coi nhẹ.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong khi Úc và Brazil đạt điểm cao trên diện rộng, Ý lại cho thấy một bức tranh đa sắc thái hơn. Nhìn chung, quốc gia này có điểm số ngang bằng với Úc: 82% trong số 111 người tham gia nói rằng họ ít nhất hài lòng ở mức độ vừa phải với bằng tiến sĩ của mình. Nhưng khi được hỏi liệu họ có tận hưởng quá trình học và cảm thấy thỏa mãn với công việc hay không, NCS ở Ý lại có điểm số thấp hơn đáng kể so với hai quốc gia kia, chỉ với 68% đồng ý ở cả hai biện pháp. Họ cũng ít hài lòng hơn đáng kể so với mức trung bình về tiền lương, sự độc lập và cân bằng công việc-cuộc sống và có nhiều lo ngại hơn về sức khỏe tinh thần.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Maria Roberta Belardo, người nghiên cứu khoa học toán học và vật lý tại Scuola Superiore Meridionale ở Naples, Ý, nói rằng kết quả của đất nước phản ánh bối cảnh học thuật phức tạp của nó. Các trường đại học Ý cung cấp giáo dục chất lượng, cô nói, nhưng mức lương thấp — học bổng trung bình hàng tháng là 1.200 € (1.960 đô la Mỹ) sau khi trừ thuế — và cộng đồng nghiên cứu nhỏ theo tiêu chuẩn châu Âu. Belardo nói rằng nhiều NCS của đất nước được duy trì chủ yếu bởi niềm đam mê của họ đối với chủ đề nghiên cứu. “Nói cách khác, NCS Ý có thể cảm thấy tự hào về bằng cấp mà họ đạt được, nhưng đồng thời lại thấy trải nghiệm bản thân kém thú vị hơn và triển vọng nghề nghiệp kém an toàn hơn, theo tôi, điều này giải thích cho kết quả lẫn lộn của khảo sát.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">ADI, Hiệp hội NCS và Postdoc ở Ý, cho biết khảo sát năm 2024 của họ, nhận được phản hồi từ khoảng 7.000 NCS vào năm 2023, cho thấy khoảng một nửa có nguy cơ cao bị lo âu, trầm cảm và căng thẳng, chủ yếu do bất an kinh tế, khối lượng công việc quá tải và sự không chắc chắn về tương lai. “Theo ý kiến của chúng tôi, nếu NCS Ý tuyên bố họ hài lòng [trong khảo sát của <em>Nature</em>], sự hài lòng này không thể được hiểu là một dấu hiệu của điều kiện sống và làm việc lý tưởng. Thay vào đó, nó có thể phản ánh một loại ‘khả năng phục hồi’ hoặc có lẽ là sự phổ biến của ‘niềm đam mê’ nghiên cứu, vốn che giấu những khó khăn hàng ngày,” Davide Clementi, thư ký quốc gia của ADI, tại Palermo, Ý, cho biết.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Nghiên cứu tiến sĩ ảm đạm</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu NCS của Ý gửi đi những thông điệp lẫn lộn, thì một phản hồi mạnh mẽ hơn đến từ Trung Quốc, quốc gia có điểm hài lòng thấp nhất (60%) trong số các quốc gia được đại diện rõ rệt. 312 người tham gia của nước này cũng ít hài lòng hơn đáng kể so với mức trung bình ở nhiều chỉ số khác, bao gồm mối quan hệ với người hướng dẫn, hướng dẫn nghiên cứu, cơ hội đi lại và sự độc lập. Quốc gia này báo cáo tỷ lệ NCS tận hưởng quá trình học tiến sĩ (53%) và cảm thấy thỏa mãn (63%) thấp nhất. Lương tiến sĩ cũng thấp so với các quốc gia khác: học bổng chính phủ trị giá khoảng 42.000 nhân dân tệ một năm (11.900 đô la Mỹ).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Yanbo Wang, một nhà nghiên cứu chính sách khoa học tại Đại học Hồng Kông, nói rằng phần lớn sự hài lòng thấp có thể bắt nguồn từ số giờ làm việc dài của NCS Trung Quốc — “ít nhất 80 giờ mỗi tuần”, vượt qua cả lịch làm việc ‘996’ (làm việc từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, sáu ngày một tuần) ở một số nơi. Áp lực làm việc quá sức này xuất phát từ sự cạnh tranh cao trên thị trường việc làm, Wang nói. Ông ước tính rằng số lượng NCS ở Trung Quốc đã tăng ít nhất gấp đôi trong thập kỷ qua, nhưng số lượng vị trí học thuật đã không theo kịp. Và bởi vì bằng tiến sĩ ngày càng được yêu cầu cho các vị trí cấp cao trong chính phủ và doanh nghiệp nhà nước, NCS phải đối mặt với căng thẳng dữ dội. “Cuộc sống chắc chắn không dễ dàng,” Wang nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng có thể có nhiều điều hơn nữa đằng sau điểm hài lòng thấp của Trung Quốc — và, tương tự, điểm cao của Brazil — chứ không chỉ là trải nghiệm của NCS. Các khảo sát toàn cầu khác, bao gồm Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report), đã phát hiện ra rằng sự hài lòng tự báo cáo tuân theo các chuẩn mực xã hội, địa lý và văn hóa. Ví dụ, các nước Mỹ Latinh như Brazil luôn báo cáo mức độ hạnh phúc chủ quan cao hơn so với các quốc gia khác có hoàn cảnh kinh tế tương tự hoặc tốt hơn. Ngược lại, sự hài lòng trong cuộc sống ở Trung Quốc đã giảm sút trong thời kỳ đất nước mở rộng kinh tế từ 1990 đến 2005. Mặc dù thứ hạng của Trung Quốc trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới đã cải thiện từ năm 2010, nước này vẫn chỉ đứng thứ 68, mặc dù là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dấu vết của những mô hình này xuất hiện trong các phát hiện của <em>Nature</em>: NCS ở Brazil có nhiều khả năng hơn mức trung bình nói rằng họ ‘cực kỳ hài lòng’ (17% so với 8% toàn cầu) và ‘hoàn toàn đồng ý’ rằng họ đang tận hưởng quá trình học tiến sĩ tổng thể (42% so với 30%). Trong khi đó, NCS ở Trung Quốc có nhiều khả năng ‘hoàn toàn không đồng ý’ (10%) hơn mức trung bình toàn cầu (7%) rằng họ đang tận hưởng quá trình học tiến sĩ. Vương quốc Anh có điểm hài lòng tổng thể ở mức trung bình, mặc dù điểm số riêng lẻ cao về sự độc lập, thử thách trí tuệ, cân bằng công việc-cuộc sống và cơ hội đi lại tốt. Và NCS ở đó cũng nhận được mức lương tương đối cao, với học bổng tiến sĩ hàng năm ít nhất 20.780 bảng Anh (30.600 đô la Mỹ). Điểm số tổng thể trung bình của Vương quốc Anh có thể được hiểu là một ví dụ tinh túy của sự khiêm tốn (nói giảm nói tránh) kiểu Anh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Marie Briguglio, một nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Malta, giải thích vai trò của tâm lý học trong các khảo sát về hạnh phúc: ngay cả khi được hỏi cùng một bộ câu hỏi, người trả lời có những cách tiếp cận khác nhau cho câu trả lời của họ. “Một số có thể so sánh cảm xúc của họ với những gì họ nghĩ người khác cảm thấy trước khi trả lời. Một số có thể so sánh tình huống của họ với mong đợi của họ. Những người khác có thể đang nghĩ về cảm xúc hiện tại, trong khi những người khác có thể xem xét cảm xúc của họ trong suốt” quá trình học tiến sĩ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Văn hóa cũng định hình các câu trả lời, cô giải thích. “Ở một số nền văn hóa, việc đánh giá thấp có thể phổ biến hơn, vì việc phàn nàn được chấp nhận như một chuẩn mực. Ở những nơi khác, NCS có thể phóng đại cảm xúc tích cực của họ để tránh bị chỉ trích.” Ngay cả thang điểm số cũng có thể làm sai lệch kết quả. “Một số người tiếp cận bảng câu hỏi với quy tắc ngầm là tránh các thái cực, những người khác đơn giản hóa quy trình bằng cách chỉ trả lời ở các thái cực,” Briguglio nói. “Số bảy của tôi có thể tương đương với số năm của bạn.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Do đó, mặc dù có thể chứng minh là có nhiều NCS hài lòng ở Brazil và Úc, điều này có thể không có nghĩa là NCS ở những quốc gia này có điều kiện tốt hơn những nơi khác. Dữ liệu của <em>Nature</em> có thể gợi ý một mức độ hài lòng cao hơn một chút ở những quốc gia đó, nhưng liệu đó là kết quả của các yếu tố bên ngoài hay thái độ bên trong thì rất khó nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, điều mà dữ liệu cho thấy là sự hài lòng có thể nảy nở ngay cả trong nghịch cảnh, điều mà Pinto có thể chứng thực. Cô trân trọng các đồng đội của mình sâu sắc, “đặc biệt là khi chúng tôi là mạng lưới hỗ trợ chính của nhau”, bởi vì cô và đồng nghiệp sống xa các trung tâm học thuật của Brazil. Năm nay, nhóm nghiên cứu của cô đã bảo đảm được tài trợ để mở rộng công việc sử dụng gốm sứ đất hiếm trong các công nghệ chuyển đổi năng lượng. “Điều này sẽ giúp chúng tôi vượt qua một số hạn chế do sự cô lập về địa lý và cho phép chúng tôi mở rộng cơ sở hạ tầng và hợp tác,” Pinto nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khảo sát của <em>Nature</em> không thể cho chúng ta biết chắc chắn quốc gia nào tạo ra những NCS hạnh phúc nhất. Nhưng trải nghiệm của Pinto nhấn mạnh điều quan trọng nhất: kết nối con người, công việc ý nghĩa và sự hướng dẫn. Cuối cùng, đây là những điều kiện có thể làm cho những năm tháng làm tiến sĩ trở nên đáng giá dù bạn ở bất cứ đâu.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-025-03346-4">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="thi-truong-giao-duc" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1760946499"
	            data-title="Liệu đây có phải là những nghiên cứu sinh tiến sĩ hạnh phúc nhất thế giới?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/lieu-day-co-phai-la-nhung-nghien-cuu-sinh-tien-si-hanh-phuc-nhat-the-gioi/">Liệu đây có phải là những nghiên cứu sinh tiến sĩ hạnh phúc nhất thế giới?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/lieu-day-co-phai-la-nhung-nghien-cuu-sinh-tien-si-hanh-phuc-nhat-the-gioi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Những trò lố hay là Springer Nature và MDPI</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/nhung-tro-lo-hay-la-springer-nature-va-mdpi/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/nhung-tro-lo-hay-la-springer-nature-va-mdpi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 02 Oct 2025 21:24:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2706</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lưu ý: Bài dịch này được thực hiện bởi Gemini và chưa qua khâu hiệu đính Một bài phân tích gần đây đã chỉ ra mâu thuẫn trong ngành xuất bản học thuật. Theo đó, các nhà xuất bản vì lợi nhuận thường tự nhận mình là đồng minh của cộng đồng nghiên cứu, cung [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhung-tro-lo-hay-la-springer-nature-va-mdpi/">Những trò lố hay là Springer Nature và MDPI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài dịch này được thực hiện bởi Gemini và chưa qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="400" height="298" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-27.png" alt="" class="wp-image-2707" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-27.png 400w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-27-300x224.png 300w" sizes="(max-width: 400px) 100vw, 400px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Một bài phân tích gần đây đã chỉ ra mâu thuẫn trong ngành xuất bản học thuật. Theo đó, các nhà xuất bản vì lợi nhuận thường tự nhận mình là đồng minh của cộng đồng nghiên cứu, cung cấp nền tảng xuất bản và chỉ yêu cầu một khoản phí xử lý bài viết (APC) &#8220;không đáng kể&#8221; trị giá hàng nghìn đô la. Bài viết mỉa mai rằng đây là một &#8220;món hời&#8221;, nơi các nhà nghiên cứu được quảng bá công trình, còn nhà xuất bản thì đạt biên lợi nhuận khổng lồ, sánh ngang các công ty công nghệ lớn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, các tác giả của bài phân tích bày tỏ mối lo ngại sâu sắc trước sự tăng trưởng chưa từng có của các bài báo học thuật, trong đó có cả những &#8220;bài báo vô nghĩa do AI tạo ra&#8221;. Trong một nghiên cứu trước đó, họ đã chỉ ra cách các nhà xuất bản theo mô hình &#8220;Truy cập Mở Vàng&#8221; (Gold Open Access) thúc đẩy sự tăng trưởng này. Trong số đó,&nbsp;<strong>MDPI</strong>&nbsp;được xác định là một ngoại lệ tiêu cực, trở thành tâm điểm của nhiều chỉ trích.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bài viết mô tả MDPI là một thực thể xuất bản gây tranh cãi, nổi tiếng với việc gửi email spam mời các nhà khoa học làm biên tập viên khách mời cho các &#8220;số báo đặc biệt&#8221; (special issues). Mô hình này bị cho là đã tạo điều kiện cho hành vi thao túng trích dẫn, dẫn đến quy trình bình duyệt (peer review) siêu nhanh và thiếu nghiêm ngặt, cùng với tỷ lệ tự trích dẫn và chỉ số ảnh hưởng (impact factor) bị thổi phồng. Hệ quả là sự ra đời của những bài báo có chất lượng học thuật đáng ngờ. Bài viết cũng nhắc đến trường hợp thương hiệu xuất bản Hindawi phải sụp đổ sau những bê bối tương tự như một lời cảnh báo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lập luận chính của bài phân tích là, thay vì nhìn vào những vấn đề của MDPI để chấn chỉnh ngành xuất bản, một trong những &#8220;ông lớn&#8221; của ngành là&nbsp;<strong>Springer Nature</strong>&nbsp;lại dường như đang đi theo con đường tương tự. Các tác giả bày tỏ sự thất vọng khi phát hiện ra rằng chuỗi tạp chí mới của Springer Nature có tên&nbsp;<strong>&#8220;Discover&#8221;</strong>&nbsp;đang cố tình và có hệ thống bắt chước mô hình kinh doanh của MDPI.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các tạp chí&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;quảng cáo rằng họ sẽ xuất bản mọi nghiên cứu một cách nhanh chóng, miễn là được các chuyên gia ngang hàng xác thực. Tuy nhiên, bài viết diễn giải lời quảng cáo này theo một cách khác: &#8220;chúng tôi sẽ xuất bản nhanh bất cứ thứ gì bạn gửi, miễn là nó có thể được gọi là &#8216;khoa học&#8217;, chỉ cần bạn trả tiền.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để chứng minh cho cáo buộc sao chép, các tác giả đã cung cấp bằng chứng cụ thể:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Sự tương đồng về tên gọi:</strong> Trong số 66 tạp chí <em>Discover</em>, 58 tạp chí có tên giống hệt hoặc gần giống đến mức khó phân biệt với các tạp chí đã có của MDPI (ví dụ: <em>Viruses</em> và <em>Viruses</em>; <em>Food</em> và <em>Foods</em>).</li>



<li><strong>Mô hình kinh doanh:</strong> Giống như MDPI, <em>Discover</em> cũng bắt đầu gửi email không mong muốn để mời các học giả làm chủ biên cho các &#8220;bộ sưu tập đặc biệt&#8221;. Các tác giả cho biết chính họ cũng đã nhận được một lời mời như vậy.</li>
</ul>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Hệ quả của mô hình này là gì?</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Theo bài viết, vấn đề này rất nghiêm trọng vì cuộc chạy đua xuất bản trong các số báo đặc biệt đã tạo ra một &#8220;làn sóng các công trình kém chất lượng&#8221;. Hơn nữa, trong khi MDPI ít nhất còn có sự minh bạch nhất định về tỷ lệ từ chối hay thời gian xử lý, chuỗi&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;lại thiếu sự minh bạch này, khiến việc giám sát và quy trách nhiệm trở nên khó khăn hơn. Điều này không chỉ làm vẩn đục các lĩnh vực nghiên cứu chân chính mà còn làm xói mòn lòng tin của công chúng vào khoa học.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bài phân tích cũng nhắc lại rằng Springer Nature từng có lịch sử ưu tiên số lượng hơn chất lượng với việc ra mắt tạp chí&nbsp;<em>Scientific Reports</em>, vốn đã vượt qua&nbsp;<em>PLOS One</em>&nbsp;để trở thành siêu tạp chí Truy cập Mở lớn nhất thế giới.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Một dự báo đáng lo ngại</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Bài viết đưa ra một dự đoán bi quan rằng mô hình của&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;sẽ thành công, bởi thương hiệu uy tín của Springer Nature sẽ là tấm lá chắn bảo vệ. Thực tế cho thấy chuỗi&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;đã tăng trưởng bùng nổ, từ 10 tạp chí năm 2020 lên 66 tạp chí vào tháng 6 năm 2025. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2025, họ đã xuất bản 4.739 bài báo, và các tác giả dự đoán con số này có khả năng sẽ tăng gấp đôi vào cuối năm. Tốc độ tăng trưởng chung của toàn hệ thống&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;trong giai đoạn 2023-2024 lên tới 324%.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hiện tại,&nbsp;<em>Discover</em>&nbsp;chưa quá phụ thuộc vào các Số báo Đặc biệt, nhưng các tác giả cảnh báo điều này có thể sớm thay đổi khi họ quan sát thấy sự gia tăng đột biến trong các email mời chào.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Lời kêu gọi hành động</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Bài viết kết thúc bằng một lời kêu gọi hành động, đề xuất các bước cụ thể mà cộng đồng nghiên cứu có thể thực hiện:</p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>Thứ nhất,</strong> các nhà khoa học được khuyến nghị nên suy nghĩ kỹ trước khi gửi công trình cho các nhà xuất bản vì lợi nhuận và nên ưu tiên các tạp chí của hiệp hội khoa học hoặc các tổ chức phi lợi nhuận.</li>



<li><strong>Thứ hai,</strong> bài viết kêu gọi cộng đồng phớt lờ mọi yêu cầu mời bình duyệt, mời làm biên tập viên khách mời từ các nhà xuất bản này để không tiếp tay cho mô hình kinh doanh của họ.</li>



<li><strong>Thứ ba,</strong> các tác giả đề xuất rằng các nhà nghiên cứu nên thông báo cho cấp quản lý và các nhà tài trợ về những thực trạng này, vì sự thay đổi thường chỉ xảy ra khi có áp lực từ phía những người cấp vốn.</li>



<li><strong>Cuối cùng,</strong> bài viết khuyến khích cộng đồng khoa học nhận thức về sự bất cập của ngành xuất bản vì lợi nhuận và tích cực thảo luận để tìm giải pháp.</li>
</ol>



<p class="wp-block-paragraph">Lời kêu gọi cuối cùng của bài viết là hãy ngừng rơi vào những cái bẫy cũ và ngừng lãng phí tiền bạc vào những tạp chí không cần thiết, góp phần bảo vệ sự liêm chính của khoa học.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Lược dịch từ <a href="https://the-strain-on-scientific-publishing.github.io/website/posts/discover_nature/?fbclid=IwY2xjawLHJ8pleHRuA2FlbQIxMABicmlkETFzWmpydGRMQ2NUY2dWR2ZJAR7JHH5DZ9ExRmBwSVPUyC9oZQo_hRbN7iHjUj1Z7Dr2lSBRcXYy4C63KleORQ_aem_2P5ASICnppwQOEkgZYZMlw">The Strain on Scientific Publishing</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1759465440"
	            data-title="Những trò lố hay là Springer Nature và MDPI" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/nhung-tro-lo-hay-la-springer-nature-va-mdpi/">Những trò lố hay là Springer Nature và MDPI</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/nhung-tro-lo-hay-la-springer-nature-va-mdpi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Các nhà xuất bản thử nghiệm trả phí cho chuyên gia phản biện &#8211; Kết quả ra sao?</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/cac-nha-xuat-ban-thu-nghiem-tra-phi-cho-chuyen-gia-phan-bien-ket-qua-ra-sao/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/cac-nha-xuat-ban-thu-nghiem-tra-phi-cho-chuyen-gia-phan-bien-ket-qua-ra-sao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 25 Sep 2025 03:17:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2675</guid>

					<description><![CDATA[<p>Gần đây, một loạt kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng mới cho cuộc tranh luận về việc liệu các chuyên gia phản biện (peer reviewer) có nên được trả tiền cho thời gian và chuyên môn của họ hay không. Đây là một chủ đề gây tranh cãi và đã dấy [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cac-nha-xuat-ban-thu-nghiem-tra-phi-cho-chuyen-gia-phan-bien-ket-qua-ra-sao/">Các nhà xuất bản thử nghiệm trả phí cho chuyên gia phản biện &#8211; Kết quả ra sao?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>Hai tạp chí khoa học đã triển khai việc trả công cho người phản biện và thu được những kết quả khác nhau.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết này được dịch bởi Gemini và chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="682" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19-1024x682.png" alt="" class="wp-image-2677" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19-1024x682.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19-300x200.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19-768x512.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19-1536x1023.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-19.png 1846w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/11474045/Money-money-money" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Money, money, money&#8230;</a> via Behance | CC BY-NC 4.0</em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Gần đây, một loạt kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng mới cho cuộc tranh luận về việc liệu các chuyên gia phản biện (peer reviewer) có nên được trả tiền cho thời gian và chuyên môn của họ hay không. Đây là một chủ đề gây tranh cãi và đã dấy lên nhiều cuộc thảo luận trong giới nghiên cứu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong tháng này, hai tạp chí khoa học đã công bố dữ liệu từ các thử nghiệm của riêng họ. Kết quả cho thấy việc đề nghị trả một khoản phí khoảng 250 USD cho các nhà nghiên cứu khi họ phản biện bản thảo giúp đẩy nhanh tiến độ mà không ảnh hưởng đến chất lượng bài phản biện. Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo rằng việc này có thể gây ra những hệ quả không mong muốn cho khoa học và ngành xuất bản.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Balazs Aczel, một nhà tâm lý học tại Đại học Eötvös Loránd ở Budapest, cho biết mặc dù cả hai thử nghiệm đều có quy mô nhỏ, nhưng chúng là một khởi đầu tốt để thu thập dữ liệu về việc trả phí cho bình duyệt. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng việc có nên trả tiền cho chuyên gia phản biện hay không vẫn là &#8220;một câu hỏi rất phức tạp&#8221;.</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Khen thưởng người phản biện</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Hệ thống bình duyệt (peer-review) đã phải chịu nhiều áp lực trong những năm gần đây khi ngày càng có nhiều công trình khoa học được xuất bản và các nhà khoa học phải đối mặt với nhiều áp lực về thời gian hơn. Các biên tập viên tạp chí hiện nay gặp khó khăn hơn trong việc tìm người phản biện, và một số nhà khoa học đã đặt câu hỏi về sự công bằng khi lao động tình nguyện của họ lại đang được một số công ty xuất bản siêu lợi nhuận tận dụng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ý tưởng trả tiền cho chuyên gia phản biện đã được thảo luận từ lâu, nhưng cho đến nay rất ít nhà xuất bản lựa chọn con đường này. Các tạp chí kinh tế học đã thử nghiệm ý tưởng này trong quá khứ, và một số tạp chí y khoa cũng trả tiền cho một số người phản biện nhất định. Những tạp chí khác thì áp dụng các hệ thống trả công độc đáo hơn: tạp chí truy cập mở quy mô lớn <em>PeerJ</em> sử dụng hệ thống &#8220;token&#8221; (một dạng tín chỉ/điểm thưởng) giúp người phản biện được giảm giá phí xuất bản, trong khi một tạp chí khác trả công cho người phản biện bằng một loại tiền mã hóa được phát triển riêng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một số nhà nghiên cứu lo ngại rằng việc đưa ra các khuyến khích bằng tiền mặt có thể làm giảm chất lượng bài phản biện hoặc thay đổi bối cảnh nghiên cứu theo những cách khác chưa lường trước được. Nhưng cho đến nay, vẫn còn thiếu bằng chứng xác thực về những lợi ích và hạn chế tiềm tàng của việc này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tò mò về tác động của việc trả phí, các biên tập viên tại tạp chí <em>Critical Care Medicine</em> đã khởi động một thử nghiệm kéo dài sáu tháng do David Maslove, một nhà khoa học lâm sàng tại Đại học Queen&#8217;s ở Kingston, Canada, dẫn đầu. Bắt đầu từ tháng 9 năm 2023, tạp chí đã mời 715 nhà nghiên cứu phản biện các bài báo. Khoảng một nửa trong số họ được đề nghị một khoản khuyến khích trị giá 250 USD.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết quả được công bố trên tạp chí vào đầu tháng này cho thấy việc trả phí giúp cải thiện ở mức độ vừa phải cả về số lượng lời mời được chấp nhận và tốc độ hoàn thành bài phản biện. Khoảng 53% nhà nghiên cứu đã chấp nhận lời mời khi được đề nghị trả tiền, so với 48% ở nhóm nhận lời mời thông thường không trả phí. Trung bình, các bài phản biện được trả phí được gửi về sớm hơn một ngày so với các bài không được trả phí. Các biên tập viên của tạp chí đã đánh giá và không tìm thấy sự khác biệt về chất lượng giữa hai nhóm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Maslove nói rằng tác động nhỏ này cho thấy tiền bạc có ảnh hưởng hạn chế trong việc thúc đẩy các chuyên gia phản biện thay đổi hành vi của họ. &#8220;Có thể họ còn có những giá trị khác, chẳng hạn như ý thức trách nhiệm, sự trung thành hay nghĩa vụ cống hiến cho xã hội.&#8221;</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>Lợi thế về tốc độ</strong></h2>



<p class="wp-block-paragraph">Một thử nghiệm riêng biệt tại tạp chí <em>Biology Open</em> đã cho thấy một hiệu quả lớn hơn, mặc dù với số lượng người phản biện ít hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong sáu tháng bắt đầu từ tháng 7 năm 2024, các biên tập viên phụ trách hai trong số mười lĩnh vực của tạp chí đã coi người phản biện như các cộng tác viên được trả phí theo hai hình thức. Người phản biện có thể được đề nghị một khoản phí cố định 600 Bảng Anh (776 USD) để phản biện tối đa ba bài mỗi quý, hoặc được trả 220 Bảng Anh cho mỗi bài phản biện. Theo cơ chế này, các biên tập viên sẽ gửi lời mời và người phản biện phải chấp nhận hoặc từ chối trong vòng một ngày làm việc. Sau khi chấp nhận, họ có bốn ngày để nộp báo cáo phản biện. Tổng cộng có 20 bản thảo đã được phản biện theo cách này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo kết quả được đăng tải trên máy chủ bioRxiv tháng này, các bài phản biện được trả phí được gửi về tạp chí nhanh hơn nhiều so với các bài không được trả phí. Thời gian hoàn thành trung bình cho các báo cáo được trả phí là 4,6 ngày làm việc, so với 38 ngày đối với các báo cáo không tham gia thử nghiệm. Các biên tập viên không tìm thấy sự khác biệt về chất lượng giữa hai nhóm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Alejandra Clark, biên tập viên quản lý của tạp chí, cho biết: &#8220;Đối với các biên tập viên, điều này cực kỳ hữu ích vì trước đây, ở một số lĩnh vực, việc tìm được người phản biện rất khó khăn.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thử nghiệm của <em>Biology Open</em> đã thành công đến nỗi tạp chí này hiện đang mở rộng hệ thống ra tất cả các lĩnh vực mà tạp chí bao quát. Clarke cho biết tạp chí đã sử dụng nguồn kinh phí tự chủ từ tổ chức mẹ cho dự án và sẽ tiếp tục cho đến cuối năm 2025. Đến thời điểm đó, cô hy vọng sẽ thu thập thêm dữ liệu và xem xét cách duy trì chính sách này nếu nó tiếp tục.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Clarke nói thêm, việc duy trì chính sách này về lâu dài có thể đồng nghĩa với việc tăng phí xử lý bài báo (article processing charge) tại <em>Biology Open</em>, hiện đang là 2.200 USD. Ý tưởng tăng chi phí xuất bản hoặc phí thuê bao để tài trợ cho việc trả phí phản biện không được Aczel đồng tình. Ông nói rằng nhiều tổ chức đã phải vật lộn để chi trả các khoản phí này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cả hai nghiên cứu đều không khám phá xem việc trả tiền có thể thay đổi các khía cạnh khác trong hành vi của người phản biện như thế nào. Ông nói thêm, một hệ thống trả phí có thể khuyến khích các nhà nghiên cứu tối đa hóa số lượng bài họ phản biện, điều này có thể dẫn đến sự sụt giảm về chất lượng báo cáo và làm giảm thời gian họ dành cho nghiên cứu của chính mình.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><em>Dịch từ <a href="https://www.nature.com/articles/d41586-025-00968-6">Nature</a></em></p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1758795469"
	            data-title="Các nhà xuất bản thử nghiệm trả phí cho chuyên gia phản biện &#8211; Kết quả ra sao?" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/cac-nha-xuat-ban-thu-nghiem-tra-phi-cho-chuyen-gia-phan-bien-ket-qua-ra-sao/">Các nhà xuất bản thử nghiệm trả phí cho chuyên gia phản biện &#8211; Kết quả ra sao?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/cac-nha-xuat-ban-thu-nghiem-tra-phi-cho-chuyen-gia-phan-bien-ket-qua-ra-sao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tại sao các nhà khoa học đang tìm đến Substack</title>
		<link>https://adubiz.edu.vn/tai-sao-cac-nha-khoa-hoc-dang-tim-den-substack/</link>
					<comments>https://adubiz.edu.vn/tai-sao-cac-nha-khoa-hoc-dang-tim-den-substack/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Nguyễn Quang Ai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 11 Sep 2025 07:48:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chuyện nghề]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới xuất bản]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://adubiz.edu.vn/?p=2633</guid>

					<description><![CDATA[<p>Giống như nhiều nhà dịch tễ học trong đại dịch COVID-19, Katelyn Jetelina đã tìm đến mạng xã hội để giúp mọi người cập nhật thông tin. Đó là vào mùa xuân năm 2020, và Jetelina, khi đó đang làm việc tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học Texas ở Houston, thường xuyên [&#8230;]</p>
<p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tai-sao-cac-nha-khoa-hoc-dang-tim-den-substack/">Tại sao các nhà khoa học đang tìm đến Substack</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<p class="wp-block-paragraph"><em>Một thế hệ các nhà nghiên cứu mới đang sử dụng nền tảng này để xây dựng lượng độc giả và kiếm tiền từ kiến thức của mình.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Lưu ý</strong>: Bài viết này được dịch bởi Gemini mà chưa thông qua khâu hiệu đính</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="480" src="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8-1024x480.png" alt="" class="wp-image-2634" srcset="https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8-1024x480.png 1024w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8-300x141.png 300w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8-768x360.png 768w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8-1536x720.png 1536w, https://adubiz.edu.vn/wp-content/uploads/2025/09/image-8.png 1920w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Ảnh: <a href="https://www.behance.net/gallery/63334801/Illustrations-for-Yotpos-new-blog" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Illustrations for Yotpo&#8217;s new blog</a> via Behance | CC BY-NC-ND 4.0</em></figcaption></figure>
</blockquote>



<p class="wp-block-paragraph">Giống như nhiều nhà dịch tễ học trong đại dịch COVID-19, Katelyn Jetelina đã tìm đến mạng xã hội để giúp mọi người cập nhật thông tin. Đó là vào mùa xuân năm 2020, và Jetelina, khi đó đang làm việc tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học Texas ở Houston, thường xuyên đăng tải nội dung về sự lây truyền của vi-rút và vắc-xin lên các trang Facebook và Instagram của mình. Điều đó kéo dài cho đến khi, cô bị hack.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vào tháng 2 năm 2021, một nhóm các nhà hoạt động chống vắc-xin đã tìm được cách xâm nhập vào cả hai tài khoản, sử dụng nền tảng của cô để đăng tải và quảng bá một luận điệu khác. Họ thậm chí còn yêu cầu những người theo dõi cô tải lên thẻ tiêm chủng COVID-19 của họ để có cơ hội giành được 1.000 đô la Mỹ, nhằm mục đích thu thập thông tin cá nhân. Chính tại thời điểm này, Jetelina quyết định rằng cô phải thay đổi. “Điều đó thật đau lòng đối với tôi: Tôi đã mất tất cả nội dung của mình, và tất cả máu, mồ hôi và nước mắt mà tôi đã đổ vào đó,” cô nhớ lại. “Tôi quyết định chuyển sang một nền tảng nơi tôi có nhiều quyền sở hữu hơn.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lựa chọn hiển nhiên nhất đối với cô là Substack, một nền tảng viết lách và gửi email độc lập. Nền tảng này được ca ngợi vì các tính năng bản tin (newsletter) — gửi bài đăng vào hộp thư của người đăng ký — nhưng nội dung cũng có sẵn trên trang web, giống như một blog thông thường. Một tính năng mà cô đặc biệt thích, dựa trên những trải nghiệm trong quá khứ, là dữ liệu của cô có thể chuyển giao được: nếu bạn quyết định rời đi, hoặc phải rời đi, bạn có thể mang theo danh sách email của người đăng ký. Vào ngày 8 tháng 2 năm 2021, Jetelina bắt đầu dành nhiều tâm huyết hơn cho ấn phẩm Substack của mình, mà cô gọi là <em>Your Local Epidemiologist</em> (Nhà dịch tễ học địa phương của bạn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mặc dù cuối cùng cô đã lấy lại được quyền kiểm soát các tài khoản mạng xã hội của mình, và đội ngũ của cô vẫn đăng tải đồ họa thông tin và video ở đó, Jetelina cho biết Substack cho phép cô kết nối với những người theo dõi theo một cách khác. Như cô giải thích, nền tảng bản tin qua email thuận lợi hơn cho các cuộc thảo luận dài hơi và sâu sắc hơn, điều không phải lúc nào cũng thực hiện được trên các dạng mạng xã hội khác. Độc giả đăng ký theo dõi riêng cô, và nội dung được gửi thẳng đến hộp thư của họ, giúp thúc đẩy các tương tác thân mật và gắn kết hơn. Cô nói rằng cô đã dần hiểu rõ các độc giả của mình. “Giờ đây tôi có thể có một mối quan hệ hai chiều với khán giả, tương tác với họ qua các mục bình luận và trò chuyện.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong vài năm qua, bản tin này đã thu hút được một lượng lớn người theo dõi và hiện có hơn 400.000 người đăng ký. Thứ từng là một chương trình do một người thực hiện giờ đây được điều hành bởi một đội ngũ gồm các biên tập viên bản thảo, người sáng tạo nội dung mạng xã hội, trợ lý hành chính và các cộng tác viên khác. Cô cho biết, đây cũng là công việc chính của Jetelina hiện tại. Và khi tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng của đại dịch đã “lùi vào dĩ vãng”, nội dung của cô cũng phải thay đổi. Giờ đây, Jetelina đặt mục tiêu cho cộng đồng thấy rằng y tế công cộng không chỉ giới hạn ở đại dịch và các bệnh truyền nhiễm, và cô viết về các chủ đề như sức khỏe sinh sản, bạo lực súng đạn và sức khỏe tâm thần. “Tôi đang thực sự cố gắng tập trung vào việc trang bị cho mọi người những công cụ để sống một cuộc sống dựa trên bằng chứng,” cô nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Được thành lập vào năm 2017, Substack nhằm mục đích cung cấp một nền tảng cho các cây bút độc lập, và tạo ra một phương tiện để họ kiếm tiền từ tác phẩm của mình thông qua các tường phí (paywall) và quyên góp. Nền tảng này đã phát triển nhanh chóng và hiện có hàng chục triệu người đăng ký, và hơn năm triệu người đăng ký trả phí. Nền tảng này cũng đã huy động được 100 triệu đô la để mở rộng hoạt động, mang lại cho công ty giá trị 1,1 tỷ đô la. Và nó không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học: nhiều học giả khác, cũng như các nhà báo và thậm chí cả tiểu thuyết gia, đã xây dựng được một cộng đồng trên nền tảng này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Substack là ngôi nhà của ngày càng nhiều học giả và nhà nghiên cứu đáng kính, những người sử dụng nền tảng này để chia sẻ công trình dựa trên bằng chứng trực tiếp với công chúng,” một phát ngôn viên nói với tờ <em>Nature</em>. “Đối với nhiều người, đó là một cách để tiếp cận mọi người nhanh hơn và cởi mở hơn, trong khi vẫn duy trì được chiều sâu và sự nghiêm ngặt.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không phải nhà khoa học nào cũng có lượng người theo dõi lớn như của <em>Your Local Epidemiologist</em>, vốn đang xếp hạng nhất trong danh sách các bản tin khoa học trả phí trên Substack. Nhưng các học giả và nhà khoa học khác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã bị thu hút bởi nền tảng này như một cách để quảng bá nghiên cứu và kết nối với công chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy nhiên, trang web này cũng có những nhược điểm của nó. Có thể mất một thời gian để xây dựng lượng người theo dõi, và việc kiếm lợi nhuận có thể là một công việc khó khăn. Không chỉ vậy, nhiều bản tin hàng đầu của nền tảng về khoa học và chính trị-sức khỏe còn cổ súy cho hệ tư tưởng chống vắc-xin hoặc khoa học ngụy tạo. “Ở trên Substack giống như miền Tây hoang dã vậy, nhưng hiện tại thì bất kỳ nền tảng mạng xã hội nào cũng thế,” Jetelina nói. (Một phát ngôn viên của Substack cho biết sẽ là không chính xác nếu mô tả “phần lớn” các cây bút khoa học hàng đầu là chống vắc-xin.)</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Tạo dựng chỗ đứng</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Substack và các dịch vụ nội dung dựa trên đăng ký khác — chẳng hạn như Ghost, Mailchimp, Patreon, Beehiiv và Medium — tự quảng bá là hiệu quả hơn trong việc tiếp cận mọi người so với mạng xã hội thông thường. Điều này được chứng thực một phần bởi dữ liệu tiếp thị. Theo Mailchimp, một nền tảng tiếp thị qua email của Hoa Kỳ, khoảng 35% người dùng mở email từ các công ty trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; đối với các ngành khác, tỷ lệ này là 30–40%. Trong một chuỗi thảo luận gần đây trên Substack, các cây bút đã chia sẻ tỷ lệ người đăng ký mở bản tin của họ, và con số này dao động từ 30% đến 70%.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kimberly Nicholas, một nhà nghiên cứu về bền vững tại Đại học Lund, Thụy Điển, người có ấn phẩm Substack <em>We Can Fix It</em> (Chúng ta có thể giải quyết) tiếp cận cuộc khủng hoảng khí hậu “bằng sự thật, cảm xúc, và hành động”, cho biết các bản tin email của cô được nhấp và mở nhiều hơn các bài đăng trên mạng xã hội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trang web này cũng giúp thúc đẩy một môi trường gắn kết cộng đồng. Đối với Jonathan Tonkin, một nhà sinh thái học tại Đại học Canterbury ở New Zealand, nền tảng mạng xã hội X “là một công cụ thực sự hữu ích để các nhà khoa học giao tiếp với các nhà khoa học khác, nhưng xét về việc tiếp cận công chúng thì thành thật mà nói là nó đã không làm được”. Hiện Tonkin là tác giả của một ấn phẩm Substack có tên là <em>Predirections</em>. “Tôi nghĩ nó rất tốt cho việc tiếp cận những người quan tâm đến khoa học nhưng không phải là nhà khoa học,” ông nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo Similarweb, một trang web phân tích lưu lượng truy cập, đối tượng độc giả của Substack được phân chia khá đồng đều giữa nam và nữ. Nền tảng này hơi nghiêng về độc giả trẻ tuổi hơn: nhóm lớn nhất là những người trong độ tuổi 25–34. Người dùng cũng có xu hướng ở Hoa Kỳ, với khoảng 62% lưu lượng truy cập đến từ đó vào tháng 7 năm 2025.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Các chủ đề khoa học rất phức tạp và tinh vi, việc cố gắng cô đọng nó trong 140 ký tự không hiệu quả lắm, hoặc khiến mọi người bối rối,” Hannah Ritchie, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Oxford, Vương quốc Anh, cho biết thêm. Ấn phẩm Substack của Ritchie, <em>Sustainability by Numbers</em> (Sự bền vững qua những con số), xem xét các con đường tiềm năng dẫn đến sự bền vững qua lăng kính dựa trên bằng chứng. Việc soạn một email, cô nói, “cho các nhà khoa học thêm một chút không gian để mô tả những sắc thái phức tạp”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Rồi còn có tiềm năng kiếm tiền. Hầu hết các nhà khoa học mà <em>Nature</em> trao đổi đều nhấn mạnh rằng nội dung của họ là miễn phí, nhưng trang web này cho phép các cây bút thiết lập tường phí (paywall). Theo Jetelina, 7% người đăng ký của cô trả tiền cho nội dung. Mặc dù nền tảng có lấy một phần hoa hồng, cô đã có thể tạo ra đủ doanh thu để nghỉ công việc toàn thời gian và tập trung chủ yếu vào bản tin. (Jetelina không muốn chia sẻ thu nhập của mình với <em>Nature</em>, nhưng vào năm 2022, tạp chí hàng tháng <em>Vanity Fair</em> đã đưa tin rằng cô kiếm được khoảng 300.000 đô la trong chín tháng đầu tiên của ấn phẩm).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các nhà khoa học cũng nhấn mạnh rằng Substack mang lại nhiều tự do hơn so với các phương thức xuất bản khoa học khác — ví dụ, trên các tạp chí khoa học, hoặc qua các bài viết với tư cách khách mời cho các ấn phẩm trực tuyến như <em>The Conversation</em>. Như Ritchie giải thích, thường có một quy trình biên tập kéo dài trong các hệ thống chính thức hơn này, và các cây bút có thể bị ràng buộc bởi các yêu cầu của ấn phẩm. “Khung thời gian bị kéo dài ra rất nhiều so với những gì bạn có thể làm trên Substack, nơi bạn có thể có lượng độc giả của riêng mình: bạn có thể nói những gì bạn muốn, khi bạn muốn nói điều đó.”</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Tranh cãi về chống khoa học</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Substack, với tư cách là một nền tảng, cũng có không ít tranh cãi. Một báo cáo năm 2022 từ Trung tâm Chống Thù ghét Kỹ thuật số (Center for Countering Digital Hate) cho thấy nền tảng này đã tạo ra doanh thu 2,5 triệu đô la từ các bản tin chống vắc-xin (nền tảng lấy 10% hoa hồng từ doanh thu đó). Năm sau đó, trang web này đã bị chỉ trích vì cho phép xuất bản các bản tin của Đức Quốc xã và những người theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một số người dùng nổi tiếng đã rời khỏi trang web vì sự thiếu kiểm duyệt này, lựa chọn các nền tảng bản tin email thay thế hoặc viết blog trên trang web của riêng họ. Mặc dù công ty đã tuyên bố rằng họ đã siết chặt nội dung phát-xít, vẫn có những kẻ troll và những người cổ súy chống khoa học sử dụng nền tảng này để lan truyền thông tin sai lệch. “Việc có một trang Substack mang lại cho nhiều người một nền tảng lớn hơn, và cùng với đó họ có thể chia sẻ những thứ không được nghiên cứu kỹ lưỡng hoặc mang tính phản khoa học, nhưng nó lại cho họ một mức độ uy tín nhất định vì họ đang xuất bản nó trên Substack,” Ritchie nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một phát ngôn viên của nền tảng đã nhấn mạnh cam kết của họ đối với tự do báo chí và tự do ngôn luận. “Chúng tôi ủng hộ sự tự do biên tập và sự kiểm duyệt của cộng đồng, nơi các nhà xuất bản tự đặt ra các điều khoản tương tác cho cộng đồng của họ, và độc giả lựa chọn cộng đồng nào phù hợp với mình,” họ nói. “Điều này có nghĩa là những người sử dụng nền tảng sẽ tự đặt ra các quy tắc cho không gian riêng của họ trên Internet.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">Elisabeth Marnik, một nhà truyền thông khoa học điều hành bản tin Substack có tên <em>From the Science Classroom</em> (Từ lớp học khoa học), lưu ý rằng việc ở lại trên các nền tảng này để chống lại thông tin sai lệch là rất quan trọng. “Tôi cảm thấy có trách nhiệm phải giải quyết thông tin sai lệch đó, nhưng tôi muốn làm điều đó với sự đồng cảm và nỗ lực xây dựng mối quan hệ với mọi người,” cô giải thích. Rời khỏi nền tảng “bởi vì chúng ta không muốn ở đó” không có nghĩa là những người dùng đang lan truyền thông tin sai lệch và dối trá cũng sẽ bỏ cuộc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một nhược điểm khác của Substack là quy trình tạo bản tin tốn nhiều thời gian. Mặc dù Jetelina đã có thể kiếm tiền từ nền tảng của mình đủ để từ bỏ các công việc khác, những người khác lại không thể xây dựng được nền tảng của họ ở mức độ tương tự. Và truyền thông khoa học thường không được xem là một trách nhiệm cốt lõi của các nhà nghiên cứu: “Các trường đại học vốn đã xem nhẹ công tác tiếp cận cộng đồng, truyền thông và tạo ảnh hưởng,” Nicholas nói. “Mọi người gần như bị mặc định là sẽ làm việc đó trong thời gian rảnh, hoặc tự trả chi phí bằng lương hoặc các khoản tài trợ của chính mình.”</p>



<p class="wp-block-paragraph">“Phần thử thách nhất của Substack là sự tăng trưởng,” Aaron Price, giám đốc giáo dục tại Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ, cho biết. Bởi vì có nhiều thông tin sai lệch hơn bao giờ hết, “có ngày càng nhiều thứ ngoài kia mà bạn phải nỗ lực để trở nên nổi bật,” Price, người điều hành bản tin Substack <em>Weather With a Twist</em> (Thời tiết biến tấu) thay mặt cho hiệp hội, nói.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tonkin lưu ý rằng ba phần tư số người đăng ký của ông đến từ Hoa Kỳ, và hầu hết số còn lại ở Vương quốc Anh, New Zealand hoặc Úc. “Đó là một nhóm độc giả rất Tây phương, và tôi đang cố gắng tìm cách mở rộng ra khỏi phạm vi đó một chút, điều mà tôi nghĩ sẽ cần thời gian,” ông nói.</p>
<div class="gsp_post_data" 
	            data-post_type="post" 
	            data-cat="chuyen-nghe,the-gioi-xuat-ban" 
	            data-modified="120"
	            data-created="1757602082"
	            data-title="Tại sao các nhà khoa học đang tìm đến Substack" 
	            data-home="https://adubiz.edu.vn"></div><p>Bài viết <a href="https://adubiz.edu.vn/tai-sao-cac-nha-khoa-hoc-dang-tim-den-substack/">Tại sao các nhà khoa học đang tìm đến Substack</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://adubiz.edu.vn">ADuBiz</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://adubiz.edu.vn/tai-sao-cac-nha-khoa-hoc-dang-tim-den-substack/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
