Đưa liêm chính khoa học vào luật là một chuyện, vận hành lại là chuyện khác

Ảnh:Money and More via Behance | CC BY-NC 4.0

Năm 2025, lần đầu tiên Việt Nam có một định nghĩa pháp lý chính thức cho liêm chính khoa học. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, tức Luật số 93/2025/QH15, được Quốc hội thông qua hồi tháng 6 và có hiệu lực từ tháng 10, dành riêng một điều khoản cho liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp. Ngay sau đó, Nghị định 262/2025/NĐ-CP làm thêm một việc mà giới nghiên cứu mong đợi đã lâu, là gọi tên cụ thể những hành vi bị coi là vi phạm, gồm ngụy tạo dữ liệu, đạo văn, che giấu xung đột lợi ích, ghi tên tác giả không đúng thực tế. Sau hơn một thập niên mà chuyện liêm chính chủ yếu chỉ được bàn trên mặt báo và trong các hội thảo, đây là một bước tiến đáng ghi nhận.

Nhưng luật mới chỉ là khung. Phần khó hơn nằm ở chỗ khung đó sẽ được vận hành như thế nào, và ở đây có một lựa chọn về thiết chế đáng được nói đến kỹ hơn. Luật số 93 đi theo hướng hậu kiểm và trao quyền tự chủ mạnh hơn cho các tổ chức. Trên thực tế, việc xử lý vi phạm được giao chủ yếu cho chính các cơ sở. Nghị định 262 quy định cơ sở tự xác minh khi có dấu hiệu vi phạm, tự lập hội đồng tư vấn, tự làm việc với các bên và tự ra kết luận. Nghị định 263 thì yêu cầu các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự xây dựng cơ chế tự kiểm soát, bố trí bộ phận phụ trách, rồi hằng năm tự báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên. Nói gọn lại, mô hình mà Việt Nam chọn là tự quản: nơi nào tiến hành nghiên cứu thì nơi đó chịu trách nhiệm điều tra và phân xử.

Mô hình này có lý lẽ riêng của nó. Cơ sở là nơi gần sự việc nhất, hiểu rõ bối cảnh chuyên môn nhất, và việc trao quyền tự chủ đi kèm tự chịu trách nhiệm là một xu hướng quản trị hợp lý. Câu hỏi không phải là mô hình này đúng hay sai, mà là liệu chỉ riêng nó đã đủ chưa?

Một nghiên cứu gần đây ở Úc cho thấy câu hỏi này không hề dễ trả lời

Đầu tháng 5 năm 2026, hai nhà nghiên cứu Jason M. Chin và Rebekah McWhirter thuộc Đại học Quốc gia Úc công bố một bài trên tạp chí Accountability in Research, xem xét chính cái mô hình tự quản đó đang vận hành ra sao tại Úc. Đây là một trường hợp đáng để tham khảo, bởi Úc có nền nghiên cứu trưởng thành hơn Việt Nam khá nhiều, và cũng đang đi theo hướng tự quản.

Úc có một bộ Quy tắc ứng xử trong nghiên cứu, có Hướng dẫn điều tra đi kèm, và có một ủy ban tư vấn tên là ARIC. Tuy vậy, ARIC chỉ rà soát quy trình chứ không xem xét nội dung vụ việc, mỗi năm tiếp nhận khoảng mười trường hợp, và báo cáo thường niên của nó đã rút ngắn dần, gần đây chỉ còn khoảng hai trang. Điều hai tác giả làm là đọc thẳng các chính sách xử lý sai phạm của tám trường đại học nghiên cứu hàng đầu nước Úc, rồi đối chiếu với những phán quyết đã công bố của tòa án lao động và tòa án liên bang.

Kết quả của họ đáng để suy nghĩ. Phần lớn các trường dùng ngôn ngữ có tính tùy nghi, kiểu có thể hoặc nên, thay vì ngôn ngữ mang tính bắt buộc, kiểu phải hoặc sẽ, cho đúng hai việc quan trọng nhất, là báo cáo kết luận điều tra ra bên ngoài và đính chính công khai hồ sơ khoa học khi sai sót đã ảnh hưởng tới độ tin cậy của công trình. Một số trường gần như không nói gì về việc đính chính. Hệ quả, theo phân tích của hai tác giả, là việc một sai sót trong tài liệu khoa học có được sửa hay không nhiều khi tùy thuộc vào chuyện công trình đó được thực hiện ở trường nào. Các vụ việc đưa ra tòa còn cho thấy có trường hợp quy trình điều tra không được tuân thủ đầy đủ, hoặc bị giới hạn phạm vi, hoặc mâu thuẫn nội bộ tới mức phải làm lại. Từ đó, Chin và McWhirter cho rằng lập luận coi tự quản là đủ chưa có đủ chứng cứ ủng hộ, và họ đề xuất bổ sung một cơ quan giám sát độc lập, đi kèm ngôn ngữ quy định rõ ràng và mang tính bắt buộc hơn.

Đây là kết luận về nước Úc, và cần thận trọng khi đặt nó sang một bối cảnh khác. Nhưng những điểm yếu mà nghiên cứu này chỉ ra, về tính bắt buộc của việc báo cáo và đính chính, và về sự thiếu vắng một thiết chế giám sát độc lập, lại trùng với khá nhiều điều đã được nói đến ở Việt Nam.

Những gì đã được ghi nhận trong nước

Thực trạng liêm chính khoa học ở Việt Nam không phải là chuyện mới, và cũng không thiếu tư liệu. Báo chí và giới nghiên cứu đã mô tả nó khá nhiều trong vài năm gần đây.

Phần gốc của vấn đề nằm ở cơ chế khuyến khích. Khi một bài báo quốc tế có thể quy đổi trực tiếp ra một khoản thưởng đáng kể, trong khi cơ chế kiểm soát chất lượng còn mỏng, thì áp lực chạy theo số lượng là có thật. Một số phân tích trên báo chí trong nước đã chỉ ra tình trạng giảng viên thuộc trường này nhưng ghi địa chỉ trường khác trong công bố để hưởng mức thưởng cao hơn, và xa hơn nữa là việc một số cơ sở chi tiền để có thêm bài báo gắn địa chỉ của mình, nhằm cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng. Bên cạnh đó là hiện tượng mua bán bài báo, với những hình thức đã được mô tả tương đối cụ thể, từ việc vẫn giữ tên mình và ghi thêm địa chỉ nơi mua bài, cho tới việc đứng tên hoàn toàn một công trình do người khác viết.

Quy mô của vấn đề thì khó đo chính xác, nhưng có vài chỉ dấu. Một nghiên cứu của nhà khoa học làm việc tại Đại học Tự do Berlin từng xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia có nhiều bài mua từ một cơ sở chuyên sản xuất bài báo kém chất lượng ở Nga. Về số bài bị các tạp chí gỡ bỏ, theo tổng hợp được báo chí dẫn lại, từ năm 2011 đến cuối năm 2025 Việt Nam có hàng trăm bài bị rút hoặc gắn cảnh báo, và xu hướng này được ghi nhận là đang tăng.

Ở cấp độ vụ việc cụ thể, gần như năm nào cũng có. Đã có trường hợp ứng viên phó giáo sư bị nêu vấn đề vì không kê khai một bài báo đã bị gỡ trong hồ sơ xét chức danh. Đã có trường hợp một bài báo bị nhà xuất bản nước ngoài gỡ, kéo theo tranh luận về thành phần đứng tên tác giả. Đầu năm 2026, các nghi vấn về liêm chính tiếp tục được nêu quanh một cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh, khi có ý kiến cho rằng nội dung dự thi trùng lặp đáng kể với công trình của những người khác. Cần nói rõ, các vụ việc này ở những thời điểm khác nhau có thể chưa có kết luận cuối cùng, và việc một bài báo bị gỡ không tự động đồng nghĩa với gian lận. Điều đáng chú ý ở đây không phải là phán xét từng trường hợp, mà là một đặc điểm chung: phần lớn những vụ việc này được biết đến nhờ báo chí hoặc phản ánh từ cộng đồng, chứ không phải nhờ một quy trình báo cáo công khai mang tính hệ thống.

Việt Nam đang đứng ở đâu

Đặt cạnh nghiên cứu từ Úc, có thể thấy vị trí của Việt Nam tương đối rõ.

Về việc định danh hành vi vi phạm, Nghị định 262 đã làm được, và đó là bước tiến không thể phủ nhận. Nhưng ở hai điểm mà nghiên cứu của Úc cho là quan trọng nhất, tức là tính bắt buộc trong báo cáo và đính chính, cùng với sự giám sát độc lập, thì Việt Nam đang ở vị trí tương tự nước Úc, thậm chí đi sau vài bước. Hiện đã có cơ chế tự kiểm soát và báo cáo nội bộ gửi lên cấp trên, nhưng chưa có chế độ báo cáo công khai ra xã hội, chưa có một kênh chuẩn để tra cứu các kết luận đã được ẩn danh, và chưa có một địa chỉ độc lập tiếp nhận phản ánh một cách thường xuyên.

Đây cũng không phải là nhận xét chủ quan từ tác giả. Chính trên cổng thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ, vào tháng 10 năm 2025, đã có bài viết thừa nhận rằng nước ta chưa có một cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện liêm chính khoa học, và nêu hướng rằng trong thời gian tới Việt Nam nên xem xét xây dựng một trung tâm liêm chính khoa học quốc gia cùng một cơ chế chung.

Sự thiếu vắng một đầu mối thường trực cũng được phản ánh ở chỗ khác. Đã có ý kiến từ trong giới cho rằng đơn thư phản ánh hiện vẫn dồn về Hội đồng Giáo sư Nhà nước vào mỗi mùa xét chức danh, một phần vì quanh năm người muốn phản ánh không rõ nên gửi tới đâu, và nếu có một văn phòng chuyên trách hoạt động thường xuyên thì áp lực dồn vào một vài cơ quan cụ thể sẽ giảm bớt. Khi người muốn nêu vấn đề không biết gõ cửa nào, còn việc phân xử lại đặt phần lớn vào chính nơi liên quan, thì khả năng nhiều vụ việc không được xử lý đến nơi đến chốn là điều cần được tính tới.

Một số đề xuất từ một nhà nghiên cứu trẻ

Từ những gì đã nêu, có thể rút ra vài hướng để bàn thêm, không phải như giải pháp dứt khoát, mà như những lựa chọn đáng được cân nhắc nghiêm túc.

Thứ nhất là một thiết chế độc lập ở cấp quốc gia, đúng theo hướng mà chính Bộ Khoa học và Công nghệ đã gợi mở. Một cơ quan như vậy, nếu có chuyên môn và có thẩm quyền xem xét cả quy trình lẫn nội dung, có thể bổ sung hai thứ mà mô hình tự quản thuần túy khó tự bảo đảm, là sự nhất quán giữa các cơ sở và sự minh bạch với bên ngoài. Kinh nghiệm quốc tế có cả mặt thuận lẫn mặt cần thận trọng, từ mô hình hội đồng quốc gia ở một số nước, cho tới những bài học về việc một cơ quan như vậy có thể chịu sức ép ra sao, nên việc tham khảo cần đi kèm cân nhắc bối cảnh.

Thứ hai là ngôn ngữ của các quy định. Ở những điểm then chốt, đặc biệt là khi một sai phạm đã ảnh hưởng tới độ chính xác của hồ sơ khoa học, việc đính chính và thông báo cho các bên liên quan, trong đó có tạp chí và nhà xuất bản, có thể được quy định theo hướng là nghĩa vụ chứ không chỉ là một lựa chọn tùy nghi. Một cách tiếp cận là đặt ra nguyên tắc mặc định, rằng phải báo cáo và đính chính, trừ khi có lý do chính đáng được nêu rõ bằng văn bản.

Thứ ba là minh bạch ở mức độ vừa phải nhưng đều đặn. Báo cáo liêm chính thường niên có thể được công khai ở cấp cơ sở, và có thể tính tới một cơ chế chuẩn để tiếp cận các kết luận đã được ẩn danh, phục vụ cho nghiên cứu và phòng ngừa, thay vì để thông tin chỉ dừng ở các kênh nội bộ.

Thứ tư, và có lẽ là gốc rễ, là cơ chế đánh giá và khuyến khích. Chừng nào một công bố còn được quy đổi quá trực tiếp thành tiền thưởng và thành tích, chừng đó áp lực tạo ra các hành vi lệch chuẩn vẫn còn, và không một nghị định nào xử lý được phần gốc này nếu cơ chế đánh giá không thay đổi.

Liêm chính, không phải đấu tố

Cũng cần nói rõ một điều, để cuộc thảo luận không nghiêng hẳn về một phía. Mục tiêu của một hệ thống liêm chính tốt là khả năng tự phát hiện và tự sửa sai, chứ không phải là tạo ra một bầu không khí quy kết. Không phải bài báo nào bị gỡ cũng là gian lận, và có những trường hợp xuất phát từ lỗi khách quan hoặc từ phía thứ ba. Quyền được bảo vệ và quy trình công bằng dành cho người bị nêu tên quan trọng không kém việc sửa chữa hồ sơ khoa học. Trên thực tế, chính những vụ việc mà nghiên cứu của Chin và McWhirter (2026) dẫn ra cũng cho thấy mặt còn lại của vấn đề, là các cuộc điều tra thiếu chặt chẽ có thể gây thiệt thòi cho người trong cuộc. Một thiết chế độc lập và có chuyên môn, nếu được thiết kế tốt, đáng quan tâm chính vì nó có thể phục vụ cả hai mục tiêu cùng lúc, vừa nghiêm túc với sai phạm thực sự, vừa công bằng với những trường hợp bị nêu vấn đề mà chưa có cơ sở.

Việt Nam đã đi được bước đầu, là đưa liêm chính khoa học vào luật. Bước tiếp theo, khó hơn, là làm cho các quy định đó vận hành được trên thực tế. Nghiên cứu từ Úc không phải là một khuôn mẫu để sao chép, nhưng nó là bài học từ một nước anh em: nếu việc báo cáo và đính chính được để cho sự tùy nghi của từng cơ sở, thì kết quả thu được nhiều khả năng cũng sẽ chỉ mang tính tùy nghi. Bàn về phần còn thiếu ngay từ bây giờ vẫn tốt hơn là nhận ra sự thiếu vắng đó qua từng vụ việc.

Tài liệu tham khảo

Báo Công an nhân dân. (2025, ngày 11 tháng 12). Giải pháp nào để ngăn ngừa tình trạng bài báo khoa học bị rút?

Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025, ngày 19 tháng 10). Kiến tạo môi trường minh bạch cho hoạt động khoa học.

Chin, J. M., & McWhirter, R. (2026). New evidence of weakness and inconsistency in the regulation of research misconduct in Australia. Accountability in Research.

Chính phủ. (2025a). Nghị định số 262/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số và các vấn đề chung.

Chính phủ. (2025b). Nghị định số 263/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhân lực, nhân tài và giải thưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hà, T. (2024, ngày 29 tháng 9). Khi ứng viên phó giáo sư bị gỡ bài báo khoa học. Tuổi Trẻ Online.

Lệ Thu. (2025, ngày 21 tháng 5). Phó giáo sư bị gỡ bài báo đứng tên cùng học sinh: Trường đại học nói gì? VietNamNet.

Nghiêm Huê. (2023, ngày 9 tháng 10). Cần siết liêm chính trong bài báo khoa học. Báo Tiền Phong.

Nghiêm Huê. (2026, ngày 7 tháng 5). Hệ lụy “đếm” bài báo khoa học. Báo Tiền Phong.

Ngọc Diệp. (2024, ngày 19 tháng 10). Xây dựng văn hóa liêm chính: Một nan đề của khoa học Việt Nam. Tạp chí Tia Sáng.

Quốc hội. (2025). Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15).

Quý Hiên. (2026, ngày 29 tháng 3). Bộ GD-ĐT sẽ xác minh tính liêm chính của cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật. Báo Thanh Niên.

VOV2. (2023). Cần có bộ quy tắc về liêm chính khoa học. Đài Tiếng nói Việt Nam.

--- Bài viết này có hữu ích không? ---

Nhấn sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình 0 / 5. Số đánh giá: 0

Chưa có đánh giá.

Có thể bạn quan tâm