Khi quyền trả phí xuất bản trở thành một thứ để mặc cả

Truy cập mở, hay Open Access, từ lâu đã được trình bày như một câu chuyện về sự công bằng. Ý tưởng ban đầu rất rõ ràng và đáng ủng hộ: kết quả nghiên cứu, phần lớn được tạo ra bằng tiền công, nên được mọi người đọc miễn phí, thay vì nằm sau những bức tường phí đăng ký đắt đỏ. Để hiện thực hóa điều đó trong mô hình phổ biến nhất hiện nay, ai đó phải trả một khoản phí xử lý bài báo, thường gọi tắt là APC, và khoản này với nhiều tạp chí dao động từ vài trăm tới vài nghìn đô la cho một bài (Borrego, 2023).

Ảnh: Open Source via pix4free | CC BY-SA 3.0

Một bài viết công bố tháng 4 năm 2026 trên tạp chí Accountability in Research, của nhóm Giovanni Spitale, Federico Germani và Nikola Biller-Andorno thuộc Đại học Zurich, chỉ ra rằng chính cơ chế tài chính tưởng như trung lập này đang tạo ra một rủi ro liêm chính ít được nói tới. Họ gọi nó là sự trích rút giá trị trong truy cập mở (value extraction in Open Access) và định nghĩa là việc dùng quyền tiếp cận nguồn chi trả phí APC như một đòn bẩy để giành quyền tác giả, hoặc quyền tác giả liên hệ, mà không có đóng góp trí tuệ tương xứng (Spitale et al., 2026).

Một cơ chế, không phải vài cá nhân

Lập luận của nhóm tác giả bắt đầu từ một thay đổi cấu trúc. Khi phí APC còn do từng nhà nghiên cứu hoặc nhà tài trợ của họ trực tiếp chi trả, mô hình đó tuy bất công nhưng minh bạch, và quan trọng hơn, nó tách bạch khá rõ trách nhiệm tài chính với câu chuyện ai xứng đáng được đứng tên (Spitale et al., 2026). Người đọc nhìn vào là biết ai trả tiền, và việc trả tiền không bị nhầm lẫn với việc đóng góp ý tưởng.

Các thỏa thuận giữa nhà xuất bản và các trường đại học đã làm thay đổi bức tranh đó. Phí APC ngày càng được chi trả ở cấp tổ chức, được quản lý tập trung và thường vô hình với từng tác giả. Hệ quả, theo nhóm tác giả, là quyền tiếp cận nguồn tiền này biến thành một loại tài sản của tổ chức, một dạng vốn học thuật phân bố không đều giữa các cơ sở, các quốc gia và các giai đoạn sự nghiệp (Spitale et al., 2026). Người làm việc tại một trường có thỏa thuận tốt có thể xuất bản gần như không vướng bận gì về chi phí. Người ở một trường nhỏ hơn, hoặc ở khu vực Nam bán cầu, thì không như vậy (Kwon, 2022).

Từ chênh lệch đó nảy sinh một logic giao dịch. Quyền chi trả phí APC có thể được đưa ra như một đóng góp đủ để biện minh cho việc đứng tên, hoặc để nắm quyền kiểm soát quá trình xuất bản. Nhóm tác giả nhấn mạnh rằng vị trí tác giả liên hệ đặc biệt dễ bị nhắm tới. Đây là đầu mối làm việc với nhà xuất bản, với ban biên tập và với quy trình thanh toán APC, đồng thời là vị trí mang ý nghĩa biểu trưng về vai trò dẫn dắt và quyền sở hữu công trình. Khi vị trí ấy được trao chủ yếu vì một người lo được khoản phí, ranh giới giữa hỗ trợ hậu cần và lãnh đạo trí tuệ trở nên mờ nhạt (Spitale et al., 2026).

Điểm mấu chốt trong cách nhìn của họ là không nên quy hiện tượng này về vài cá nhân cá biệt. Nó được nuôi dưỡng bởi cả một cấu trúc gồm ba yếu tố hội tụ. Văn hóa công bố hay là chết tưởng thưởng số lượng bài và uy tín tạp chí. Các thỏa thuận Open Access tập trung quyền xuất bản về cấp tổ chức. Và các vị trí tác giả, nhất là tác giả liên hệ, mang giá trị biểu trưng cũng như giá trị sự nghiệp lớn một cách không cân xứng (Hicks et al., 2015; Spitale et al., 2026). Khi ba yếu tố này gặp nhau, quyền tác giả có nguy cơ trở thành một thứ tiền tệ có thể tích lũy và đem trao đổi.

Một khoảng trống trong các bộ quy tắc

Một phần khiến hiện tượng này khó xử lý là các bộ quy tắc hiện hành về quyền tác giả không được thiết kế để nhìn thấy nó. Hướng dẫn của ICMJE và COPE đều giới hạn tư cách tác giả ở đóng góp trí tuệ và loại trừ rõ ràng đóng góp tài chính, dựa trên một giả định rằng chuyện tiền bạc nằm bên ngoài các thương lượng về quyền tác giả (Spitale et al., 2026). Giả định đó từng hợp lý. Nhưng khi quyền tiếp cận hạ tầng tài chính trở thành một dạng quyền lực có khả năng định hình một cách hệ thống ai được đứng tên, thì việc đơn giản loại trừ đóng góp tài chính khỏi định nghĩa lại khiến các bộ quy tắc bỏ sót chính cơ chế đang vận hành.

Đây là điều mà nhóm tác giả mô tả như một điểm mù đạo đức. Các hệ thống đánh giá thường tưởng thưởng kết quả đầu ra, gồm số bài, số trích dẫn, uy tín tạp chí, nhưng gần như không xét tới quá trình tạo ra những kết quả đó, cụ thể là các vị trí tác giả đã được giành lấy bằng cách nào (Moher et al., 2018; Spitale et al., 2026). Trong khoảng trống giữa việc tuân thủ về mặt hình thức và sự công bằng về mặt thực chất, một hành vi có thể hoàn toàn đúng câu chữ của quy định mà vẫn khai thác được sự bất cân xứng của hệ thống.

Hệ quả phân bổ của hiện tượng này cũng đáng lưu tâm. Những người dễ tổn thương nhất, theo nhóm tác giả, là các nhà nghiên cứu trẻ chịu sức ép công bố lớn nhưng có ít vị thế thương lượng; các nhà nghiên cứu ở những cơ sở thiếu nguồn lực; và giới học giả ở Nam bán cầu, nơi việc được hỗ trợ phí APC vẫn còn chắp vá bất chấp những lời lẽ về tính bao trùm toàn cầu (Spitale et al., 2026). Trong những bối cảnh đó, một lời mời được gói trong ngôn ngữ hỗ trợ hoặc hợp tác trên thực tế có thể là một lựa chọn mang tính ép buộc: chấp nhận một thỏa thuận đứng tên bất cân xứng, hoặc chịu thiệt về cơ hội công bố. Nhóm tác giả lưu ý rằng điều này có nguy cơ tái tạo lại đúng cái động lực mà Open Access lẽ ra muốn xóa bỏ, khi lao động trí tuệ chảy từ vùng ngoại vi còn tín nhiệm thì dồn về những nơi kiểm soát hạ tầng.

Vấn đề không nằm ở Open Access

Cần nói rõ một điều mà chính nhóm tác giả cũng nhấn mạnh. Vấn đề không phải là Open Access, mà là cách việc thể chế hóa nó có thể bị khai thác trong một hệ thống khuyến khích đang lệch (Spitale et al., 2026). Phần lớn các thỏa thuận hỗ trợ phí xuất bản ra đời với mục tiêu chính đáng, và rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng chúng một cách hoàn toàn ngay thẳng. Điều bài viết chỉ ra là một rủi ro mang tính cấu trúc, chứ không phải một cáo buộc nhắm vào mô hình hay vào bất kỳ ai.

Nhóm tác giả đề xuất các biện pháp ở ba cấp độ. Ở cấp cơ sở, các trường và viện có thể nêu rõ rằng việc tiếp cận nguồn chi trả phí APC, hay việc hỗ trợ thủ tục xuất bản, tự nó không đủ để biện minh cho tư cách tác giả nếu thiếu đóng góp trí tuệ thực chất. Một cách làm cụ thể là tách bạch về quy trình, sao cho phần kê khai đóng góp của từng tác giả được xem xét độc lập với khâu phê duyệt kinh phí, và ghi nhận vai trò các tác giả từ sớm bằng một khung phân vai chuẩn như CRediT, trước khi bàn tới chuyện ai lo phí (Allen et al., 2019; Spitale et al., 2026).

Ở cấp nhà xuất bản, nhóm tác giả lưu ý rằng các nhà xuất bản, nhờ nhìn được mẫu hình tác giả trải rộng nhiều tạp chí và nhiều cơ sở, có vị trí thuận lợi để nhận ra những bất thường có hệ thống mà từng cơ sở khó thấy. Họ cũng có thể đưa vào những tuyên bố minh thị rằng việc chi trả phí APC không đóng vai trò gì trong các quyết định về quyền tác giả, dù bản thân nhóm tác giả thừa nhận những tuyên bố như vậy chủ yếu có tác dụng thiết lập chuẩn mực hơn là răn đe mạnh (Spitale et al., 2026).

Ở cấp hệ thống, điểm mấu chốt vẫn quay về cách đánh giá. Chừng nào một công bố, và cụ thể hơn là một vị trí tác giả liên hệ, còn được dùng quá trực tiếp làm thước đo cho năng lực và vai trò lãnh đạo trong tuyển dụng, thăng tiến và cấp kinh phí, chừng đó vẫn còn động lực để biến quyền kiểm soát hạ tầng xuất bản thành lợi thế về mặt chỉ số (Spitale et al., 2026). Các phong trào cải cách đánh giá nghiên cứu, như DORA, được nhóm tác giả nhắc tới như một hướng nên tích hợp thêm những biện pháp tách quyền tiếp cận hạ tầng ra khỏi tín nhiệm học thuật.

Cuối cùng, nhóm tác giả nhắc rằng mô hình thu phí APC chỉ là một nhánh trong cả một hệ sinh thái truy cập mở. Vẫn còn những hướng khác, như mô hình kim cương không thu phí tác giả, hay việc phổ biến qua các kho lưu trữ, có thể giảm bớt mức độ mà hạ tầng xuất bản bị biến thành một nguồn lực để mặc cả (Spitale et al., 2026).

Cũng cần cẩn trọng ở chiều ngược lại. Nghiên cứu của nhóm Zurich chủ yếu mang tính khái niệm. Nó nêu ra một rủi ro và lý giải cơ chế, chứ chưa đo lường mức độ phổ biến của hiện tượng. Bản thân các tác giả nói rõ rằng các dấu hiệu bất thường trong mẫu hình đồng tác giả, chẳng hạn những liên kết hợp tác thưa thớt hoặc sự tập trung lặp lại của vị trí tác giả liên hệ, không phải là bằng chứng của sai phạm, bởi chúng cũng có thể phản ánh hợp tác liên ngành hợp lệ, các consortium lớn, hoặc đơn thuần là lỗi dữ liệu trong việc định danh tác giả (Spitale et al., 2026). Họ đề xuất rằng những tín hiệu như vậy chỉ nên được dùng như bước sàng lọc ban đầu cho một quá trình kiểm tra kỹ hơn, chứ không phải để kết luận.

Giá trị của bài viết nằm ở chỗ nó đặt tên cho một cơ chế sớm, khi hiện tượng còn chưa kịp trở thành một nếp quen khó gỡ. Open Access được xây dựng để tháo bỏ rào cản và mở rộng sự tiếp cận. Việc nó được triển khai trong những hệ thống đánh giá nặng về chỉ số, và không mấy để ý tới quyền lực gắn với hạ tầng, có thể khiến nó vô tình củng cố lại chính những thứ bậc mà nó muốn xóa bỏ. Nhìn thấy điều đó trước vẫn tốt hơn là nhận ra nó sau.

Tài liệu tham khảo

Allen, L., O’Connell, A., & Kiermer, V. (2019). How can we ensure visibility and diversity in research contributions? How the Contributor Role Taxonomy (CRediT) is helping the shift from authorship to contributorship. Learned Publishing, 32(1), 71–74.

Borrego, Á. (2023). Article processing charges for open access journal publishing: A review. Learned Publishing, 36(3), 359–378.

Hicks, D., Wouters, P., Waltman, L., de Rijcke, S., & Rafols, I. (2015). Bibliometrics: The Leiden Manifesto for research metrics. Nature, 520(7548), 429–431.

Kwon, D. (2022, ngày 16 tháng 2). Open-access publishing fees deter researchers in the Global South. Nature.

Moher, D., Naudet, F., Cristea, I. A., Miedema, F., Ioannidis, J. P. A., & Goodman, S. N. (2018). Assessing scientists for hiring, promotion, and tenure. PLoS Biology, 16(3), e2004089.

Spitale, G., Germani, F., & Biller-Andorno, N. (2026). The phenomenon of ‘value extraction’ in Open Access. Accountability in Research.

--- Bài viết này có hữu ích không? ---

Nhấn sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình 0 / 5. Số đánh giá: 0

Chưa có đánh giá.

Có thể bạn quan tâm